Quan niệm của triết học mác về quyền con người

  • Số trang: 87 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 11 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI H ỌC Q U Ô C GIA HÀ NỘI T R Ư Ờ N G ĐẠI HỌC K H O n HỌC x n HỘI v n NHÂN VĂN • • • • HOÀNG VĂN NGHĨA QUAN NIỆM CỦA TRIÊT HỌC MÁC VÊ QUYỂN CON NGƯỜI Chuụêrt n g à n h : &IÍL íiíịẨũxL (Luiị. oủi Ịùèjt ehứềUỊ, u/ỉ- chủ ntịỉtĨẨL (Luiị. ưừt Lieh UJ. Mõ sô': 5.01.02 IUỘN VfiN • thọc * Sĩ KHOn HỌC TRI6T HỌC • • Người hưóng dan khoo học : PGS. H À N Ộ I-1 9 9 9 BÙI THANH QUAT MỤC LLC T rang A. MỎ ĐẦU. 3 B. NỘI DUNG: 7 Chương 1. QUAN NIỆM CỦA TRIẾT HỌC MÁC VỀ CON NGƯỜI V À GIẢI P H Ó N G C O N N G Ư Ờ I. 1.1. 7 Q u a n n iê m c ủ a m ộ t s ố n h à tr iế t h o c tiê u b iêu p h ư ơ n g T á y trước M ác vê con người và giải phóng con ngươi. 1.1.1. Thời kỳ cổ đại 1.1.2. Thời kỳ Trung cổ 1.1.3. Thời kỳ Phục Hưng, Khai sáng và Cận đai 1.2. Quan niệm vé con người và g iả i phóng con ngươi 9 10 ì5 trong triết hoc M ác 1.2.1. Con người-“một động vật xã hội” 1.2.2. Bán chất con nsười 1.2.3. Phương thức tồn tại cùa con người 1.2.4. Mối quan hệ giữa cá nhàn và xã hội 1.2.5. Về pham trù “tha hoá’\ “tha hoá của lao động”, “tha hoá về sản phẩm’’ và “ tha hoá con nơười về nhàntính”. Chương 2. 25 QUAN NIỆM VỂ QUYỂN CON NGƯỜITRONG TRIẾT H Ọ C M Á C 2.1. [5 18 22 24 N g u ồ n g ó c và b á n c h á t q u y ề n c o n n g ư ơ i. 30 30 2.1.1. Nguồn gốc 30 2.1.2. Bản chất quyền con nsười 32 2.1.3. Quyền con nơười và quyền công dân. 34 2.2. N ội dung của quvến con người 2.2.1. 2.2.2. 2.2.3. 2.2.4. Quyền Quyền Quyền Quyên 36 sống ị quyền tồn tại). vé kinh t ế về chính trị vể văn hoá Chương 3. 36 38 42 47 GIÁ TRỊ LÝ LUẬN VÀ THƯC TIỄN CỦA QUAN NIỆM VỂ Q U Y Ể N C O N N G Ư Ờ I T R O N G TRIẾT H Ọ C M Á C 3.1. M ác và Ángghen đ ã dặt nén móng xàv dưng hệ thống lý luán vê quyền con người và c h ỉ ra những thuộc tính cơ bản của nó. 3.1.1. Khái niệm "quyền con người" 3.1.2. Tính giai cấp của quyển con người 3.1.3. Tính nhũn loai của quyển con nẹười 3.1.4. Tính phổ biến và tính đặc thù của quyên con người. 55 55 58 60 62 3.2. M ác và Ángghen đ ã vach ra con đương hiện thưc hoá quy én con ngưòỉ. 3.3. O u a n n iệ m c ủ a tr iế t h ọ c M á c vè q u y ê n c o n n g ư ờ i là 55 65 Cữ sò phưong pháp luàn khoa hoc của việc nhãn thức va giải quyết vấn đê quyến con ngưòi trong thời đai Iigav nav- 72 c. KẾT LUẬN. 78 Đ DANH MỤC TÀI L I Ệ U THAM KHẢO. 82 A. M ỏ ĐÂU: 1. Tính cáp thiết của đé t à i : Con người và quyên con người là một trong những vấn đê then chốt của moi thời đại trên cả lĩnh vực lý luận và thực tiễn, là vấn đê trunơ tàm cua mọi cuộc cách mạng và tiến bộ xã hội. Cùng với sư nghiệp đổi mới toàn diện của đất nước hiện nay, chiến lược con người được đặt lên hàng đấu của sư quan tâm chú ý của Đảrm và Nhà nước ta. tronc đó quyền con người được xem như là vấn đế trung tâm cua chiến lược áy. Chỉ thị của Ban Bí thư ngày 12/7/1992 khẳng định rõ vấn đề quvền con người như sau: "Tổ chức nghièn cứu đề tài khoa học về quyền con người, đặc biẽt cần phát triển các tư tường nhân đạo, giải phóng con người của chủ nghĩa Mác-Lê nin, của chù tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, làm rõ sự khác nhau giưã quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lẻ nin và Đảng ta với quan diểm tư sản về quyền con người. Trẽn cơ sớ đó, xây dưns hệ thống các quan điểm cùa dảng ta về quyền con người, làm cơ sờ cho công tác tư tướng và việc hoàn thiên pháp luật và các chính sách về quyên con người, tao thế chu động chính trị trong cuộc đấu tranh về quvèn con người trẽn trường quốc tê". Quyền con neười là môt vấn đế rộns lớn, rất phức tap và hèt sức nhậy cám, nhát là trong tình hình hiện nay- sau sư sup đổ cùa các nước XHCN ớ Lièn xô cũ và Đỏng Âu, trước sư tấn còng của các lưc lương thù đich trong chiến lươc " diẻn biến hoa bình”, dưới " chièu bài nhàn quvên" dể can thiẽp vào còns việc nội bò cùa các nước horm làm suy sụp hoàn toàn các nước XHCN. Hién rhưc đó đòi hoi phải nghièn cứu sâu sác và có hệ thông về mặt lý luận, từ nhiều góc độ và khía canh khác nhau cùa các khoa học chuyên biệt như : Triết học, Luật học, Chính trị học, Sừ học, Xã hội học, Văn hoá học,... Hơn nữa vấn đề con người và quyển con người trong học thuyết Mác đã từ lâu trờ thành mũi nhọn công kích từ phía kẻ thù nhầm phù nhàn giá trị nhàn ván chân chính vốn có của chủ nghĩa Mác. Vì vậy, việc nshièn cứu một cách đầv đủ và có hộ thốn 2 những quan điểm, tư rường của các tác gia kinh điển về con người và các điều kiên cơ bán nhằm giải phóng con nuười, hiện thưc hoá quyên con ngưòi là một vèu càu cấn thiết và cấp bách. Đăc biệt là. trong tình hình hiện nay, Đang và Nhà nước ĩa khẩns định, sư nghièp phát triển kinh lế-xã hội, phát triển đất nước, trước hết phải là sự nghiệp phát triển vì con người, do con người và cùa con người. Đó cũng ià lv tuớne cao đep mà toàn Đáng và toàn dàn ta phấn đấu vì inuc tiêu "dân 2 iàu, nước manh, xã hội Cỏn2 báns và vãn minh”. Đáng và Nhà nước ta cũng xác định rãng, Chu nghĩa Mác-Lè nin và tư tường Hổ Chí Minh là nén tảng tu tương và là kim chi nam cho sự nghiệp phát triển đất nước gắn VỚI sư nghièp phát triển và mai phóng con ngươi. Điêu dó. mót lãn nữa khán i Ạ định rằng, việc trở lại nghiên cứu một cách có hê thốnơ và sáu sắc rư rườns tnết học của các tác gia kinh điển về con người và quyền con người ià vẽu cáu cáp rhiết va quan trọng. 2. Tinh hình nghiên cứu : Từ khi thực hiện đường lối đổi mới đến nav, ờ nước ta đã có nhieu nhà khoa học nghiên cứu về vấn đề quyển con người. Đây là kết qua tất vếu của quá trình đổi mới tư duy và đổi mới toàn diện đất nước và nhâm chốnc lại những luận điêu vu Idiỏng. xuyẽn tạc, tấn công về mặt nhân quyền' từ các thế lưc phản động. Hàng loạt các chươne trinh và đề tài nghiên cứu về quyền con người đã dược triển khai và thưc hiện, các cuộc hội thảo quốc tế và quốc gia lớn đã được tổ chức tai Việt Nam. Đó là: 1. “ Chủ nghĩa xã hội và quvền con người”- Hôi thảo quòc tế tronơ khuón k±tò các nước XHCN, tại Học viện CTQG HCM nám 1989; 2. " Quyền con người trong sự nghiệp đổi mới ờ Việt Nam"- Hội thảo khoa học 12/1990 tai Học viện CTQG HCM; 3. "Nhủn quyền-quan điểm, thưc trang và những bảo đảm thưc hièn"-Hội thao lchoa học 3/1994 tai Học viên CTQG HCM; 4. Chương trình Khoa học Cône; nchè Quốc gia KX 07. dể tui 16 : "Các đièu kiện nao đảm quyển con người, quyền công dân trong còng cuộc dối mơi đất nước" do GS.PTS Hoàng Vãn Hảo làm chù nhiêm đề tài; 5. Hai đề tài cấp bộ : 1- " Quyến kinh tế -xã hội va cơ chê bảo đảm quyen kinh tế xã hội ở nước ta trong điều kiện hiên nay”, thưc hiên nãm 1997; 2-" Quvèn dàn sự- chính trị và cơ chế bảo đảm trong công cuộc đổi mới hiên nay", thưc hièn năm 1998, do GS. PTS Hoànơ Văn Hảo làm chủ nhiệm ; 6. Để tài cấp cơ sờ: " Quan điểm iMác-Lê nin vể quyên con naười. quyén cònơ dân ' do GS.PTS Hoàng Vãn Hảo làm chủ nhiệm, thực hiện năm 1998; 7. Đề tài cấp cơ sờ : “ Tư tường Hổ Chí Minh về quyền con người'’, do PTS. Cao Đức Thái làm chủ nhiệm, thực hiện nãm 1998-1999. 8. Nhiều luận án PTS thuộc chuyên ncành !vhoa học khácnhau như Luật học, Triết học, Chính trị học,...Những luận án đã bảo vè thành Cỏn2 từ góc độ khoa noc Triết học, đó là : "Tư duy chính trị vể quyển con người nhìn từ khía canh Triết học" của Thuật n g ữ “ n h â n q u y ể n ” ( từ Há n - Vi ệt ) và " q uyể n con ne ười " < từ Viéti là những từ d ồ n u nuhĩa. vì váy tư day được d ù n g n h ư nhau. 4 Nguyễn Vãn VTnh; 02 luận án về " Tính phổ biến và tính đặc thù của quyển con người” của Vũ Hoàiie Công và của Phạm Văn Khánh.... 9. Và nhièu bài báo, tạp chí, sách chuyên khảo vé nhàn quyền đã được đăng và xuát bản. Nhìn chung các công trình khoa học trên đã phàn tích một cách khái quát, chung nhất và làm sáng tỏ được vấn đề quyền con người trong lịch sừ tư tường nhàn loại và trong tiến trình bảo đảm và hiện thực hoá quvền con người. Tuv nhièn, do nội duns phong phú, rộng lớn và phức tap của bản thân quyền con nơười. nhiều vấn đề cụ thể cần phải dày công nghiên cứu. Hơn nữa, con người và quyền con naười là vấn để xuyên suốt toàn bộ sự phát triển của xã hội loài người, nó được phát triển không nsừng cả về mật lượng và về mãt chất. Trong khuôn khổ của một luân văn thac sĩ va náng lưc của ban thàn, tác giả mạnh dạn bước đầu nghiên cứu : "Quan niệm của triết học Mác về quỵén con người". Hy vong ràng, kết quả nghiên cứu ban đầu này sẽ góp phần vào làm sáng tỏ ván để quyền con người vẽ mặt lý luận và thưc úẻn. 3. Pham vi cùa luan ván : - Đối tượns; : Vấn đề con người và quvền con nsười của chu nghĩa Mác. - Pham vi : Luận vãn chỉ tâp trung đi sâu nshièn cứu quan niêm cùa triết học Mác về quyền con người giai đoan C.Mác và Ph.Ànaghen. 4. Mục đích, nhiệm vu nghiên cứu của luân vãn: - Mục tiêu của luận văn là làm sáng tỏ vấn đề quyền con người trong triết hoc Mác. - Để đạt được mục tiêu đó, luận vãn tập trung giải quvết những nhiệm vụ co bản sau : 1 . Thứ nhất : Làm sáng tỏ quan niệm của triết học Mác về con người và giải phóng con người. 2. Thứ lĩai : Làm sáng tỏ quan niệm về quvèn con người trong triết học Mác. 3. Thứ ba : Làm sáng tỏ giá trị thưc tiẻn cùa quan mèm về quyển con người trona triết học Mác. 5. Cơ sớ lý luàn và phương pháp nghiên cứu * Cơ sỏ lý luận: Luận văn dựa trên các quan điểm iý luận của chủ nghĩa Mác-Lè nin ( chù yếu ;à các tác phẩm của Mác và Ángghen) và tư rường Hô Chí Minh, các văn kiện của Đane và Nhà nước về con người và giải phóng con người. Luận vãn cũng sử dụng một sò tài liệu ngoai nước va tron2 nươc có liên quan đên đề tài. * Phương pháp nghiên cứu : Dựa trên phương pháp luân cùa chủ nghĩa duv vật bièn chứng và Chu nghĩa duy vật lịch sử để làm sảng tó những nội dung để càp trone luận vãn. Tronơ dó, đặc bièt chú ý các phương pháp lôgic-lịch sư. phàn tích-tổng hơp, quy nap-diẻn đich.... 6. Cái mới của luán vãn : - Góp phần khảng định tiền dê của quan niêm về quyén con người trong triết học Mác chính là quan niẽm về con người và giải phong con nsười. -Góp phần khẩníĩ định triết học Mác là triết hoc nhàn vãn chân chính nhất, là triết học nhân bán hièn thưc hay chính là triết hoc thưc tiẻn-cách mang vê sư giãi phóng con người và quvén con người. - Manh dan dưa ra một khái niệm vè quyén con người trèn quan điếm mác-xít. 7. Ý nghĩa lý luận và thưc tiẻn của luán vãn: - Luận vãn góp phẩn vào cuộc đấu tranh rư tươne trẽn lĩnh vưc quvén con người mà các thế lực thù đich và những phàn cử phản động đana chĩa mũi nhọn vào Chủ nahla Mác -Lênin và tư tuờns Hồ Chí Minh - nền tang tư tươn2 và kim chi nam cho moi hành động của Đảng và Nhà nước ta. - Luàn văn có thể dùnơ làm tài liêu tham khảo cho viêc nghiên cứu, í làn 2 dav về những vấn đề liên quan đến dân chù, quyèn con nơười và chú nghĩa xã hội. 8. Kết cáu cùa luán van: Ngoài phần mơ dấu và kết luùn, !uàn vãn sòm 03 chương, 07 tiết và phân danh mục tài liệu tham kháo. 6 B .N Ộ I DƯNG: C h ư ơ n g 1. Q U A N NIỆM C Ủ A TRIẾT H Ọ C M Á C VỂ C O N NGƯÒI V À G IẢ I P H Ó N G C O N NGƯÒI Triết học Mác là triết học luận giải về con người và các điều kièn 2Íải phón2 con người trén cở sớ hiện thực và khoa học dựa trên lập trườns của chủ nghĩa duv vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trên tinh thần kế thừa có chọn lọc những giá trị tinh hoa của nhân loại, với bộ óc thiên tài Mác và Ảneghen đã khái quat lên một quan điểm sâu sấc và toàn diện, đánh dấu một bước nhảv vọt về chất trong quan niệm vể con người và giải phóng con người, về điếu kiện hiên thưc để giúp con nơười khắc phuc mọi sư tha hoá và bảo đảm quyền và tự do cơ bản một cách đích thưc cho mỏi con người. Quan nièm của Triết hoc Mác về con người và giải phóng con người là hạt nhàn, là tiền đề cùa quan niệm về quyển con người. Vì vậy, chỉ có thể xuất phát từ nhữns quan niệm về con người và giải phóng con người mới có thể hiểu được quan mẽm của triết hoc Mác vé quyèn con ne ười. Tuy nhièn, để hiểu được quan mém của triết học Mác ve con người và giải phóng con người, cán phái đi theo lô gích vàn đông cùa tư duy nhan loại troim quá trình nhận thức và phán ánh về hiên thưc khách quan. Lô-gích đó là sự phát triển một cách liên tuc cùa các quan niêm triết học vé con neười và giái phóng con rmười trong lịch sử nhàn loại, mà ớ đó triết học Mác là đính cao. Hav nói cách khác, triết hoc Mác về con người và giải phóng con người là biểu hiên cao nhất và khái quát nhất của các quan mèm triết học trước đó về vấn đề nàv, và vì Vày, như He-gel đã òrníĩ nói 'Cái lôgích chính là cái lịch sừ được rút gọn", chi có thể hiếu được triết hoc Mác trẽn cơ cớ hiểu dươc các trường phái triết học trước Mác. 1.1. Ouan n iệ m cùa một sò nhà triết học tiêu biếu phương Táy trước M ác vé con người va gidi phóng con ngươi. 1.1.1. Thời kỳ cò d ạ i : Ngay từ thời cổ đại các nhà triết học đã COI trọng vấn đề con người, tựu chunơ ho dèu khẳng định, con nsười là tinh hoa cao quv nhất của tao hoá. Tư tướng ấy thể hiên rõ trong luận điểm nổi tiếng của Protagor : "Con naười là thước đo cua tất thảy mọi vật" (45, 178); Socrat coi triết học có nhiệm vu tối quan trong là khơi dây " tư V thức của con nsiười về chinh bàn thân minh", ôn g thức tinh con người, và do đó chính là khẳng 7 dịnh những vai trò của cá nhân và sư giải phóng cá nhàn trons luận điểm nổi tiếng : ‘Con naười. hãy nhận thức chính mình:’ [46, 182],... Quan niệm vê con người và bản chất của con người cùa các nhà triết học thời kỳ này còn rất trừu mợng, chỉ đat đến sư cu thể một cách rất ngày thơ và chất phác. Các nhà triết học thời kỳ này, xuất phát từ chỗ cho rãng bản thể của vũ trụ là một sự vật- cụ thể-cảm tính, do đó toàn bỏ mọi sư vật hiên tượng trong; giới tư nhiên ( cả con nsười cũng vây) là một dang biểu hiện cụ thể của sự vặt cụ thể -cảm tính đó. Họ đều quv ban chất của con người và đồng nhất với bản chất của sư vật hiện tượns khác. Vì vậy, bản chất của con người hoặc là một dạng cụ thể của vật chất tao thành, con người là những con người trong sư tồn tại hiên thưc-cảm tính và đặc biệt là rất trưc quan ( chẳng hạn, Talét: bản chất của con người là nước, Anxagor: không khí. Hêraclít: lửa.....) hoặc là một cái gì đó irưu tương, không xác định, phi hình hài ( như: Anximen, bản chất cùa con người là '‘apeưon” - '‘cái không xác định’’. Pitagor là “con số”),... Do Vày, quan niêm về quyén con người của các nhà tư tưởng ờ thời kỳ này là cũng rất trưu tuợnơ, và thậm chí nhièu người trong sỏ ho cho rãne, quyên cúa con ncười chi tòn tại ớ trong những con người thuộc tầng lớp thông trị xã hội, còn lai nhữns; người bị trị thì khòng có quyền ( vì thưc tế ho không dươc COI là con người, ma chi là mót còng cu biết nói). Sở dĩ gọi là quyền trừu tươne, ờ thoi kỳ này, là vì nó vẫn còn chưa phải la quvền thuộc vé nhũng cá nhàn-cu thể, riêng biệt, bất kỳ nào khác, ma thuộc về con nsười nói chung, con người trừu tượng; là vì nó lchônơ thuộc về con người với ban chất xã hội, bán chát hiện thực chân chính của nó, trong tính phổ biến cùa nó ; mà thuộc vé con người trong bản chát chính trị thuán tuý, trong sư đạc quvén và cá biệt của nó. Trong tác phẩm "Chính trị học", Aristote viết: '' Kẻ này là nỏ lê. người kia là tự do, là chủ nô, điều đó là đúng, là họp lý". Như vậy, Aristote đã đồng nhất quyền con người với đặc quyền, hơn nữa còn bảo vệ chế độ đặc quvền đó, COI nó là hơp vói "luật cua tư nhiên". Như vậy, thời kỳ cổ đại, với sự thống trị giữa người với người- như là một hình thức đầu tiên trong lịch sử cùa xã hội loài người -của giai cáp chu nò đối với tầng lóp nô lê, đã mờ đầu cho "sự tha hoá", theo nghĩa ỉà đánh mất bản chát minh, là sự tha hoá đầu tiên của con người về nhân tính và do đó của quyền con người. Quan điểm của các nhà triết học cổ đại vé con người và quyền con người nhìn chung đều thể hiện rõ lập trường cùa siai cấp thốne trị, coi bát bình đang là lẽ tự nhièn, và cá nhãn với tư cách là cône dân của nhà nước chi có phục tùns và cần phái phuc tùng, dó mói là côns !v. Theo Platon nha nước xuất hiện từ sự đa dạng hoá cùa nhu càu con ncười và từ dó xuất hiên các dang phán 8 công lao đông để thoả mãn các nhu cầu ấy. Vì vậy, trong xã hội cán phải đuv trì các dạng khác nhau, và do đó không thể có sự bình đẳna hoàn toàn giữa mọi người, ông khảng định rằng : chân lý là ở chỗ, mỗi hạng người làm hết trách nhièm cua mình, biết sống đúng với tầng lớp của mình, nói cách khác là phải biết phận mình, con người sống vì nhà nước chứ không phải nhà nước sống vì con người. Trong quan niệm của các nhà triết học duy vật và duv tâm có đại, chi có quan niệm của Aristote ỉà chứa đựng những yếu tố duy vật và biẽn chứng trone luân điểm nổi tiếng : “con người là một động vật chính trị”, ờ đây, Aristote muốn tchãng định đặc tính con người là tính chính trị của nó. Nghĩa là muốn nhấn mạnh tính cộng đồng -còng dân. Và vấn đề là con người không phải chỉ vì con người [chông thể sống tách biệt với đồng loại mà còn vì người cône dân có được sức manh, tồn tại được là nhờ ờ cộng đổng i mà ông gọi đó là nghĩa vụ chiến đấu), và vì rằng thành thị, thành bang chứ khôna phải nông thôn là nơi cư trú của con người tự do. Tư tương biện chứng vè con người là sự kết tinh của tính tự nhiên và xã hội ( ở đây là chính tri) đã đươc xem là quan niêm tiến bò và cách mạng cùa thời kỳ cổ đại, quan niệm đó sau này đã được các nhà triết học Phuc hưng., Khai sáng và Cận đại kế thừa và phát triển, nhất là các nhà triết học mác-xit. 1.1.2. Thời kỳ Trung cò: Mặc dù quan niêm về con người ở thời kỳ này đã đươc thần thánh hoá trơ thành con người-tôn giáo, con người-Thượng đế, thãn thánh, Chua, là con người phi hièn thực,...nhưng các nhà triết học thời kỳ này đã bước đầu đi sáu vào bản chất cua con người ( mặc dù là bản chất Chúa, thánh thần; bầng cách tách con người khòi thế giới sư vật cảm tính-trực quan để xem xét. Tuy nhiên, đó cũng chỉ là quan mèm về con nsười không những trừu tượng mà còn là phi hiện thưc và thần thánh hoá. Vì vậy, quyên con người, ờ thời kỳ này cũng được coi là quyền trừu tượng, hơn thế nữa là quvền-phi hiện thưc và quvền của con người là do Chúa ban phát, là tặna phẩm cùa Đấng siêu nhiên, Thượng đế. Trong xã hội, sư " bình đẳng", duy nhất mà đao Cơ đốc suv tôn, là sư bình đảng của các linh hồn trước Chúa-một sư bình đàng trên trời-hư vò va tuyệt nhiên khỏng đem tới một sự bình đảns nào ờ trẽn trần gian-hiện thưc cả. Trái lai. sư bình đẩns ờ trèn trời ấy chỉ là một sự đền bù-hư ảo cho đa số những linh hỏn bát hanh, bị trị, chi là sự an ùi cho sự bát binh đáng, cho sự nỏ dịch và thống tri con người. Đây có thể nói ìà hình thức thứ hai của sự tha hoá con người về nhân tính, về bản chát, và do đó của sư tha hoá vể quvền con người. St.Augustin, nhà triết học- thân học (the kỷ thứ IV-V), đã 9 tích cực bảo vệ sự bất bình đẳng xã hội, cho đó ỉà do Chúa, theo ỏns: “Chúa ban cho quyển hường sung sướng vĩnh viên, và một số neười khác thì phải khổ vĩnh viẻn” [46, 211]. Ồng cũng khẳng định răng quyền tư do của ý chí, là thực chấr của mọi hoạt đôna của đời sống tinh thần, ồ n g viết : "Chúa đã nói một lần và đã nói tất cả, và V chí tư do của chúng ta phải nằm trong trật tự của những nguvèn nhàn, trật tư đó ià nãm trong ý Chúa Đôì với Thomas D ’equin , nhà triết học-thãn học ra sức bảo vè giáo hội và nhà thờ, bảo vộ sự thống trị của thần quvển, thì khẳng định ráng : “cuộc sống dưới trần thế chỉ là sự chuẩn bị cho cuộc sống tương lai ờ thế giới bên kia” [46. 231]. Theo òng, quốc vương không chỉ là người điều khiển mà còn là người sáng tạo ra nhà nước. “Quvén thống trị của Quốc vương là do “ ý chí Thượng đẽ” quy định”[46, 231]. òng cũng quyết liệt chống lại sự bình đảng xã hội, bảo vệ sư phàn chia đẳng cấp, COI quyền của con người là do_rThượng đế sản sinh ra”, trật tư xã hôi do Chúa an bài, con người khòna được đảo lộn và cần phải phục tùng điểu đó. 1.1.3. Thời kỳ Phuc Hưng, Khai sáng và Cân đai: Vấn để con người và số phận của nó được đặt ra và giải quyết một cách hiện thưc hơn bao giờ hết. Tư tuớng thống trị trong quan niệm về con người và quvén con người ở thời kỳ này chịu ảnh hường manh mẽ của thuyết " pháp quỵèn tư nhièn". Thuvét này khẳng định con người là do tự nhiên sinh ra mà có, chứ khòng phải do Qiúa, Thượng đế hay Đấng sièu nhiên nào đó sinh ra. Con người là một sản phẩm đích thưc của giới tự nhiên và thuộc vể giới tự nhiên. T.Hobbes, nhà triết học duy vật tiêu biểu Anh thế kỷ XVII, đã khẳng định " con người là một thưc thể sinh vật- xã hội”, và con người ngay từ khi sinh ra đã sông thành tập đoàn, cần đến nhau trong sự tồn tại và phát triển của mình. Ông viết: “ Đời sống của con người, nếu không có xã hội, là một đời sống nshèo nàn, cỏ đon, gian nan, tàn nhẫn và ngắn ngùi” [1, 4]. Tuv nhiên, Hobbes đã khònơ coi xã hội là tính quy định bản chất con người, mà khẳne định tính tự nhiên là bản chất của con người. Cũng như T.Hobbes, I.Locke, Montesqiueu, J.J. Rousseau,...đều khảng định bản chất cúa con người chính là bản chất tự nhièn của nó. Và vì vậy, "trạng thái tự nhièn" của con nsười được các nhà tư tườnc thời kv này coi là tư tườns hat nhàn trons việc xây dựng các học thuyết về nhà nước, chính trị -xã hội,...Do vậy, con người-chủ thể đích thưc của quyền- ngay từ khi sinh ra đã có quyèn rồi, và quyền đó mans tính 'tao hóa", " bám sinh", " tự nhiên", chứ khỏng phải do Thượng đế hay một lưc lượng siầu nhiẻn, bèn ngoài nào sản sinh hay ban tặng. . Chính vì thế, "pháp luàt tư nhiên' dứng iO tren, cao hơn "pháp luật nhà nước Thomas Hoobes và John Locke đều khẩnc đinh mọi người sinh ra đều bình đẳng và cần pnai được bình dẳng vẽ quyền". Hơn thế nữa. những tư tưởng gia theo thuyết pháp quven tự nhiên đều nhấn manh đến vếu tỏ 'sức mạnh", và nó được coi là cơ sở của quyền. Họ lập luân rằng, cơ sờ của quyển-sức manh đó là do tự nhiên, do con người bẩm sinh ra đã có. C.Mác nhận xét : "f...)vì kể từ M akiaveli, T.Hobbes, Spinoda, Bodanh và nhữnơ nhà tư rường khác của thời kv càn đại,...thì sức mạnh đã được miêu tả [à cơ sở của quyên" [16. 463] . J.J. Rousseau thì khẳng định bản chất tự nhiên thuãn tu ý cúa con người : ‘‘Con nsười do bản chất là một sinh vật sinh, ra để sống thành xã hội” [45, 33]. Như vậy, ông đã COI [huộc tính sinh vật là tính quyết định trong bản chất của con người,và vì vậy, việc '‘con neười sống thành xã hội” cũng chỉ là bản chất “sinh vật” của con người. Trong quan mèm về quyền con người, ông khẳng định rãng : " con người sinh ra vốn dĩ được tự do. thế nhưng chỗ nào anh ta cũng bị kim kep" và ông cho rãng ớ thời đại mà òna sống khi quan hè sản xuất TBCN phát triển manh mẽ và đang thông trị toan bộ xã hội, thì " trang thái còng dân” của xã hội và con ngươi đã thè cho " trạng thái tư nhiên". Và trong " trạng thái còng dân" này, con người lại lâm vào sự bất binh đẳng, sự mát rư do và quyền tư nhièn của mình, vì theo ông, khế ước xã hội tao ra xiềng xích trói buòc kẻ yếu, đem lai sinh lực cho kẻ manh, huỷ hoai một cách không thương tiếc tư do tư nhiên, vĩnh viẻn thiết lập các đạo luật sớ hữu và bất bình đẳng. Vì vậy, theo Rousseau, khế ước xã hội đươc thiết lập nhằm cải biến mọi người khỏi tính ích ký cá nhàn của họ, dông thời đám bảo sức manh và quvền lợi cua mỗi người. Và con người cần phai thông qua cách mạng xã hội để trở về với "trạng thái tự nhièn" ban đầu của nó, ờ đó rư do, bình đẳng và quyền con người mới được khòi phục. Như vậy, rốt cục vẫn là bản chất tư nhiên quyết đinh quyên con người. Khác với các nhà triết học khai sáng Pháp, Diderot đã có cái nhìn biên chứng hơn trong quan niệm về con người và quvền con người, Một mật. ôns củng khẳng định quyền của con người là nhữnơ “đặc quvền tư nhiẽn ‘‘ của con neười, nhưng mặt khác, con người chỉ thực hiện, hay hiện thưc hoá được nhữns quvền đó ờ trona xã hội và thỏng qua xã hội mà thôi. Tư tường này, có thể nói, đã đi 2ần đến chủ nshla duv vật biện chứng, nhất là tronơ quan niệm về cá nhân và xã hội : “mỗi cá nhàn sẽ trở nên mong manh và khó khăn hơn nếu như anh ta sông một cách bièt lập ( khỏi xã hội, HVN)” [48, 161]. Diderot đã đăc biệt nhàn manh đến vai trò quan trọna cua cá nhàn, rằng “cá nhân là điểm xuất phát cùa hình thái xã hội”[48, 163]. Đóng thời ông cũng 11 nhấn mạnh về vai trò của xã hội đối vớị sự hình thành bản chát của con người, “nhu cầu của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên đã là động lực thúc đẩy con người son2 thành xã hội(.„). Nếu tự nhiên thoả mãn được tất cả những nhu cầu cua con người thì xã hội sẽ tan rã ngay tức thì”[48, 163]. Nhưng Diderorvẫn chưa thoát khỏi quan điểm tư nhiên luận khi đồng nhất tính xã hội, bản chất xã hội cùa con người vói “bản nàng bầy đàn” của động vật, ông viết: “Con người sống thành xã hội cũng như các động vật khác sống thành bầy đàn theo bản năng sinh tồn của chúng”[48. 163]. Theo ôna, “Con người là một sản phẩm của tự nhiên, một sinh vật được phú cho những nhu cầu tư nhiên, anh ta chi trở nên hạnh phúc khi được thỏa mãn những nhu cầu ấy(...). Mỗi cá nhàn ngav từ khi sinh ra đã có quyển-tự nhiên được hường hạnh phúc. Tuv nhiên, con người chỉ có thể thực hiện được quvền đó ờ trong xã hội mà thôi”[48, 159]. ông khẳng đinh ràng, “trong trạng thái tự nhiên của mình, con người đã không biết gì đến kẻ thống trị (nhà cầm quyén - Rulers), tất cả mọi người đều bình đẳng với nhau và đươc độc lập hoan toàn” [48, 1611. Và, “ Như vậy là, nguồn gốc của chu quyền, như chúng ta biết, quyên lực của con người và quyền con người của họ chỉ đươc tìm thấy trong sư cho phép (-sư thoả thuận) của mọi người”[48, 161]. Có thể thấv tư tướns hết sức tiến bó của Diderot trong quan niệm về quvén [ực và quyền con người. Tuv nhiên, ông cũng chi dừng lại lãp trường cúa giai cấp tư sản, nhà triết học duy vặt nàv cũng không thế tranh khỏi lãp trường duv tâm về lịch sứ khi cho rằne, hình thức khả đĩ nhất cùa Nhà nước là mỏt nèn cộng hòa nghị viện mà ờ đó ông vua đóng vai trò như là vị tổng thống. Nhưng dù sao đi chãng nữa, tư tưởng cùa ông về một nhà nước pháp quvền cũng có những tiến bộ nhát định. Theo Diderot, “trật tự xã hội phái bảo vệ một cách tối un nhất nguyèn vọng của con người, mà ờ đó quyền lập pháp phải được giao cho các đai biểu của nhàn dân, là những người đổng thời kiểm soát các cơ quan hành Dháp củng như quvèn lực của quốc vưcmg” [48, 161-162]. Đó là quan niệm đúng đăn vè nhà nước pháp quyền, mặc dù nó là sự thỏa hiệp, “sự đầu hàng hèn nhát và nhục nhã” cùa giai cấp rư sản đối với giai cấp phong kiến, nó có tác dụng hạn chế sự độc đoán chuyên quyền của nhà vua đồna thời khảng định quyền lực thuộc về nhàn dân. Hesel khẳng dinh răng con người ( cũng như xã hội loài nsười) chỉ là sự tha hoá của "ý niêm tuvèt đối", và sư tha hoá cao nhất cùa ý niệm tuvột dối chính là nhà nước, do đó ban chất của con người cũng chính là nhà nước của nó hay nói đúng hơn, là ý niệm tuyệt đối ờ hình thức cao. VI thế, quvền con người và bản chất của nó là thuộc vể nhà nước ( nhà nước điển hình, là đại diện cho tự do chính là nhà nước Phổ), rức thuộc về cái tinh thán. Nói tóm lai, quyền con nsười là 12 quvèn trừu tượng, là quyến-tinh thán-trừu rượng. Trong quan niêm vé iư do . Hegei co những đóng góp nhát định, khi ông cho rãns: 1ỉich sư toan thế giới Ịà sư nen bộ tron 2 '■ thức tự do, sự tiến bộ mà chúng ra cần phải nhân thức [rons tính tất véu cua nó", và 'sư phát triển về tư do là chuấn mưc cơ bản dánh giá sư ưu viẽr oủa thời đai này 50 với thời đại khác". Tuy nhiên, tự do trons quan niệm của Hegel. xét vè bàn chát, chi là ;hứ rư do-trừu tương và thân thánh hoá, ỏng viết" tự do của con người thể hiện trong sư hiếu biết và làm theo ý chúa ', và ' con người là Chúa tề số phàn và sứ mang của mình" [46. 456]. Trong tác phẩm 'Triết học về quvèn”, Hegel nhấn manh : "Thuàt nsữ "Quyền" có hai nghĩa. Thuật ngữ tiếng Đức này ( ‘‘Recht ”), cũna có nghĩa là '‘quyên’’ (“right”), hoăc cũng có nghĩa là '‘pháp quyên”-luàt pháp( “lawr”), và vì vay cụm từ ‘‘ triết học vẽ quyển” ( “philosophỵ of right”ì là có mỏi liên hẽ đãc bièt với no < Recht, HVN') hơn là cum từ “Triết học về pháp quvèn (-luật phápj” (“philosophy of law 'y’ [52, 104]. Từ dây Hegel đã chỉ ra rằng: “ Nói về Quvẽn [Reclĩt) ... điêu đó khòng có nshĩa chi là cái đươc bao hàm, về mật tổng thế, bới luật dân sư, ma nó còn ià đao đức, dời sông đao dức và lịch sử thế giới” [52, 104]. Như vậy. Hegel đã tiếp cận ván dề quvèn con người ờ trong tầng bản chát của nó, và ơ môt mưc độ nao dó có thể noi ỏng dã đi gàn đến quan điểm duy vật lịch sử khi khảng định quvèn khòna chì có moi quan hê tnrc tiếp với quyển lưc nhà nước, với pháp luật, ma rõ ràns, tronu ban chai sau xa cua nó. iù có tính dạo đức và tính xã hội-, tính lịch sứ-xã hội, tức là bản chất nhãn vãn sâu sác của con nuười. Rất tiếc là, cuối cùng ông lại đi đến kết luãn. lịch sư thè giới, lịch sử xã hội loài người chỉ là “sự tha hoá của ý niệm tuvột đối”, của "tinh thán thế eiới”, chứ không phai là lịch sử của “đời sống có tính chất trưc tiếp cua con ngươi : hoạt đôns sản xuất vật chất”. Đối với Feuerbach, con người là sản phẩm cua tư nhiên, là 'cái gương vũ trụ", thòng qua đó giới tự nhièn ý thức và nhán thức chính bản than mình. Bản chát cua con ncười là tổng thể các nhu cầu, khát vonơ, ham muốn và cả khả năng tươns rượnơ cua anh ta nữa. Ong khảng định " Con ngươi là san phàm cua con người, của vãn hoá và cua lịch sử" [46, 461]. Nhưng, "văn hoá", 'lịch sử" ờ đây !à văn hoa. là lịch sừ-chung chuna, trừu tượng , phi giai cấp, phi dàn tộc, và vì thế quan niêm này cực kỳ trừu rượna chứ không cụ thể. Trong quan niệm vè bán chát con naươi cua ỏng cũns trừu tượns, ‘bán chất của con người là bàn chát chung và ban thân no là ban chất cá tiìể'’ [46. 462] Vã bàn chát chung dó cúa con người không phai cái gì khác hơn ià tòn siáo. tón iĩiáo là ban chất của con người, ỏng viết : "bản chát rhần thánh không !ù ::íi ‘Ị 1 khác, ma !à bùn chát 13 cùa con người, nhưng đã được '.inh chế. khách juan noa. rách rời vơi con 1-sười hiện thực báng xương, băng thịt" [46. 463]. Như Vậv. bán chát của con neưới vú cua quvền con người đếu ỉà trừu cượng và phi hiện thực. Nhân xét vè Feuerbach, \ n 22hen viết: "Về hình thức, ông là mỏt người hièn íhưc chủ nchĩa. ông lấy con người làm xuất phát điểm, song óng hoàn toàn không nói đến ìhế áiới ironc đó con người ấv sóng, vì vậy con người mà ông nói, íuôn iuón là con ngươi trưu tượng vẫn chiếm cứ lĩnh vực triết học về tôn giáo" [29, 391]. Còn C.Mác thì phê phán 'Feuerbach hoa tan ban chất tòn giáo vào ban chất con người” [15, 257]. Vì Feuerbach hiểu bản chất cua con nsười hết sức trưu tượng, coi dó như là bản tính bất biến, cảm giác được của mỏi cá thể như trái tim. trí tuệ, ý chí. Là một nhà triết học phê phán tôn giáo và chông tôn giáo song vì Feuerbach quan niệm tòn giáo phản ánh cái gì đó vĩnh hãng thuộc về con ngươi, cho nén tình cảm ton giáo lại là cái không thể vứt bò được. Theo ông, tình yèu giữa con ngươi với con người, đặc biệt là tình vèu nam nữ là một tình cám tôn giáo, đó ià bàn chát dích thưc của tôn giáo. Do đó, Feuerbach coi chủ nghĩa vò thân cũng là một tón giáo. Vì Vặv, ỏng đã tư coi minh là một nhà cài cách tôn giáo, tao ra một tón giáo mơi xưnc dán2 với ban chát cua con người. Đó là sự biến dối ý thức tôn giáo siêu nhièn thán bí thanh ý thức [ỏn giáo tư nhiên của chính con ngươi, ôntĩ hy von<ĩ ráng, dó là con dương dổi mới, dán chủ hóa xã hội, làm cho quần chúng thoát khói cành bàn hàn. Tóm lại, các nhà triết hoc trước Mác đã đóns 2Óp lớn lao vào viẽc lý giải vấn đề con người và sô phàn của nó, về sự giải phóns con người và thưc hièn quyèn con người. Tựu chung lại, nhữnơ rư rường triết học đó được thể hièn dưới hai thế siới quan : duv tàm và duy vật; giữa hai phương pháp : bièn chứng và àièu hình. Và cuộc đấu tranh nảv lừa giữa hai quan điểm, hai iập trường này cũn 2 đã 2op pnàn thúc đẩv manh mẽ sự giải mã con người và số phàn của nó, cũng như ho đã đề ra nhữnơ con đườna, những hướns giải quyết nào đó để nnãm giúp con người thoár khói sự thôns trị cua lưc lươna tự nhiên và xã hội. Những tư tướng dó là sự thế hiện khát vọng chay bỏns cua con naười về sự tư do, Sự giải phóns chính mình ỉchỏi sư nò dịch, sư tha hoa đans ncàv càng cột chặt họ. Tuy nhiên, các nhà triết học trước Mác dã khòns thể iý giai dúng đắn và khoa học về con người và số phận của nó, dã không thế để ra con đườns hiện thực để giải phóne con người, thoat khỏi mọi sự tha hoa. Bới lẽ, họ đã khôn SI xuat phát tư đời SÓI12 hiện thực cùa con nsười, từ lịch sừ con người và xã hội loài nsười. Tính ụuv định iló là : tôn tại xã 1! hội quyết định ý thức xa nội; ý ihức xã hội không chi ià yếu lố thu dông đối với tổn tại xã hội mà nó còn có vai trò tác động ngược trở lại một cách [ích cực và chu động; con người khòng chỉ nhận thức được thế giới mà còn cải tạo được thế giới-cải tao mòi trường tự nhiên và xã hội nhăm thoả mãn nhữns nhu cẩu của việc iuy trì sư tôn tại của bản thân và hoan thiện sự phát triển bản chất Người. Như vậy. con nsười chì có dược tư do, chỉ giải phóng được minh thông qua hành động thưc tiễn cua mình. Giải phóng con ngươi và thực hiện quyên con nsười không phải bãng con đườns nhàn thức, lý luận đơn thuãn ( không phải là sư rư biện), mà chỉ có thể đem lại sự giải Dhóns đích thưc đó bằng con đường hiện thưc - con đường đấu tranh giai cấp, cách mang xã hội. Những hạn chế đó một phần vì điều kiện lịch sừ, kinh tế -xã hội ờ thời đại mà họ đang sống chưa thể chín muồi để có thể cho phép ho khám phá và di sâu vào bản chát cua con người và"xã hội loài người; mật khác do chỏ đứng nhìn cùa các nhà triết học này chí dừng lại hoăc là duv vật nhưng sièu hình, hoãc là biên chứna nhưng duy tâm. Điéu này chí đến giai đoan Mác và Ảngghen mới khãc phuc và giải quyết đươc triệt đế và khoa học, trên một phươns pháp luân mới-phươno, pháp luận duv vật bièn chưns, vè con người và số phàn của nó. 1.2. Q u a n n iệ m vẽ c o n n g ư ờ i va g id ỉ p h o n g c o n n g ư ờ i tr o n g tr iế t h ọ c M á c . 1.2.1. Con người ‘ "m ột dông vát xã hoi" : Mác đã kế thừa tư tưons biện chứna: và duv vật trons quan niệm vé con nsươi. ”con người ià. một động vật chính trị”, cùa Aristote. Tuv nhièn, Mác đã đi sàu hon vào vièc tìm ra bản chất đích thưc của con người, và chỉ ra rằng, con naười khỏns chí dừns lại ớ bản chất chính trị-thuần tứv của nó. Bán chất chinh trị cùa con nsười chí là một bản chất đặc thù, không phải là bản chất phố quát của con nsười ờ moi thời đại, mọi xã hội và diều kiện lịch sử. Con nsười không chi mang ban chất chính tri mà còn hơn thế là bàn chất xã hội của nó-là bản chất đích thưc của con người, Vì lẽ sư tồn tai của con nsười với tư cách là con nsười-công dân, con ngưòi-chính trị chưa phai là sự ròn tại đích thực, chưa phải là nhàn tính tư do. Con người khòna chỉ dừng lại ờ muc đích chính trị-, là con người cua cộng dồng, của thành bana, mà còn vươn tới con người cua xã hội loài ntiười, của nhàn loại, hay “loài người xã hòi hoá”. Tuy nhiên, trong quan niêm cua Aristote tính cộng đổnc lán dấu tiên đã dược chi ra và nhãn manh con nsười khôn2 the sòng ngoài cộng dồng ( chính trị-thành quốc). Tiếp nối tư tướng cùa Aristote va các nha triết liọc duy vật thế ký XVII-XVIII. nhưne trên một thế siới quan hoan toan mới- dó ;à 15 thè giới quan duy vật biện chứng, Mác và Ảnsghen dã có quan niệm đúns dấn và khoa học vè con người va bán chát cua nó. Mác và Ãnaghen khãns định rãna, trước hết con người là mỏt sản vật của tự nhiên, là một bỏ phân cò hữu cua giới tự nhiên: con người là một "khách :hể cua tự nhièn”, là mòt bộ phàn cua tư nhiên, hay con người là '‘tự nhiên sống"’, "tự nhiên đã dược nhân tính hoá”. ông viết: ‘‘ bản thân con nsười. được COI như tôn tai thuán tuý của sức lao động, là mỏt khách thể tư nhiên, một sự vật át hản là một sư vặt Sỏna và có V thức tư nó” [44, 14]. Mác cũng cho rằna, con nsười. một tồn tại tự nhiên và là một bộ phận cùa giới tự nhiên, vừa là tác nhân vừa ỉà kẻ chiu tác động của biên chứne lịch sừ. Trong quá trình con người khòng ngùng sản sinh ra con người, những nhàn tố khách quan và chủ quan liên tuc biến hóa và dổi chỏ cho nhau. "‘Chù thể những con người trong xã hội lù mọt tòn tại khách quan và những khách thể sàn xuất ra dù mang tính chất hàng hóa, quan hê san xuất hay thể chế, cũng đêu là mòt kết quả của một hoat động chú quan-’ [44. 71 Ị. Có thể tháy rănc, toàn bộ quan niệm của Mác vè con người cũng chính là xuát phác tư việc giải quyết một cách sâu sác và triệt để mói quan hệ biên chứng của cái chù quan và khách quan, chu thể và khách thể. Mác kháng dinh rànsi, con người có một ban chát khách quan, điẽư này có nghĩa là con người phu thuộc vào một bản chất bèn ngoài : nó sinh ra từ bản chát dó, và cán có bản chát đó dế tòn tại. Mọi tồn tai tư nhiên đểu biểu hiện mót hoat đôns nội tại, làm thành một bộ phàn hơp nhất trong bán chát của nó với tư cách là một tồn tại khách quan tự nhiẻn. Chù thế cũng là khách thể và khòng phải ngav từ cội nơuón đã sản sinh ra ban chất khách quan này để trờ thành bán chất của nó. Trong khi phè phán Fichte ( và cả Hesel) đã đi đến tư tường "khòna nhìn thấy ớ dâu imoài thưc tại", Mác đã dịnh nghĩa con nsười là một thưc thể tư nhièn : “ là thực thể tư nhièn sống, một mật con ncười có đươc nhữnơ lực lương rư nhiên, nhũn2 lực lượng sòng, nó là mỏt thực thể tự nhièn đang hành đông, nhữns lực lươna này tồn tại trong con nsười với tư cách là những sự chuán bị, nãns lực. với cư cách là xu hướng. Mật khác, với tư cách là những thực thể tư nhien, sòng, có cám giác, khách quan, con neươi. giông như thực vật và động vặt, !à một thực thể thụ dộnq, có diêu kiện va có 21 ới hạn: nghĩa là các đối tương cua những xu hướng của no tổn tại ncoài nó, với tư cách là nhữna khách thè’ độc lập dối với no(...}” [44, 83]. Như vậy. con naười một mát !à chú the cho 16 hoạt động của mình, mật khác chính tự nhiên lại ià chù thế, !à nguôn 2ÒC của con ngưcn Và vì vậy, “con người !à một động vật-xã hội” [31, 366Ị. '* ià sinh vật có rinh :oài" [29,120], tức là con người cũng là một sinh vật ( tất nhiẽn là ì inh vật ĩrona sự liến hoa cao nhất của giới tự nhiên). Thế nhưng con người là một sinh vặt đặc biệt, một sinh vật cao cấp. Con người, ngay từ đầu đã không chiu thỏa mãn những nhu cáu cò iiữu -nhu cầu thể xác, nhu cầu “chỉ sản xuất ra cái mà bản thăn nó hoác con no trưc tiếp cán đến", “chỉ tái sản xuất ra bản thân nó” trên cơ sờ của cái sẵn có [rong giới tu nhiên, mà no còn có nhu cầu “sản xuất ra một thế giới vật thể bãng việc cai tao giới tư nhiên vò cơ" va còn có nhu cầu “ sản xuất theo quy luật của cái đep”. Chính xuát phát từ nhu cáu cải biến giới tự nhiên vô cơ thành giới tự nhiên thứ hai, phuc vụ cho những nhu càu khăng định nhàn tính của mình, khẳng định mình là một sinh vật có tính loài, là sinh vật sáng tạo-tự do, và băng lao động sản xuất của mình- hành độna thực tiẻn, đã làm cho con người tách khỏi giới tư nhiên, đứng đối diên với tự nhién và vì vậy trơ thành một "sinh vật có tính loài”, là “ sinh vật-xã hội”. C.Mác đã gọi sư san xuất ra đời sống vàt chất là “đời sống có tính loài tích cực của con .người”. “Nhờ sư sán xuất đó. giới tư rihién biếu hiện ra là tác phám của nó (con người) và thưc tai của nó. Do dó dối tươno cua lao dộng là sư đối tượng hoa dời sóng có tính loai cùa con ngươi. Vì con ncươi khòns phai cni tư nhàn đôi mình lên một cách chi bằng trí óc, như trườns ỉicrp xaỵ ra [rons Vthức , ma còn tự nhàn đôi mình lên một cách tích cực, mỏt cách hièn thưc, và con người n.gám nhìn bản thàn mình trong thế giới do mình sáng tạo ra” [29. 120]. Như Vày là : chính trong khi cải biến thế giới vật thể mà con người lần đầu tiên đã thưc sư tư khảng định mình là một sinh vật có tính loài” [29, 120]. Mác và Ãnsghen khóng hẽ phu nhàn thâm chí còn luỏn nhán manh đến vai trò của yếu tố sinh học càu thành '‘thân thể vô cơ” của con người. Các ỏng cũng khẳng định những quy luật sinh vặt hoc là tất vếu. là khòns thể thiếu được trong quá trình biến vượn thành nsười. nhưng phải thòng qua các quan hệ xã hội, các quv luàt xã hội, thì con người mới thưc sự là môt sinh vật-sáng tạo-tự do. Theo nghĩa như thế, thì quan hệ xã hội là bán chất. Quy luât sinh vật hoc là nền ỉdnẹ của cái bản chất xã hội của con người. Kế thừa rư tươn2 cùa các nhà triết học tiền bối trong quan niệm về con nqười. Mác cũng cho rãne con người là một thưc thể thống nhất hữu cơ giữa " vếu tỏ sinh vạt" và 'yếu [ố xã hội", khi õnii viết : Đỏ ià vì con người ta,...cũng là một động vật xả hội” [31, 366]. Tuy nhiên. Mác và Ânaghen dã di xa hơn họ ờ chỗ các ông đã phàn tích một cách sàu sắc, dựa trẽn cơ sớ khoa học va lũp trường duy vạt biện chứng , về mối quan hè giữa hai vếu tố dó cũns như chi ra rinh quv iinh 17 ịĩRUNGTAVr^-v : , của bản chất con người chính là rinh xã hội của con người. Sư thốnc nhất đó khôn2 phải là trừu tượng, mơ hồ dựa trên lập trường đuv vật siêu hình cùa Th. Hobbes. hav Feuerbach hay biện chứng duy tâm của Kant, He-sel, mà đó thưc sự là một kết luân được rút ra từ trong toàn bộ hệ thống lý luân của mình. 1.2.2. B ả n chất của con ngươi: Con người là “con người hiện thực” và bản chất con người là bản chát xã hội: + Mác và Ángghen không phải xuất phát từ '‘con người trừu tượng", "con ngườiý niệm”, “con người trong tư tưởng”, mà là “con người hiên thưc-cụ thể” , “con ngưcri- hoat động”: “ Chúng ta cũng không xuất phát từ những con người chi tôn tại trons lời nói, trong ý nehĩ, trong tường tượne, trong biểu tượns của nsười khác, để từ đó mà đi tới những con người bàng xương bằng thịt; khong chúns ta xuất phát từ nhữnc con người đang hành động, hiên thưc và chính là cũng xuất phát từ quá trình đời Sống hiộn thực của họ...” [16, 37-38], + Con người là con nsười hiện thực-lịch sừ, là những cá nhân với " hành vi lịch sử đầu tiên là hoạt động sản xuất ra đời sống vật chát". Học thuvết của các òng khỏng phái xuất phát từ con người trừu tượrm, phi lịch sư, phi hiện thực mà là từ con người hiện thưc -lịch sử, con người cu thể. aắn với từna mai đoan lịch sư nhất dinh : " Đó là những cá nhàn hiên thực, là hoat động của họ và những điều kiện sinh hoat vật chát của ho, những điều kiện mà ho thấy có sẩn cũng như những điều kiện do hoạt dộng của chính họ tạo ra “ [29, 281-282]. Nói đến những cá nhàn hiện thưc thì cũng có nghĩa là nói đến những con người đang sống, đans tồn tại và đang hoat động. Dĩ nhiên, con người bao giờ cũng là con người lịch sử. Nhưng lịch sử không phai chỉ là lịch sử của từnso giai đoan sử của giống người từ thời khới nsuvên, khi o . c nên ? 2; lẻ. . Lich sử còn là lích . J con người đầu tiên ( người khéo- homo habilis) đã đi vào cái xã hội đầu tièn, là cái cộng đồng địa phương. Vì vậy, nói con n2 UỜi- lịch sử. cu thể khônc có nghĩa chi là con người của đuỵ nhất một giai đoan lịch sử cụ thể. một xã hội cu thể. mà nó còn có nghĩa là con người của lịch sừ nói chung, là “ con naười của lịch sử con người”, nshĩa là con người-phổ biến, con người “ mang bản chất loài", '‘bản chát nhân loại". + Các ỏns nhàn mạnh rằng, muốn tìm được bàn chất của con nsười hiện thực thi trước hết phái xuất phát từ nhữníi tiền đề hiện thực, từ nhữns cú nhan con nsười iang sóng, đang hoạt động. Nhũng con người đó phai đặt tronii mối liên hè , irons lự vãn đông, phát triển với những điều kiện lịch sử cụ thể. Thưc tế lịch sư xã hội loài người 18 cũng đã chứng minh, nếu xét trona tính hiên thưc thì con nsười dù là để thỏa mãn nhu cầu dời sống của bán rhân minh hay !à đề rao ra nhữna rhè hồ nếp theo, các cá nhan J0n người cũng không thế tách rời, cò lập với Iihửng ngươi khác, ma phai co môi liên hê với những người khác trong moi iTnh vưc hoat độns của mình. Đó là quan hệ xã hội. Vì vạy. Mác mới kết luận : “ Sư sán xuát ra dời sórm- ra đời ìống của bán thán mình bãn,2 .ao động, cũng như ra dời sống cua người khác bâng việc sinh con dẻ cái- biểu hiện ra là một quan hệ song trùng: một mát là quan hẽ tự nhiên: mặt khác là quan hệ xã hội....với ý nghĩa đó là hoat đông két hơp của nhiều cá nhan ( nhấn manh-. H.V.NÌ, tchòníĩ kè là trong những điéu kiên nào, theo cách nào và nhâm muc đích gì” [29. 288]. Tất ahièn trong mỗi giai doan phát triến nhất đinh của lịch sử. các mối quan hệ đó lại được biểu hiên trong một phươne thức cu thể. Như vậy là, muốn xác dinh đươc bán chất con người mỏt cách đúng đăn và khoa học thì phai xuất phát tư hiện thưc khách quan, tư những mối quan hè xã hội hièn thưc. Hay nói như Mác [à : '■ muon ùm bàn chất con người một cách dứng đắn và khoa học thì phai băt dâu từ “vương quòc của con người”, "tư những quan hệ hiện thưc trên trán gian”, chứ khòng phai và lvhòns rhè ii :ừ " vương quốc cùa thần ihanh tới vương quốc của con người”[29. 309Ị. Đó chinh là diém khác căn bán siữa triết học duy vật biên chứne và triét học duy vặt trước Mác vè con ngươi, bản chát con người và sư 2iải phóng con ngươi. + Bản chất của con người ià bán chát xã hôi : Trorm Luân cươnq vé Feuerhach, khi phê phán Peuerbach ‘‘hoà tan bán chất tôn giáo vào bán chãt con người”. Mác dã khảng định rằng: " bản chất con người không phải là một cái 2Í ĩrưu niơng cố hữu của cá nhàn riêng biệt. Trong tính hiện thưc cua nó, ban chất cùa con người là tổne hòa những quan hệ xả hòi" [16, 11]. Đối với Mác. ĩhuật nsử '‘xã hòi” ờ đây đươc ông hiểu không phải là "xã hội khép kín tách khỏi tính cộng dõns ncười” - xã hôi của nhữns con người vị kỷ - xã hội tư sản, mà đó phải là xã hội cua những cộng đổng người chân chính. Vì thế, bàn chất thực sự của con người chính là ban chất cộng đổns chân chính cùa nó. Con người vòn dĩ muốn tổn tại dược phái thòns qua quan hệ với ngươi khác, do nsưừi khác mà tạo thành, tuy nhièn anh ta chi trơ nén là một nhàn tinh tư do khi và chi khi quan hệ dó rchỏng bi tha hoá. nghĩa là nhũĩi2 quan liệ \ă hội úiẻn ra trong một cộng đồnsĩ thực sự, và điéu này chi ớ trong xã hội cọns san chu nuhĩa mứi có. Do vậy. ban chát của nó chinh là những quan hè xã hòi đó lãng done tronỊỊ con ngươi thóna qua một quá trình sinh thanh khòng nsưng của chính con nsười. Nó khong nhai '..1 một ban chát bất biến dươc cố định từ thè hệ nùv sanc thế hệ khác, tứ rhơi .uu !Ktv. xã hội 19 -.an12
- Xem thêm -