Quản lý văn hóa ở cộng hòa dân chủ nhân dân lào

  • Số trang: 37 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 24 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

0 ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN FONGSAMOUTH PHOUVINH QUẢN LÝ VĂN HÓA Ở CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO Chuyên ngành: VĂN HÓA HỌC Mã số: 60.31.70 1 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC Người hướng dẫn khoa học PGS.TS. NGUYỄN XUÂN TẾ TS. TRẦN NGỌC KHÁNH TP. HỒ CHÍ MINH – 2013 Công trình được hoàn thành tại: Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh-Trường Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn: Người hướng dẫn kho học: 1. PSG.TS. Nguyễn Xuân Tế. 2. TS. Trần Ngọc Khánh Phản biện 1:................................................................ Phản biện 2:................................................................ Phản biện 3:................................................................ 2 Luận án sẽ được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án cấp cơ sở đào tạo. Họp tại Trường Đaị học Khoa học Xã hội và Nhân văn Vào hồi: giờ........, ngày........tháng.........năm 2013 Có thể tìm hiểu luận án tại: - Thư viện Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh (km 20, xa lộ Hà Nội, phường Linh Trung, quận Thủ Đức, Tp. Hồ CHí Minh) - Thư viện Trường Đại học KHXH&NV (12, Đinh Tiên Hoàng, quận 1, Tp. Hồ Chí MInh MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Cộng hòa dân chủ nhân dân (CHDCND) Lào có nền văn hóa và văn minh phát triển lâu đời. Nghiên cứu văn hóa CHDCND Lào không thể không tìm hiểu hoạt động quản lý văn hóa của quốc gia Lào. Chiến lược quản lý và phát triển văn hóa được Đại hội Đảng NDCM Lào lần thứ 9 (khóa V) năm 1994 thể hiện tập trung theo khẩu hiệu: Dân tộc, Quần chúng và Tiên tiến. Đó là định hướng quan trọng, mang tính chất thống nhất về chiến lược nhằm nâng cao hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc ở CHDCND Lào. Chúng tôi chọn nghiên cứu vấn đề “Quản lý văn hóa ở CHDCND Lào” làm đề tài luận án tiến sĩ, hy vọng sẽ góp phần thúc đẩy việc xây dựng cơ chế chính sách phát triển kinh tế - xã hội và văn hóa, đồng thời nâng cao vai trò của cá nhân và cộng đồng 3 trong quản lý hoạt động văn hóa đang diễn ra sôi động trong đời sống xã hội hiện thời ở CHDCND Lào. 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài. Nghị quyết Đại hội Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lần thứ 9 (khóa V) năm 1994 đề ra chủ trương nâng cao quản lý văn hóa ở CHDCND Lào theo hướng đa ngành, đa chủ thể; xây dựng và phát triển văn hóa theo cơ chế Nhà nước pháp quyền để thực hiện xây dựng nền văn hóa theo khẩu hiệu: Dân tộc, Quần chúng và Tiên tiến. Đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước giới thiệu như: Lịch sử văn học Lào do TS. Boxengkham Vôngđala, Maha Silavông thực hiện; Văn hoá Đông Nam Á của Nguyễn Tấn Đắc; Thể chế chính trị các nước ASEAN của Nguyễn Xuân Tế, Những sự kiện lịch sử Lào của Nguyễn Văn Vinh; Việt Nam – Đông Nam Á: ngôn ngữ và văn hóa của Phạm Đức Dương, v.v. cùng với những tài liệu nghiên cứu về Phật giáo ở Lào của một số nhà nghiên cứu phương Tây như Henry Deydier, George Cœdès... những thành tựu cơ bản của văn hóa Lào, song sự quản lý văn hóa quốc gia Lào chưa được đề cập nghiên cứu trọn vẹn. - Phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng chính sách và pháp luật về văn hóa; rút ra những kinh nghiệm và xác định nhóm giải pháp nhằm nâng cao hoạt động quản lý văn hóa ở CHDCND Lào. 3. Mục đích, nhiệm vụ và ý nghĩa nghiên cứu của luận án Mục đích của luận án là góp phần làm sáng tỏ các vấn đề lý thuyết và thực tiễn trong hoạt động quản lý văn hóa; nêu ra những đặc điểm, các điều kiện tác động đến quản lý văn hóa Nhà nước; đồng thời đề xuất và kiến nghị những giải pháp xây dựng chính sách văn hóa ở CHDCND Lào. 4. Đối tượng và phạm vì nghiên cứu của luận án. - Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu có hệ thống về quản lý văn hóa gắn với yêu cầu đổi mới hoạt động văn hóa theo quan điểm của Đảng; đề xuất những 4 giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý văn hóa ở CHDCND Lào. - Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu một số lĩnh vực chủ yếu của đường lối, chính sách và pháp luật đối với văn hóa theo hướng Nhà nước pháp quyền; quản lý các hoạt động dịch vụ và kinh doanh văn hóa phẩm, quản lý di sản văn hóa dân tộc và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Ngoài ra, luận án có tham khảo kinh nghiệm hoạt động quản lý văn hóa của Việt Nam. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu -Cơ sở nc: phân tích, tổng hợp các tài liệu, sách viết về quản lý văn hóa ở trong nước và nước ngoài. - Sử dụng PP luận chủ nghĩa Mác – Lênin, PP duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử hình thành cơ sở lý luận cho đề tài Phương pháp luận nghiên cứu là lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử; kết hợp vận dụng đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước CHDCND Lào về quản lý văn hóa. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp nghiên cứu lý thuyết; so sánh, phân tích tư liệu; khảo sát thực tế; diễn dịch, tổng hợp, quy nạp, điều chỉnh và phương pháp hệ thống cấu trúc... 6.. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án - Về lý luận, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý văn hóa, tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động văn hóa của nước CHDCND Lào. - Về thực tiễn, có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan nghiên cứu và đào tạo văn hóa của quốc gia và quốc tế. 7. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống về việc hoàn thiện chính sách, pháp luật về văn hóa để nâng cao hiệu quả hoạt động của chủ thể quản lý văn hóa ở CHDCND Lào. Một số điểm mới của luận án: 5 - Nghiên cứu vai trò và tính pháp lý quản lý văn hóa của Nhà nước gắn với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; - Tính tất yếu khách quan của chính sách và pháp luật về quản lý văn hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN ở CHDCND Lào. 8. Kết cấu luận án Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án gồm có 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và khái quát về văn hóa ở CHDCND Lào Chương 2: Thực trạng quản lý văn hóa ở CHDCND Lào và tham chiếu kinh nghiệm của Việt Nam. Chương 3: Quản lý văn hóa ở CHDCND Lào thời kỳ công nghiệ hóa, hiện đại hóa đất nước. Chương I Cơ sở lý luận và khái quát về văn hóa ở CHDCND Lào 1.1. Cơ sở lý luận về văn hóa và quản lý văn hóa 1.1.1. Khái niệm văn hóa Trong khoa học xã hội và nhân văn, khái niệm văn hoá vừa mang ý nghĩa văn minh của thời đại, vừa là yếu tố bản sắc của dân tộc và tính đa dạng của các vùng miền khác nhau và liên quan đến nhiều mặt hoạt động của đời sống xã hội. Có nghĩa là, nói đến văn hóa là nói đến con người, nói đến cái do con người sáng tạo ra. Chúng tôi hiểu rằng: Văn hóa là tổng thể các ứng xử của con người một cách chân, thiện, mỹ với thiên nhiên, với cộng đồng và với chính bản thân mình, được thể hiện cụ thể qua những gì do con người sáng tạo ra, dưới dạng vật thể và phi vật thể. 1.1.2. Khái niệm quản lý văn hóa Quản lý là một kiểu quan hệ giữa con người và xã hội trong đó diễn ra quá trình ra quyết định, tổ chức, chỉ đạo, khuyến khích, 6 động viên, kiểm tra, giám sát, điều chỉnh nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống xã hội con người. Một cách khái quát nhất, có thể hiểu: quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, bố trí nhân sự, lãnh đạo, kiểm soát công việc và những nỗ lực của con người, nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra. Hoạt động quản lý chỉ phát huy được nhân tố con người và đạt được hiệu quả cao, khi nó tạo ra được cái toàn thể từ nhiều cá nhân và tư liệu sản xuất của tổ chức, xã hội yêu cầu về tính toàn thể của tổ chức mang tính khách quan. Nó đòi hỏi các nhà quản lý phải xác lập được mục tiêu rõ ràng và biết điều hành hệ thống của mình tới đích. Theo chúng tôi, xét theo công việc quản lý văn hóa ở CHDCND Lào hiện nay có thể phân chia quản lý văn hóa theo hai dạng: quản lý nhà nước và quản lý xã hội. - Quản lý nhà nước là sự điều hành công việc theo hệ thống cơ quan công quyền, thực thi quyền lực nhà nước để quản lý, điều hành các lĩnh vực đời sống xã hội theo pháp luật; - Còn quản lý xã hội là sự quản lý được thực hiện bởi các đoàn thể hay các tổ chức xã hội … theo hướng đa dạng chủ thể quản lý: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Trong phạm vi luận án, chúng tôi chủ yếu nói về quản lý nhà nước, mà chưa đi sâu hơn vấn đề quản lý của các tổ chức xã hội ngoài nhà nước, vì trong điều kiện hiện nay ở Lào không có Nhà nước thì không có tái sản xuất xã hội. 1.2. Hệ tọa độ văn hóa quốc gia Lào Văn hóa quốc gia Lào là sự thống nhất trên cơ sở hạt nhân đa tộc người, đa chủ thể và phong phú các sắc thái văn hóa tộc người. 1.2.1. Văn hoá quốc gia Lào nhìn từ thời gian Sự xuất hiện của vương quốc Lào Lạn Xạng là kết quả của một quá trình phát triển lâu dài của nền văn hóa dân tộc Lào. Tiến trình văn hóa Lào có thể chia thành năm giai đoạn: văn hóa tiền sử; văn hóa Khún Lo - Khún Bô Lôm; văn hóa Lào Lạn Xang; văn hóa vương quốc Lào và văn hóa hiện đại. Năm giai đoạn này tạo thành 7 ba lớp văn hóa chồng lên nhau gồm: văn hóa cổ truyền bản địa, văn hóa giao lưu với Khmer, Ấn Độ và văn hóa giao lưu với phương Tây. 1.2.1.1. Văn hóa cổ truyền của các bộ tộc Lào Lớp văn hóa này bao gồm hai giai đoạn là: văn hóa tiền sử, văn hóa Khún Lo - Khún Bô Lôm. Đặc trưng chung của lớp văn hóa này là quá trình hình thành một nền văn hóa cổ đại của các bộ tộc Lào mang tính bản địa, với nghề nông nghiệp lúa nước là chủ yếu. Theo một số truyền thuyết phổ biến ở Lào thì vương quốc Lào đầu tiên được hình thành năm 757 dương lịch dưới triều Khún Lo ở vùng miền Nam của Trung Quốc; sau khoảng 500 năm vương quốc Lạn Na ra đời, định đô ở Chiêng Mai (hiện nay thuộc miền Bắc Thái Lan); và đến thế kỷ XIV, vương quốc Lạn Xạng (nước Lào sau này) và Ayuthaya (Thái Lan hiện nay) được thành lập. Thần thoại Quả bầu và thần thoại “Pu dơ, Nha dơ'' (Ông và Bà) là những truyền thuyết giải thích về nguồn gốc các bộ tộc Lào. Thần thoại kể rằng: bầu chín, người lúc nhúc bên trong, phải dùng dùi sắt chọc thủng một lỗ, người chen chúc chui ra, phải khoét lỗ rộng hơn người tuôn ra như suối suốt ba ngày đêm, theo thứ tự: trước tiên là người Khmụ, tiếp đến là người Thái-Lào, rồi sau đó là người MèoDao. Ba nhóm bộ tộc lớn này sống trên đất Lào là con một mẹ. Quả bầu là bà, mẹ đã sinh ra các dân tộc. 1.2.1.2. Văn hóa thời kỳ vương quốc Lào Lạn Xạng Gồm hai giai đoạn là văn hóa nước Lào Lạn Xạng (Triệu Voi) và văn hóa vương quốc Lào. Đặc trưng chung là sự tồn tại cùng song song hai yếu tố: văn hóa bản địa và văn hóa du nhập, trong đó văn hóa du nhập được văn hóa bản địa tiếp nhận và nuôi dưỡng, còn văn hóa bản địa được văn hóa du nhập làm cho phong phú và đa dạng. a. Sự hình thành quốc gia Lào Lạn Xạng trong thế kỷ XIV. Sự độc lập, thống nhất về lãnh thổ của quốc gia Lào Lạn Xạng năm 1535 có sự thúc đẩy sản xuất hàng hóa cũng như sự hình thành 8 các trung tâm buôn bán phát triển và giao lưu với các nước láng giềng như Xiêm, Miến Điện, Đại Thanh, Đại Việt, Khơme... b. Phật giáo được phục hồi làm quốc giáo. Cùng với đạo Phật, đạo Bà La Môn đã sớm được du nhập vào Lào Lào khoảng thế kỷ VIII – XII thông qua người Khỏm và đã có thời kỳ phát triển ở Lào trước khi vua Fa Ngùm thống nhất đất nước. Văn hóa Phật giáo góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển của văn hóa quốc gia Lào. Thế kỷ XVII là giai đoạn quốc gia Lào Lạn Xạng bước vào thời kỳ hưng thịnh nhất trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, nghệ thuật... Trải qua nhiều thế kỷ du nhập và phát triển, Phật giáo đã được dân tộc hóa, địa phương hóa và quần chúng hóa sâu sắc. Hiến pháp của vương quốc Lào trước đây quy định đạo Phật là quốc giáo, với khẩu hiệu: Tổ quốc, Đạo Phật và Nhà vua. c. Giai đoạn tan rã của nhà nước Lào Lạn Xạng và khởi đầu thời kỳ xâm nhập của văn hóa phương Tây. Lịch sử ngàn năm văn hiến của nước Lào Lạn-Xang mất đi, quê hương làng mạc bị tàn phá, nhân dân vô cùng khổ cực. Hơn một thế kỷ, nước Lào bị phong kiến Xiêm thống trị (đầu thế kỷ XVIII-XIX). Nước Lào Lạn Xạng bị chia cắt do sự phân chia quyền lợi giữa thực dân Pháp và Xiêm. Sông Mêkông gắn liền với sự phát triển của dân tộc chảy qua trung tâm đất nước biến thành biên giới giữa hai quốc gia. 1.2.1.3. Văn hóa thời kỳ hiện đại Giai đoạn này có hai xu hướng trái ngược nhau song song tồn tại - chống Âu hóa và văn hóa giao lưu XHCN (văn hóa hiện đại). Những đặc điểm chủ yếu của giai đoạn văn hóa này là: ý thức về quốc gia thống nhất được nâng cao, bổ sung cho ý thức cộng đồng 9 truyền thống; ý thức về vai trò con người cá nhân được đề cao; tư tưởng Mác-xít có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội và quá trình đô thị hóa diễn ra ngày một nhanh hơn trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa. 1.2.2. Văn hóa quốc gia Lào nhìn từ không gian 1.2.2.1. Không gian địa lý lãnh thổ Lào là một trong những nước có nền kinh tế đang phát triển, nằm sâu trong phần lục địa thuộc khu vực Đông Nam Á, với diện tích khoảng 236.800 km2. Toàn bộ lãnh thổ Lào chạy dài theo sông Mêkông, có đường biên giới chung với 5 nước. Chính vị trí địa lý khép kín như vậy đã làm cho nước Lào bị hạn chế rất lớn trong việc giao lưu với các nền văn minh. Hơn nữa, vùng Bắc là nơi núi cao, không gian văn hóa Lào ở vùng này về cơ bản có những nét khác biệt so với văn hóa khu vực. Đối với nhân dân các bộ tộc Lào, rừng có vị trí đặc biệt trong tâm tư tình cảm của mỗi người. Rừng còn là quê hương của nhiều loài động vật, trong đó con voi được các bộ tộc Lào ưa chuộng, trở thành tên của vương quốc Lào thời vua Phà Ngủm từ năm 1353, với tên nước là Lạn Xạng (Triệu Voi). 1.2.2.2. Không gian văn hóa bản địa Trước khi tiếp xúc với văn hóa Ấn Độ, các bộ tộc Lào đã có một đời sống văn hóa khá cao. Về mặt văn hóa vật chất, thành tựu rõ nhất là văn hóa nông nghiệp lúa nước, sống bằng hái lượm, làm nghề trồng lúa, xây nhà ở… Đặc điểm văn hóa cổ truyền người Lào được quy định bởi một hệ sinh thái nhiệt đới gió mùa, tạo ra ba đặc trưng văn hóa dân tộc tiêu biểu là: ở nhà sàn, ăn cơm nếp, thổi khèn bè. 10 Trong cơ cấu tổ chức xã hội, làng giữ vai trò quan trọng nhất. Trong làng, sư sãi và người già luôn được mọi người quý trọng. Tư duy của người Lào về vũ trụ nhấn mạnh đến Nước. Nước là nguồn gốc đầu tiên để con người sinh sôi và phát triển. Cho nên, người Lào gọi sông Mêkông là sông Mẹ, nhắc đến đại tam tài là Thiên Địa - Nước. Về phương diện tôn giáo, dù Phật giáo sớm chiếm ưu thế và trở thành quốc giáo, nhưng vẫn tồn tại các hình thái tín ngưỡng vạn vật hữu linh, thờ phụng tổ tiên và thờ thần Đất. Vì thế, chung quanh cuộc sống con người đều liên quan với thờ thần Đất, thần Nước và hệ thống thần Ma bảo hộ mương, bản, nhà của người Lào nhö Hít Xíp Xoûng hay Khoûng Xíp Xi. 1.2.2.3. Không gian giao lưu và tiếp biến văn hóa Trong lịch sử hơn bốn thế kỷ, nhân dân các bộ tộc Lào cũng tiến hành nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, chống lại sự xâm chiếm và phụ thuộc của các triều đại phong kiến Myanmar, Xiêm, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Việc thành lập nước CHDCND Lào thống nhất ngày 02 tháng 12 năm 1975 mở ra kỷ nguyên mới cho sự kiến thiết Tổ quốc theo đường lối XHCN, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, tạo ra tư thế mới cho sự phát triển, xây dựng nền văn hóa có tính chất và nội dung: Dân tộc, Tiên tiến và Đại chúng. 11 1.2.3. Văn hóa quốc gia Lào nhìn từ chủ thê 1.2.3.1. Người Lào Người Lào thuộc về hai nhóm chủng tộc: Nhóm thứ nhất là nhóm chủng tộc Indonesia cổ, chủ yếu ở các miền rừng núi, thuộc ngữ hệ Môn-Khmer; nhóm thứ hai là nhóm “Thái hay Tày”, từ miền Nam Trung Quốc xuống sinh sống ở khu Bắc Lào từ thế kỷ XIII. Trong quá trình lập quốc, các tộc người này đã tiếp nhận văn hóa Môn-Khmer, rồi lại tiếp nhận ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ. Do điều kiện địa lý tự nhiên, Lào là một khu vực có sự chia cắt và sự phân biệt về văn hóa tùy nơi cao hay thấp: người ở trên cao được gọi là Lào Xủng, người ở sườn núi là Lào Thơng và người ở đồng bằng là Lào Lùm - tộc người đông nhất ở Lào, chiếm khoảng 56% dân số cả nước. Trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa ba nhóm dân cư này cũng không đồng đều, kề cả về thu nhập lẫn trình độ phát triển công nghệ. Hiện nay, trong số 6 triệu dân, có khoảng 46 bộ tộc, tạo thành nền văn hóa Lào phong phú về tiếng nói, văn học, nghệ thuật, v.v. đặc biệt là hệ thống ngôn ngữ. Nhìn chung, việc phân bố dân cư trên các vùng, miền của nước Lào chưa đồng đều, dân số tập trung ở thành thị, đặc biệt ở thành phố lớn. 1.2.3.2. Thang giá trị văn hóa của người Lào Thang giá trị chung nhất của toàn xã hội Lào ngày nay phụ thuộc vào tính chất xã hội và môi trường xã hội về mặt ứng xử để mọi người noi theo, với các đặc trưng sau: Tôn sùng đạo Phật; thích làm công chức hơn buôn bán; tôn trọng nhà sư, quý trọng người già, người bề trên; thương yêu bạn bè; biết ơn người có công với mình; rộng lượng, giúp người; ưa thích cuộc sống tự do; không đúng giờ; thích vui chơi, có nhiều lễ hội (một dân tộc của lễ hội); mê tín dị đoan, thích xem giờ, xem ngày lành tháng tốt; tôn sùng cá nhân hơn lý tưởng; ưa mặc cả; không thích những thay đổi đột ngột; không quá chú tâm về chính trị; cả nể; không coi trọng tích cóp của cải cho riêng mình; gần gũi với thiên nhiên; rất tin tưởng và duy trì tốt tín ngưỡng phồn thực; đơn giản trong cuộc sống; gắn bó với đời sống gia đình; hiếu khách; ở nhà sàn; sân nhà rộng; 12 thổi khèn bè; ăn cơm nếp, món nướng, món khô, ăn cá mắm; dễ quên, dễ bỏ qua; hay mĩm cười dù bất cứ tình huống nào… Đây là những giá trị tiêu biểu nhất và cơ bản nhất trong hệ giá trị văn hóa của Lào. Những giá trị này thể hiện trong tư tưởng triết học và chính trị, trong tư tưởng đạo đức và thẩm mỹ, trong văn học nghệ thuật, cũng như trong phong tục tập quán và nó sẽ định hướng cho sự lựa chọn mô hình phát triển xã hội của Lào. 1.2.3.3. Một số đặc trưng văn hóa của người Lào Khác với hệ thống thờ thần có những khác biệt giữa các bộ tộc, các hiện tượng văn hóa văn nghệ lại có sự đan xen, ảnh hưởng qua lại và vay mượn lẫn nhau, làm cho văn hóa từng bộ tộc thêm đa dạng, phong phú, đồng thời làm cho các bộ tộc trong nước ngày càng xích lại gần nhau. a. Văn nghệ dân gian Trong ngày lễ hội, trong khi rước hoặc ở sân chùa, thường có các hình thức diễn xướng dân gian gồm: ca hát (khắp – lăm), đối ca nam nữ, điệu múa, âm nhạc, trong đó phổ biến nhất ở Lào là âm nhạc ống khèn, cồng chiêng. Loại khèn của Lào có 9, 10 và 12 ống nứa, dài ngắn khác nhau và xuyên qua một quả bầu có cổ dài dùng làm miệng thổi. b. Lễ hội truyền thống “Khôn Lào mặc muôn” (Người Lào thích vui). Lào là đất nước lễ hội: Hít-xíp-xỏng (tục tổ chức 12 ngày lễ hội trong năm), Khỏngxíp-xi (quy định tục tổ chức lễ làng), Pa phê ni xíp hạ (mười lăm điều quy định)… Tiếng Lào gọi lễ hội là Bun, có nghĩa là Phúc, cho nên ý nghĩa của lễ hội là làm phúc. Phúc cho bản thân mình và phúc cho người khác. Ngoài những ngày lễ hội theo lịch Phật giáo, còn có những ngày lễ hội ở từng địa phương như hội That luống (hội cúng Tháp lớn) ở thủ đô Viêng chăn, hội Si mương (hội cúng nữ Thành hoàng 13 Viêng Chăn), lễ hội cúng tiến trâu, lễ hội đánh cá, lễ hội hiến tế máu ở Vat Phu… Đây là lễ hội được tiếp thu của những nhóm tộc người Môn – Khmer, cư dân bản địa lâu đời ở trên đất Lào. c. Ẩm thực, trang phục Do ăn xôi là chủ yếu, nên người Lào hay ăn các món ăn khô, đậm đà như xào, nấu. Ngoài muối, người Lào thường dùng Pa đẹch (mắm cá) để nêm thức ăn như nước mắm. Những ngày lễ hội thường có món gỏi cá hoặc thịt... gọi là Kọi hoặc Lạp (tùy vùng miền gọi khác nhau). Cư dân Lào lựa trang phục chủ yếu là: nữ mặc váy và nam mặc sa trùng hay đóng khố. Phụ nữ thường búi tóc, một số địa phương như Luang Phra Bang có tục búi tóc lệch hoặc thẳng để phân biệt giữa các cô gái có chồng và chưa có chồng. Theo tập quán cổ truyền, phụ nữ Lào mặc váy có cạp, có gấu, không quá ngắn hoặc quá dài. Thanh niên Lào (trai) thường cắt tóc ngắn, mặc áo cổ tròn tay ngắn, quần đùi, bên ngoài quấn chiếc khăn gọi là Phạ xa lông màu, kẻ ô vuông. d. Phong tục vòng đời Người Lào quan niệm sinh đẻ, tu hành, cưới xin, ma chay là những bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời mỗi người. Việc đi tu trở thành tục lệ phổ biến đối với người Lào. Những người qua tu hành được gọi là người « lành », được xã hội trọng vọng, là một trong những tiêu chuẩn được các cô gái Lào ngưỡng mộ. Trong xã hội Lào trước kia, trong suốt cuộc đời nếu không qua một lần đi tu là điều không bình thường. Kết luận chương 1 Trên cơ sở nhận thức, nghiên cứu, đánh giá về tình hình xây dựng và phát triển nền văn hóa, cũng như các hoạt động quản lý văn hóa ở CHDCND Lào, có thể rút ra những kết luận sau: 14 1. Nhà nước có vai trò quan trọng trong quản lý các hoạt động văn hóa. 2. Với vị trí địa lý và điều kiện thiên nhiên phong phú của đất nước, đã tạo cho người dân có cuộc sống thanh bình, gia đình vui vẻ, hòa thuận, con người hiền hòa, tạo nên bản sắc chung của văn hóa Lào. 3. Trong quá trình giao lưu và phát triển văn hóa, CHDCND Lào đã tiếp thu có chọn lọc những yếu tố tiến bộ và phù hợp của các nền văn hóa lớn trên thế giới. Chương II Thực trạng quản lý văn hóa ở CHDCND Lào và tham chiếu kinh nghiệm của Việt Nam. Ở chương 2, chúng tôi căn cứ theo định hướng, chức năng quản lý của nhà nước, dựa vào những kết quả hoạt động quản lý văn hóa, tập trung vào những bất cập, lấy đó làm minh chứng cho các nhận định, đánh giá về mặt quản lý văn hóa. 2.1 Khái quát Quản lý văn hóa ở CHDCND Lào Đối với hoạt động quản lý văn hóa ở CHDCND Lào: Hội nghị Ban Chấp hạnh Trung ương Đảng lần thứ 5 (khóa IX) của Đảng NDCM Lào với Chiến lược phát triển nền văn hóa Quốc gia từ năm 2000 đến 2010 là bước thể hiện nâng cao vai trò của chủ thể tổ chức hoạt động văn hóa, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN theo cơ chế xã hội hóa văn hóa. 15 Về mặt lý luận, quản lý nhà nước về văn hóa và công tác tư tưởng gắn liền với quyền lực Nhà nước. Mô hình quản lý văn hóa của Lào được xác định theo 3 cấp và cơ chế: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Lãnh đạo cũng là quản lý, nhưng đó là quản lý cấp chiến lược, biểu thị ở việc định ra đường lối, chủ trương cho từng giai đoạn phát triển của đất nước. Quản lý cũng là lãnh đạo, nhưng lãnh đạo ở cấp chiến thuật, biểu thị ở việc đề ra các chính sách, thể chế (luật lệ, quy chế) để thực hiện các đường lối, chủ trương của Đảng. 2.1.1 Chủ trương quản lý văn hóa của Đảng NDCM Lào Đại hội Đảng NDCM Lào khóa III năm 1982 về việc tăng cường bảo tồn và phát huy nền văn hóa các dân tộc Lào theo tính đa chủ thể; Đại hội Đảng NDCM Lào khóa IV năm 1986 về tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, chuyển cơ cấu quản lý kinh tế - xã hội tự cấp, tự túc sang cơ cấu kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Đại hội khóa V năm 1990 của Đảng NDCM Lào khẳng định: “...Vấn đề cơ bản là tích cực phát huy chức năng, vai trò của cơ quan quyền lực Nhà nước trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật”. Đây chính là cẩm nang hướng dẫn xác định chế độ chính trị, kinh tế - xã hội, quyền và nghĩa vụ của công dân và hệ thống tổ chức của bộ máy nhà nước. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm trên lĩnh vực quản lý văn hóa được ghi trong Nghị quyết Trung ương Đảng lần 9 (khóa V) là đổi mới và nâng cao cơ chế quản lý văn hóa, đặt mục tiêu cho toàn Đảng, toàn dân xây dựng nền văn hóa theo xu hướng: Dân tộc, Quần chúng, Tiên tiến, làm nền tảng bảo tồn và phát huy văn hóa các bộ tộc Lào. Nghị quyết số 39/BTĐ ngày 19 tháng 06 năm 1993 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng ban hành một số văn bản quan trọng về nâng cao trình độ lãnh đạo – quản lý trên lĩnh vực thông tin - văn hóa, trong đó yêu cầu phát huy mọi tiềm năng tăng trưởng cao trình độ lãnh đạo của toàn bộ Đảng, cán bộ Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ về quản lý trên lĩnh vực văn hóa theo hướng đa dạng chủ thể hoạt động quản lý. 16 2.1.2 Chính sách văn hóa ở CHDCND Lào Chính sách văn hóa ở nước CHDCND Lào gồm có hai quá trình: một là, Đảng định ra đường lối, quan niệm; hai là, Nhà nước thể chế hóa đường lối, quan niệm ấy thành các văn bản pháp luật. Nghị quyết Trung ương lần thứ 5 (khóa IX) đặt ra nhiệm vụ trung tâm để đổi mới và nâng cao cơ chế quản lý văn hóa theo hướng: Dân tộc, Quần chúng và Tiên tiến. Nhận thức mới trong quan điểm của Đảng về chính sách văn hóa là khẳng định văn hóa có tác động tích cực tới kinh tế và phát triển. 2.1.3. Bộ máy quản lý văn hóa ở CHDCND Lào 2.1.3.1. Bộ máy quản lý hành chính của Nhà nước CHDCND Lào + Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1991 Đây là giai đoạn CHDCND Lào mới được thành lập, hệ thống các cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến địa phương mới được củng cố, kiện toàn và đổi mới theo mô hình tổ chức bộ máy nhà nước XHCN kiểu các nước XHCN Đông Âu, đặc biệt là Xô Viết. - Sở đồ hệ thống tổ chức QL.HCNN về VH ở CHDCND Lào. - Trước năm 1991: BỘ THÔNG TIN-VĂN HÓA CỤC VĂN HÓA SỞ THÔNG TIN-VĂN HÓA UBND TỈNH/THỦ ĐÔ UBND HUYỆN 17 PHÒNG TT-VH THUỘC HUYỆN UBND Xã Cán bộ VH.xã Ban Nhân dân Làng Ghỉ chú: Quan hệ chỉ đạo nghiệp vụ Quan hệ trực thuộc Từ năm 1986, CHDCND Lào tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện. Đại hội Đảng NDCM Lào lần V (1991) đã đánh giá một bước đổi mới quan trọng đối với sự hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước ở CHDCND Lào. Ngày 15-8-1991, Hiến pháp đầu tiên của nước CHDCND Lào được Quốc hội thông qua. Hiến pháp quy định bản là cấp chính quyền cơ sở, nên cấp chính quyền nhà nước ở địa phương không còn chính quyền cấp xã. - Sở đồ hệ thống tổ chức QL.HCNN về VH ở CHDCND Lào. Từ năm 1991 đến nay: BỘ THÔNG TIN-VĂN HÓA CỤC VĂN HÓA SỞ THÔNG TIN-VĂN HÓA UBND TỈNH/THỦ ĐÔ PHÒNG TT-VH THUỘC HUYỆN UBND HUYỆN 18 Ban Nhân dân Làng Ghỉ chú: Quan hệ chỉ đạo nghiệp vụ Quan hệ trực thuộc 2.1.3.2. Các cơ quan chuyên môn theo ngành dọc (Sở) của các Bộ, cơ quan ngang Bộ đóng ở địa phương So với cấu trúc quản lý kinh tế - xã hội, hệ thống văn hóa chính trị CHDCND Lào gồm: Đảng – Nhà nước – các đoàn thể quần chúng nhân dân. Cơ chế quản lý kinh tế - xã hội được vận hành là: Thứ nhất, Đảng lãnh đạo - định ra đường lối; Thứ hai, Nhà nước quản lý - thể chế hóa đường lối, quan điểm ấy thành các văn bản pháp luật; thứ ba, nhân dân lao động làm chủ. Đó là một hệ thống chính trị của Nhà nước thực hiện quản lý đất nước theo nguyên tắc: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, thực hiện dân chủ ở ngay tại cơ sở - đơn vị trực tiếp, hạt nhân của hệ thống chính trị. Công tác quản lý văn hóa thể hiện rõ vai trò của cơ quan quản lý nhà nước. Giai đoạn 1975 - 1981, ở CHDCND Lào có 4 cơ quan nắm vai trò quản lý nhà nước về văn hóa: Bộ giáo dục, Bộ lễ tân, Bộ tuyên truyền và Bộ thể thao. Năm 1982, Bộ thông tin - văn hóa được thành lập và đảm nhiệm chức năng quản lý văn hóa. Về phương diện tổ chức, các cơ quan chuyên môn theo ngành dọc (Sở) là những cơ quan của các Bộ, ngành trung ương đóng ở địa phương, chứ không phải thuộc chính quyền tỉnh. Thủ trưởng và phó thủ trưởng các cơ quan này (Giám đốc, Phó Giám đốc Sở) do Bộ trưởng hoặc thủ trưởng cơ quan ngang Bộ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức; chịu trách nhiệm trực tiếp trước Bộ, ngành trung ương. 2.1.3.3. Quản lý nhà nước đối với quản lý văn hóa ở CHDCND Lào 19
- Xem thêm -