Quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng vid public - thực trạng và giải pháp

  • Số trang: 112 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 12 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG -------Nguyễn Quang Vinh QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG VID PUBLIC THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Hà Nội - 2008 BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG -------Nguyễn Quang Vinh QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG VID PUBLIC THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP Chuyên ngành : Kinh tế Thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế Mã số : 60.31.07 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Người hướng dẫn khoa học: TS. Vũ Thị Kim Oanh Hà Nội - 2008 DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT Ký hiệu Các chữ viết tắt VIDPB Ngân hàng VID Public Bank NHTM Ngân hàng Thương mại NHTMCP Ngân hàng Thương mại Cổ phần NHTMNN Ngân hàng Thương mại Nhà nước NHNN Ngân hàng Nhà nước TCTD Tổ chức Tín dụng TBCN Tư bản chủ nghĩa WTO Tổ chức Thương mại Thế giới LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài : Trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng tại Việt Nam hiện nay, lợi nhuận từ hoạt động tín dụng luôn chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng thu nhập của các Ngân hàng, khoản từ 60% đến 70%. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau như hệ thống thông tin thiếu minh bạch và không đầy đủ, trình độ quản trị rủi ro còn nhiều hạn chế, tính chuyên nghiệp của cán bộ tín dụng chưa cao… mà hoạt động kinh doanh Ngân hàng nói chung, và hoạt động tín dụng nói riêng, luôn tiềm ẩn những rủi ro cao, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế mới nổi như Việt Nam. Chính vì vậy, đảm bảo hạn chế rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng Ngân hàng, hướng đến các chuẩn mực quốc tế trong quản trị rủi ro và phù hợp với môi trường hội nhập đang là một đòi hỏi cấp thiết đặt ra đối với các Ngân hàng thương mại nói chung và Ngân hàng VID Public nói riêng. Quản lý rủi ro tín dụng đã trở thành một vấn đề thu hút sự quan tâm của toàn bộ Ban lãnh đạo Ngân hàng cũng như nó quyết định vấn đề sống còn của Ngân hàng trong những năm tới. Với thực tế công tác gắn bó tại Ngân hàng VID Public, chứng kiến sự biến động mạnh trên thị trường tài chính ngân hàng sau hơn một năm Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), tôi đã chọn “Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VID Public- Thực trạng và giải pháp” làm đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế với mong muốn góp phần đẩy mạnh quản lý rủi ro tín dụng nói riêng cũng như sự phát triển của Ngân hàng nói chung trong thời gian tới. 2. Tình hình nghiên cứu Thực tế cho đến hiện nay, việc nghiên cứu rủi ro tín dụng không phải là vấn đề mới mà cũng đã có nhiều bài nghiên cứu, đánh giá nhiều khía cạnh khác nhau, tại nhiều Ngân hàng Thương mại khác nhau, chẳng hạn như 2 “Phân tích tài chính doanh nghiệp- Công cụ hữu hiệu để phòng ngừa rủi ro tín dụng” của Nguyễn Ngọc Anh, hay “Rủi ro tín dụng của hệ thống Ngân hàng Thương mại Nhà nước Việt Nam- Cách tiếp cận từ tính chất sở hữu” của TS. Phan Thị Thu Hà, hay là “Rủi ro trong hoạt động tín dụng Ngân hàng-Nhìn từ góc độ đạo đức” của Lê Văn Hùng…Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VID Public. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài : - Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý rủi ro tín dụng trong các NHTM. - Phân tích thực trạng quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng VID Public. - Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàngVID Public. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu : Trọng tâm nghiên cứu của đề tài là quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VID Public ở tầm vi mô, dựa trên phân tích tình hình quản lý rủi ro tín dụng chung tại các NHTM Việt Nam và thực tiến áp dụng tại Ngân hàng VID Public, từ đó đề xuất những giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng cho VID Public. 5. Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng các phương pháp đi từ cái chung đến cái riêng, khảo sát, phân tích tổng hợp từ tình hình thực tế để từ đó đưa ra những nhận định, ý kiến riêng của người nghiên cứu. 6. Nội dung và bố cục của đề tài Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương: - Chương 1 : Tổng quan về quản lý rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng 3 Thương mại. - Chương 2 : Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VID Public. - Chương 3 : Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VID Public. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI. 1.1 Ngân hàng thƣơng mại và hoạt động tín dụng. 1.1.1 Ngân hàng thương mại. Cùng với sự ra đời và phát triển của phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa, những yêu cầu về hoạt động tiền tệ được đặt ra và đòi hỏi có một tổ chức chuyên môn hoạt động trên lĩnh vực này. Vào thế kỷ XV, ngân hàng ra đời nhằm thực hiện các chức năng phát hành giấy bạc vào lưu thông, nhận tiền gửi của khách hàng, cho vay, đổi tiền, chuyển ngân và các dịch vụ tiền tệ khác. Cuối thế kỷ XIX, sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển kéo theo sự phát triển về quy mô và phạm vi nghiệp vụ của các ngân hàng . Song trong lưu thông có quá nhiều loại tiền do nhiều ngân hàng phát hành làm cản trở việc lưu thông hàng hoá. Do vậy Nhà nước đã phải ban hành đạo luật chỉ cho một số ngân hàng được phát hành tiền. Mỗi quốc gia chỉ có một hoặc một số ngân hàng được phát hành tiền. Đó là các ngân hàng có tiềm lực và quy mô lớn, gọi là các Ngân hàng Trung Ương. Còn các Ngân hàng không được phép phát hành tiền gọi là các Ngân hàng thương mại. Vào đầu thế kỷ XX, vấn đề đặt ra là các ngân hàng phát hành tiền thuộc quyền sở hữu tư nhân, do đó sự điều tiết của nhà nước đối với các hoạt động kinh tế vĩ mô trong tình hình kinh tế phát triển đã gặp không ít khó khăn. Tiếp đến cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 đã buộc các nước phải có biện pháp hữu hiệu để duy trì việc phát triển kinh tế, do đó việc phân tách chức năng của ngân hàng được thể hiện ở mức độ cao hơn: hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp: - Ngân hàng Trung ương vừa làm chức năng phát hành vừa làm chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng ngân hàng. 5 - Ngân hàng kinh doanh (ngân hàng thương mại): Là trung gian tài chính có giấy kinh doanh của chính phủ để cho vay tiền và mở các khoản tiền gửi... và chuyên về việc đưa người cho vay và người đi vay gặp nhau là trung gian tài chính, thực hiện kinh doanh tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng, có vai trò quan trọng trong việc tập trung, thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi để đầu tư vào những đơn vị kinh tế làm ăn có lãi thuộc mọi thành phần kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau về NHTM, nhưng chúng ta có thể nhận thấy các NHTM đều có những điểm chung đó là việc nhận tiền ký thác - tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn, để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu và các dịch vụ kinh doanh khác của chính Ngân hàng. Cùng với sự phát triển của kinh tế thế giới, các NHTM cũng từng bước phát triển và hoàn thiện bản thân, trở thành một hạt nhân thiết yếu trong hoạt động kinh tế của mỗi quốc gia. Trong suốt quá trình hình thành và hoạt động của mình, các NHTM ngày càng thể hiện rõ vai trò đặc biệt quan trọng của mình trong việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Các NHTM thực hiện các nghiệp vụ huy động nguồn vốn nhàn rỗi trên thị trường, từ nguồn vốn đó tiến hành cho vay hỗ trợ các cá nhân và doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh của mình để đạt được hiệu quả kinh tế cao, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của kinh tế quốc gia. Các hoạt động chính của NHTM bao gồm hoạt động huy động vốn, hoạt động tín dụng và các hoạt động dịch vụ ngân hàng khác. Huy động vốn là một hoạt động rất quan trọng trong đó các NHTM bằng cách cung ứng những điều kiện thuận lợi và những phương thức dễ dàng để nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác. Đổi lại, các doanh nghiệp, cá nhân, các TCTD khác được nhận một khoản tiền thưởng dưới danh nghĩa lãi suất trên tổng số tiền gửi, với mức độ 6 an toàn và có tính thanh khoản cao. Ngoài ra, các NHTM còn huy động vốn dưới dạng phát hành các giấy tờ có giá, vay vốn ngắn hạn của NHNN dưới hình thức tái cấp vốn, vay của các TCTD khác...Số tiền huy động được thông qua hình thức tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và cá nhân. Hoạt động tín dụng là một hoạt động quan trọng hàng đầu trong các hoạt động kinh doanh của các NHTM, đồng thời cũng đem lại lợi nhuận cao nhất cho các Ngân hàng. Các chi tiết cụ thể về hoạt động tín dụng của Ngân hàng sẽ được đề cập chi tiết và cụ thể tại phần 1.1.2 của bài viết. Các dịch vụ ngân hàng khác: Bên cạnh hoạt động huy động vốn và hoạt động tín dụng nêu trên, các NHTM còn cung cấp các dịch vụ khác cho các khách hàng, cụ thể như : - Dịch vụ thanh toán : Việc đưa ra một cơ chế thanh toán, hay nói một cách khác, sự vận động vốn là một nghiệp vụ quan trọng do các NHTM thực hiện thông qua việc : mở tài khoản; cung ứng các phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng; thực hiện các dịch vụ thu hộ và chi hộ; dịch vụ ngân quỹ... thông qua mối quan hệ giữa ngân hàng nước này là đại lý cho ngân hàng nước khác với công nghệ ngân hàng hiện đại đã làm cho quá trình thanh toán quốc tế diễn ra nhanh chóng và thuận lợi. - Thực hiện việc góp vốn mua cổ phần của các TCTD khác hoặc của các doanh nghiệp từ nguồn vốn điều lệ và quỹ dự trữ của mình. - Kinh doanh ngoại hối và vàng. - Uỷ thác và nhận uỷ thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng; kinh doanh, cung ứng dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ tư vấn tài chính tiền tệ cho khách hàng, dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác... 7 1.1.2 Hoạt động tín dụng Chức năng cơ bản của NHTM là mở rộng tín dụng từ nguồn vốn huy động được, đối với các khách hàng tin cậy. Ngay từ khi mới bắt đầu, những người tổ chức các NHTM đã luôn tìm kiếm các cơ hội để thực hiện cho vay và đầu tư, hưởng lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất huy động (lãi suất tiền gửi) sau khi trừ đi các chi phí. Họ coi đó là chức năng quan trọng nhất của mình. C.Mác đã viết “cái mà người chủ ngân hàng kinh doanh là bản thân tín dụng”. Ông cũng đã viết “Bản thân chế độ tín dụng, một mặt là một hình thái nội tại của phương thức sản xuất TBCN, mặt khác là một động lực thúc đẩy phương thức sản xuất TBCN tiến lên hình thái cao hơn, tột cùng có thể của nó…” và “Chế độ tín dụng ngân hàng đẩy nhanh tốc độ phát triển của lực lượng sản xuất vật chất và sự hình thành thị trường thế giới; đẩy hai yếu tố đó phát triển đến một mức độ cao nhất định, với tư cách là cơ sở vật chất của một hình thái sản xuất mới…” [8] Tín dụng ngân hàng có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế, nó đã tài trợ cho các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ, xuất nhập khẩu....của đất nước; đã cung cấp những sản phẩm đường vòng cho nhu cầu dân sinh và phát triển đất nước thông qua quá trình từ sản xuất đến lưu thông. Như vậy, trong việc tạo ra khả năng tín dụng, các NHTM đã và đang thực hiện chức năng xã hội đặc biệt của mình, làm cho sản phẩm xã hội tăng lên, vốn đầu tư được mở rộng và từ đó, đời sống dân chúng được cải thiện. Sở dĩ tín dụng ngân hàng có thể đóng được vai trò quan trọng của mình là do nó được hình thành và phát triển như một quy luật tất yếu khách quan của nền kinh tế. Hoạt động tín dụng là một nghiệp vụ hàng đầu, có ý nghĩa quan trọng, 8 quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng, song nó không chỉ đơn giản và giới hạn ảnh hưởng trong phạm vi một ngân hàng, một ngành, một địa phương một thời điểm hay một giai đoạn... mà còn ảnh hưởng tới chất lượng, hiệu quả, năng suất lao động xã hội, ảnh hưởng tới bước tiến của cả một nền kinh tế, của một phương thức sản xuất, của một giai đoạn phát triển xã hội, của trình độ hoà nhập vào cộng đồng kinh tế thế giới hiện đại. Nhận thức đầy đủ đúng đắn vai trò của tín dụng đòi hỏi con người sử dụng nó phải biết tôn trọng, đối xử với nó như một khoa học kinh tế thực sự. Cho nên dù ở bất cứ một thời kỳ nào, bối cảnh nào thì yêu cầu cơ bản của tín dụng ngân hàng vẫn phải là hiện thực, khả thi và hiệu quả. Hiện thực tức là hoạt động tín dụng phải dựa trên tình hình thực tế của nền kinh tế, mục đích, nhu cầu và tiềm lực thực tế của khách hàng. Khả thi có nghĩa là có khả năng thực hiện khoản vay, tức khoản vay phải phù hợp với định hướng cho vay của Ngân hàng, khách hàng vay phải có đủ khả năng trả nợ đúng hạn, hay tài sản đảm bảo có đủ giá trị đảm bảo cho khoản vay… Đồng thời, bên cạnh hỗ trợ tài chính cho khách hàng, khoản vay cũng cần đem lại lợi nhuận nhất định cho Ngân hàng, hạn chế những rủi ro có thể phát sinh, góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế-xã hội. Đây chính là yêu cầu về tính hiệu quả của tín dụng. Trải qua nhiều phương thức sản xuất khác nhau các nhà kinh tế học đã đúc kết hoạt động tín dụng - với đúng nghĩa như C.Mác đã chỉ ra - phải tuân theo các nguyên tắc căn bản chung nhất: - Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích có hiệu quả; - Vốn vay phải được đảm bảo bằng giá trị vật tư hàng hoá tương đương; - Vốn vay phải được hoàn trả đủ cả gốc và lãi đúng kỳ hạn cam kết. Ba nguyên tắc tín dụng trên đây hình thành như một quy luật phát triển nội tại của hoạt động tín dụng, là quy định bất khả vi phạm, là mối quan hệ 9 không thể tách rời trong kinh doanh tín dụng. Thực tế cho thấy rằng một khi chỉ một trong ba nguyên tắc bị coi nhẹ thì sớm muộn cũng dẫn đến quan hệ tín dụng bị phá vỡ, tín dụng sẽ mất dần đi vai trò và tác dụng của mình và trở thành vật cản kìm hãm hoặc đẩy lùi sự phát triển của nền kinh tế. Cho nên, khi nói đến vai trò “bà đỡ” của tín dụng ngân hàng đối với tiến trình phát triển kinh tế là nói đến loại hình tín dụng đúng nghĩa, tuân thủ nghiêm ngặt cả ba nguyên tắc tín dụng trên đây và có chất lượng cao. Chất lượng của tín dụng không phải là một khái niệm mơ hồ, trừu tượng. Nó được thể hiện thông qua kết quả của quá trình tuân thủ ba nguyên tắc này và cuối cùng chất lượng tín dụng được phản ánh đúng như vai trò quan trọng của tín dụng đã được đề cập ở trên, vào sự phát đạt của từng tổ chức kinh tế trong xã hội nói riêng, vào tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế và vào tiến bộ xã hội trong từng thời kỳ nói chung. Qua tìm hiểu chức năng nghiệp vụ và quá trình thực hiện nghiệp vụ của NHTM, ta thấy rõ vai trò trung gian của ngân hàng và mối quan hệ tách biệt giữa người cho vay tiền và người đi vay tiền: khi Ngân hàng phát ra một khoản tiền vay, số vốn đó nằm ngoài tầm kiểm soát của Ngân hàng, nên sự vận động của nó như thế nào Ngân hàng rất khó theo dõi. Khả năng rủi ro chính là ở đây. Xét về mặt chủ quan, việc chọn lựa khách hàng cho vay là rất quan trọng đối với Ngân hàng vì nếu tìm hiểu không kỹ lưỡng về khách hàng thì Ngân hàng có thể chuốc lấy tai hoạ cho mình khi những đồng tiền ra đi mà không trở về. Còn về mặt khách quan, mọi rủi ro đối với khách hàng trong kinh doanh đều là rủi ro của Ngân hàng, bởi vốn kinh doanh của khách hàng là một phần vốn vay từ Ngân hàng. Trong khi đó, nguồn vốn để Ngân hàng đem đi cho vay chủ yếu lấy từ tiền huy động được, tức là phần lớn số tiền để cho vay không thuộc sở hữu của Ngân hàng. Ngân hàng phải có trách nhiệm bảo quản, gìn giữ và làm sinh lợi số tiền huy động đó. Vì vậy, trong hoạt động kinh doanh của mình, NHTM sẽ phải đối mặt với rủi ro từ nhiều phía: rủi ro 10 từ các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hoặc các cá nhân đi vay, rủi ro từ phía người gửi tiền và rủi ro từ phía các ngân hàng thương mại khác. Đó là còn chưa kể đến những rủi ro riêng có khác của hoạt động kinh doanh ngân hàng. 1.2 Rủi ro tín dụng và nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng. 1.2.1 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng và phân loại. Theo quan niệm truyền thống, rủi ro là những sự kiện xảy ra có thể làm cho mất mát tài sản hay làm phát sinh một khoản nợ. Tuy nhiên, theo quan điểm về rủi ro theo quan niệm hiện đại bao hàm nghĩa rộng hơn và không chỉ tính đến rủi ro tài chính mà còn bao gồm cả những rủi ro liên quan đến các mục tiêu hoạt động và mục tiêu chiến lược. Theo đó, rủi ro là khả năng những sự kiện chưa chắc chắn trong tương lai sẽ làm cho chủ thể không đạt được những mục tiêu chiến lược và mục tiêu hoạt động, cũng như chi phí cơ hội của việc làm mất những cơ hội thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, kinh doanh và rủi ro là hai cặp phạm trù cặp đôi. Kinh tế thị trường làm đa dạng hóa các thành phần kinh tế, bình đẳng hóa các hoạt động của các thành phần này và thúc đẩy cạnh tranh lẫn nhau. Rủi ro-tuy là sự bất trắc gây thiệt hại mất mát, là sự bất trắc cụ thể liên quan đến một biến cố không mong đợi, song lại là hiện tượng đồng hành cùng với các hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường, trong quá trình cạnh tranh. Rủi ro xuất hiện ở những điểm yếu, kém hiệu quả, mất cân đối trong quá trình phát triển kinh tế. Rủi ro vừa là nguyên nhân, vừa là hậu quả của những hoạt động kinh tế không có hiệu quả. Nó tạo tiền đề cho quá trình đào thải tự nhiên các doanh nghiệp yếu kém, thúc đẩy sự chấn chỉnh, sự thích nghi của các doanh nghiệp, tạo xu hướng phát triển ổn định và có hiệu quả cho nền kinh tế. Trong điều kiện kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại (NHTM) cũng không nằm ngoài sự tác động trên. Thậm chí với hoạt động ngân hàng hầu như không có loại nghiệp vụ nào, không có loại 11 dịch vụ nào của ngân hàng là không có rủi ro. Bởi lẽ, ngân hàng thương mại được coi là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, mà hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả, sử dụng số tiền này để cho vay, thực hiện các dịch vụ ngân hàng và kinh doanh chứng khoán. Với các đặc trưng cơ bản như vậy, hoạt động kinh doanh ngân hàng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, như môi trường kinh tế xã hội, pháp lý, cơ chế chính sách vĩ mô, vi mô… Do vậy, hoạt động ngân hàng chứa đựng những tiềm ẩn rủi ro lớn. Hay nói cách khác, kinh doanh ngân hàng chính là chấp nhận rủi ro đổi lại có lợi nhuận. Trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng, rủi ro có thể được chia thành nhiều loại, trong đó có thể chia thành các loại như sau: [20] - Rủi ro lãi suất : Rủi ro lãi suất thể hiện rủi ro tiềm tàng của một Ngân hàng do các biến động về lãi suất gây ra. - Rủi ro thanh khoản: Rủi ro thanh khoản phát sinh chủ yếu từ xu hướng của các Ngân hàng trong việc huy động vốn ngắn hạn và cho vay dài hạn. - Rủi ro giá cả: Rủi ro giá cả là loại rủi ro về việc giá trị các tài sản của một Ngân hàng có thể biến động. Rủi ro này xuất hiện trong tất cả các chủng loại tài sản từ bất động sản và thiết bị cho đến các tài sản mang tính thị trường như cổ phiếu và trái phiếu. - Rủi ro ngoại hối : Rủi ro ngoại hối phát sinh khi có sự chênh lệch về kỳ hạn và về loại tiền tệ của các khoản ngoại hối nắm giữ, và vì thế làm cho Ngân hàng có thể phải gánh chịu thua lỗ khi tỷ giá ngoại hối biến động. Rủi ro này áp dụng với cả các thị trường giao dịch tương lai và quyền chọn cũng như với thị trường giao ngay. 12 - Rủi ro hoạt động: Rủi ro hoạt động bao gồm toàn bộ các rủi ro mà có thể phát sinh từ cách thức mà một Ngân hàng điều hành các hoạt động của mình. Chẳng hạn như cán bộ tham ô, việc cấu trúc hạn mức không phù hợp trong lĩnh vực kinh doanh nguồn vốn, quản lý kém các quy trình tín dụng, thiếu các kế hoạch khôi phục kinh doanh trong trường hợp xảy ra thảm họa… - Rủi ro pháp lý: Rủi ro pháp lý thường tác động đến Ngân hàng theo hai cách: + Các khách hàng và những người khác có thể khởi kiện Ngân hàng. Lý do việc khởi kiện có thể phát sinh từ quá trình hoạt động kinh doanh bình thường, ví dụ việc Ngân hàng từ chối cấp hạn mức cho vay mà theo khách hàng là vô lý. Tuy nhiên, các trường hợp có thể phát sinh từ các lý do tách biệt khỏi hoạt động kinh doanh Ngân hàng, ví dụ việc tài trợ cho những khách hàng gây ô nhiễm môit trường có thể làm Ngân hàng bị các bên thứ ba kiện cáo. + Khi các thu xếp pháp lý của một ngân hàng, ví dụ các hợp đồng cho vay và tài sản đảm bảo tiêu chuẩn của Ngân hàng có vấn đề. - Rủi ro chiến lược: Rủi ro chiến lược phát sinh từ các thay đổi trong môi trường hoạt động của Ngân hàng trên phạm vi rộng hơn về mặt kinh doanh và tài chính. Ví dụ như việc gia tăng hoạt động Ngân hàng qua Internet và điện thoại đã buộc các Ngân hàng kinh doanh theo phương thức truyền thống với mạng lưới chi nhánh lớn và tốn kém phải xem xét lại cách tiếp cận chiến lược của mình. - Rủi ro uy tín: Rủi ro uy tín có thể phát sinh theo nhiều cách liên quan đến cách hành xử của các ngân hàng trong quan hệ kinh doanh, tín dụng và các quan hệ xã hội khác… có gây ảnh hưởng đến uy tín, hình ảnh của Ngân hàng trên thị trường. 13 - Rủi ro công nghệ thông tin: Rủi ro công nghệ thông tin phát sinh từ những yếu kém trong các hệ thống thông tin của một Ngân hàng. Rủi ro này có thể phát sinh từ việc trục trặc phần cứng, chương trình bị lỗi, hệ thống điều hành không đủ mạnh hay hệ thống dự phòng tồi… - Rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng là loại rủi ro được các nhà quản trị Ngân hàng quan tâm nhất trong các loại rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng. Bài viết xin phép được đề cập kỹ hơn về loại rủi ro này trong phần tiếp theo dưới đây. [8] 1.2.2 Rủi ro tín dụng. Theo quan điểm của nhà kinh tế học Joel Bessis trong cuốn “Risk Management in Banking” (Nhà xuất bản John Wiley& Sons, Mỹ - 2002) thì rủi ro tín dụng được hiểu là những tổn thất do khách hàng không trả được nợ hoặc sự giảm sút chất lượng tín dụng của những khoản vay. Theo Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng được ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng” được coi là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Từ các khái niệm trên đây, ta có thể phân rủi ro tín dụng thành các loại sau: Rủi ro đọng vốn: Đó là rủi ro tín dụng khi người vay sai hẹn (default) trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc và/ hoặc lãi vay. Sự sai hẹn này là do trễ hạn (Delayed payment). Trong trường hợp này, Ngân hàng vẫn thu hồi được vốn cho vay và lãi vay, tuy nhiên không được đúng hạn theo các cam kết đã ký trong Hợp đồng tín dụng. Chính vì vậy, 14 Ngân hàng sẽ phải đối mặt với nguy cơ bị chiếm dụng về vốn vay trong thời hạn lâu hơn dự định, gây ra tình trạng đọng vốn và vòng quay vốn cho vay của Ngân hàng cũng theo đó mà bị ảnh hưởng. Rủi ro mất vốn: Đó là rủi ro tín dụng khi người vay sai hẹn (default) trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng , bao gồm vốn gốc và/ hoặc lãi vay. Sự sai hẹn này là do không thanh toán (non-payment). Trong trường hợp này, Ngân hàng có khả năng không thu hồi được vốn vay và lãi vay từ phía khách hàng. Chính vì thế mà nguồn vốn cho vay ra sẽ không thu hồi được, từ đó, Ngân hàng phải đối mặt với khả năng mất vốn, lảm giảm sút nguồn vốn cho vay lẫn cản trở vòng quay vốn cho vay của Ngân hàng. Tóm lại, rủi ro tín dụng, theo khái niệm cơ bản nhất, là khả năng khách hàng nhận khoản vốn vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với Ngân hàng gây tổn thất cho Ngân hàng, đó là khả năng khách hàng không trả, không trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi vay cho Ngân hàng. 1.2.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng Qua nghiên cứu tổng hợp và thống kê, các nguyên nhân chủ yếu gây nên rủi ro tín dụng của ngân hàng bao gồm: 1.2.3.1 Sự điều khiển của cơ chế thị trường Cơ chế thị trường, với các quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật giá cả... là bàn tay vô hình điều khiển mọi hoạt động của các doanh nghiệp và quyết định sự sống còn của các doanh nghiệp. NHTM là một doanh nghiệp. Ngân hàng muốn tồn tại và phát triển thì phải hoạt động sinh lời. Bởi vậy, cũng như tất cả các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh khác, muốn tồn tại và phát triển, ngân hàng phải giải quyết được các mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình kinh doanh : mâu thuẫn về giá cả (lãi suất), về mức cung cầu của vốn, về các sản phẩm dịch vụ cung ứng cho khách hàng... Trong quá trình giải quyết mâu thuẫn, các ngân hàng cạnh tranh nhau quyết liệt và tất yếu có ngân hàng thắng lợi và có ngân hàng chịu 15 rủi ro thất bại. Lịch sử ngân hàng đã ghi lại nhiều trường hợp ngân hàng phá sản và các cuộc khủng hoảng ngân hàng : Từ năm 1930 đến 1933, làn sóng phá sản ngân hàng đã tràn từ Áo, Đức, Anh sang Mỹ; riêng ở Mỹ có 9.096 ngân hàng phải ngừng hoạt động; Sự đổ bể của hàng loạt các ngân hàng như NH Bankhaus Herstatt của Đức (1974), ngân hàng quốc gia Franklin - ngân hàng đứng thứ 12 của Mỹ (1974), bài học đắt giá của NH Baring, một ngân hàng có tên tuổi ra đời từ 1762 bị đổ vỡ vào năm 1995, và gần đây cơn ác mộng Daiwa chi nhánh của ngân hàng Nhật bản tại New York - thua lỗ tới 1,1 tỷ USD đã cho ta thấy sự khắt khe đến mức nào của nền kinh tế thị trường. [4] Một mặt, trong mối quan hệ với khách hàng, khi ngân hàng đóng vai chủ nợ, dùng nguồn vốn huy động được đem cho các doanh nghiệp và cá nhân cần vốn vay. Thực tế cho thấy trong điều kiện kinh tế thị trường, các doanh nghiệp là khách hàng vay vốn và giao dịch với ngân hàng cũng thường gặp phải những rủi ro nhất định mà hậu quả là sự phá sản của doanh nghiệp không còn là hiện tượng riêng có của một nền kinh tế ổn định hay không ổn định, hoặc của một nước phát triển hay đang phát triển. Tất nhiên ở đây còn có yếu tố liên quan tới Năng lực tài chính, Năng lực điều hành, Năng lực xử lý thông tin và nghiệp vụ trong quá trình sản xuất và kinh doanh của các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế. Nền kinh tế là một “cơ thể sống”. Sự rủi ro vỡ nợ của một hay một số khách hàng trong một ngành nào đó có thể ảnh hưởng lớn đến các ngành có liên quan. Mặt khác, trong mối quan hệ với khách hàng- khi ngân hàng đóng vai trò đi vay (nhận tiền gửi) - ngân hàng cũng cần phải tôn trọng quy luật cạnh tranh. Hiện nay người gửi tiền không đơn thuần gửi tiền nhằm bảo quản tiền mà là để sinh lời. Họ đã có độ nhậy cảm rất cao với thị trường và cạnh tranh cho phép họ lựa chọn hình thức, nơi gửi tiền sao cho có lợi nhất. Ảnh hưởng của nhóm khách hàng này đối với ngân hàng là rất lớn, thậm chí gây phá sản 16 ngân hàng. Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và điện tử tin học, với việc quốc tế hoá các thị trường tài chính, công nghệ ngân hàng càng phát triển ngày một tinh vi và hiện đại. Hơn nữa, với việc đa dạng hoá các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng và đa năng hoá các tổ chức trung gian tài chính, thị trường tài chính tiền tệ ngày càng sôi động và cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt. Để tồn tại và phát triển, buộc lòng các NHTM phải tìm mọi cách để đứng vững trong cuộc cạnh tranh khốc liệt này. 1.2.3.2 Môi trường kinh tế Môi trường kinh tế có ảnh hưởng đến sức mạnh tài chính của người đi vay và thiệt hại hay thành công đối với người cho vay. Sự hưng thịnh hay suy thoái của chu kỳ kinh doanh cũng ảnh hưởng tới lợi nhuận của người vay và do vậy tạo nên niềm vui hay gây nên nỗi lo lắng cho người đi vay tiền. Trong giai đoạn kinh tế hưng thịnh, người vay hoạt động tốt do lợi nhuận thu được tương đối cao, nhưng trong giai đoạn khủng hoảng khả năng hoàn trả của người đi vay bị giảm sút. Tuỳ vào mức độ nghiêm trọng của khủng hoảng và trường độ của nó mà việc ảnh hưởng lên các cá nhân và các doanh nghiệp sản xuất lưu thông cũng như lên khả năng thanh toán các khoản nợ của họ ở mức khác nhau : Mức độ khủng hoảng càng cao, sức mua của người tiêu dùng càng giảm sút gây ra hiện tượng hàng hoá bán ra và lợi nhuận của doanh nghiệp lưu thông cũng giảm theo, đồng thời lượng tồn kho của các doanh nghiệp sản xuất cũng vì thế mà tăng một cách miễn cưỡng gây ảnh hưởng tới lợi nhuận của họ. Như chúng ta đã biết, chính phủ dùng các chính sách kinh tế vĩ mô như: chính sách tài khoá, tiền tệ, thu nhập, kinh tế đối ngoại... cùng các công cụ của hệ thống chính sách này tác động vào tổng sản phẩm quốc dân, việc làm, lạm phát, tỉ giá hối đoái... nhằm giảm bớt những giao động của chu kỳ kinh doanh trong mỗi thời kỳ . 17 Qua nghiên cứu phân tích và thực tế cho thấy rằng bất kỳ sự thay đổi nào trong chính sách kinh tế vĩ mô đều dẫn đến sự thay đổi của lãi suất, tỉ giá hối đoái, điều kiện mở rộng hay thu hẹp tín dụng...Đây là những nhân tố gây nên tính bấp bênh trong kinh doanh tiền tệ, ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của NHTM. Thực ra, sử dụng hệ thống chính sách này là việc kết hợp giữa bàn tay hữu hình của chính phủ với bàn tay vô hình của thị trường. Quá trình thực hiện sự kết hợp này có lúc rất nhịp nhàng và hữu hiệu song cũng có lúc đã làm gia tăng tính bấp bênh và rủi ro vốn có của hình thức hoạt động kinh doanh tiền tệ. Thực tế đã chứng minh rằng sự thành bại của việc điều hành chính sách kinh tế vĩ mô, trong khuôn khổ định hướng phát triển kinh tế quốc gia, phụ thuộc rất nhiều vào thực tiễn điều chỉnh của từng giai đoạn đối với hoạt động của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính ngân hàng nói riêng. Vấn đề tế nhị là giải quyết trên nguyên tắc đảm bảo lợi ích cho toàn bộ nền kinh tế, song có lúc không tránh khỏi là đưa các NHTM vào tình trạng bị động. Và rủi ro, tổn thất đối với các NHTM cũng là điều không tránh khỏi. Lạm phát cũng có ảnh hưởng bất lợi đến công việc kinh doanh : giá cả nguyên vật liệu, năng lượng, lao động... tăng làm cho các cá nhân và doanh nghiệp khó khăn về tài chính dẫn đến nhu cầu tín dụng tăng. Và không giống như lợi tức, nợ không giảm trong các giai đoạn suy thoái. Nó cố định về số lượng. Nợ không thay đổi tương ứng với sức mua của đồng tiền, vì vậy đã trở nên gánh nặng đối với người đi vay , kết quả là không trả được nợ. Thiểu phát cũng có ảnh hưởng bất lợi đến công việc kinh doanh: chỉ số tăng giá thấp hơn so với lãi suất cho vay làm cho các doanh nghiệp cầm chừng trong vay vốn phát triển sản xuất làm cho tốc độ tăng trưởng tín dụng chậm, hoạt động ngân hàng chững lại, thâm hụt cán cân vãng lai; giá trị sản xuất công nghiệp, mức lưu chuyển hàng hoá, thu ngân sách, đầu tư xây dựng cơ bản giảm gây nên tình trạng kinh tế trì trệ, các doanh nghiệp không có cơ
- Xem thêm -