Quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp

  • Số trang: 200 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 34 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27372 tài liệu

Mô tả:

1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Đội ngũ giáo viên (GV) được xem là nguồn lực quan trọng của các cơ sở giáo dục, nhà trường và xã hội. Trong một công trình nghiên cứu về giáo dục, tác giả Raja Roy Singh (1994) khẳng định: “Không một hệ thống giáo dục nào có thể vươn cao quá tầm những GV làm việc cho nó” [68, tr.115]. Nhận định trên phần nào phác họa bức tranh mô tả khái quát trọng trách cao cả của người GV, nhất là bối cảnh giáo dục đang có nhiều khởi sắc và thay đổi trong thế kỷ XXI. Điều này cũng phản ánh thực tiễn phát triển giáo dục, theo đó chất lượng giáo dục không thể cao hơn chất lượng đội ngũ GV mà chính nền giáo dục ấy đã tạo ra. Công cuộc đổi mới giáo dục thời gian qua đề cập khá nhiều đến mục tiêu nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo. Một số chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ngày càng quan tâm công tác bồi dưỡng GV, tạo cơ hội thúc đẩy sự chuyển biến về cách thức tổ chức quản lý nhà trường và quản lý công tác bồi dưỡng GV nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực giáo dục. Chỉ thị 40-CT/TW của Đảng về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý (CBQL) giáo dục nêu rõ: “Trước yêu cầu mới của sự phát triển giáo dục thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục có những hạn chế, bất cập. Số lượng GV còn thiếu nhiều, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số... Cơ cấu GV đang mất cân đối giữa các môn học, bậc học, các vùng, miền. Chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ nhà giáo có mặt chưa đáp ứng yêu cầu…” Ngoài ra, chỉ thị còn xác định một trong các nhiệm vụ trọng tâm là: “Tiến hành rà soát, sắp xếp lại đội ngũ nhà giáo, CBQL giáo dục để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng bảo đảm đủ số lượng và cân đối về cơ cấu; nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức cho đội ngũ nhà giáo, CBQL giáo dục” [1, tr.1]. Trước những thay đổi trên, CBQL nhà trường cần thể hiện vai trò, trách nhiệm ngày càng cao, đồng thời tăng cường hơn nữa năng lực quản lý nhà trường, quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp. Văn kiện hội nghị lần 2 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII xác định: “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và được xã hội tôn vinh” [21, tr.19, 28, 45]. Luật Giáo dục hiện hành khẳng định: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục. Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo; có chính sách sử dụng, đãi ngộ, bảo đảm các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện vai trò và trách nhiệm của mình” [66, 2 tr.27]. Điều đó cho thấy, đội ngũ giáo viên giữ vai trò quan trọng trong việc quyết định chất lượng giáo dục, tham gia thực hiện các hoạt động của nhà trường. Vì thế muốn nâng cao chất lượng giáo dục, phải nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Những chủ trương, định hướng và con đường phát triển giáo dục mà văn bản trên đề cập chứa đựng nhiều nội dung quan trọng cần được tiếp tục nghiên cứu, triển khai thực hiện trong tương lai. Đây cũng là vấn đề thời sự không chỉ đối với ngành giáo dục mà còn thu hút sự quan tâm rộng rãi của toàn xã hội. Là cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân, nhà trường tiểu học thực hiện mục tiêu: “giúp học sinh (HS) hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để tiếp tục học trung học cơ sở” [66, tr.7]. Hoạt động giáo dục tại trường tiểu học hướng đến tạo dựng tiền đề ban đầu cơ bản và bền vững trong quá trình phát triển nhân cách HS, có bản sắc riêng và có tính độc lập tương đối. Để thực hiện tốt sứ mệnh, mục tiêu này thì giáo dục tiểu học phải hội đủ yếu tố và nguồn lực cần thiết, nhất là yếu tố liên quan đến nguồn lực con người và chất lượng đội ngũ GV. Tính chuẩn mực trong chất lượng giáo dục thể hiện qua các lĩnh vực công tác giáo dục, các mặt đời sống nhà trường, tiêu chuẩn trường lớp, trang thiết bị, chương trình, sách giáo khoa, tiêu chuẩn nghề nghiệp nhà giáo và nội dung liên quan khác. Chất lượng giáo dục tiểu học chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi kết quả lao động sư phạm của GV tiểu học. Theo đó, mức độ đáp ứng yêu cầu chuẩn nghề nghiệp là một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá kết quả và chất lượng lao động sư phạm của GV tiểu học. Chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học được cấu thành bởi các thành tố: phẩm chất đạo đức, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp. Những tiêu chí của chuẩn nghề nghiệp được thiết kế theo mô hình phát triển mở rộng, mức độ tăng dần và cao hơn so với chuẩn đào tạo, là định hướng phấn đấu liên tục, suốt đời trong sự nghiệp của GV tiểu học. Do vậy, quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp nhằm xây dựng đội ngũ GV tiểu học có đủ phẩm chất đạo đức, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp là vấn đề quan trọng và cấp thiết góp phần phát triển giáo dục tiểu học trong tương lai. Trước tiên, có thể nói thực tiễn phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn vừa qua cho thấy, việc đổi mới giáo dục và đổi mới chương trình, sách giáo khoa những năm gần đây ít nhiều tác động đến hoạt động quản lý nhà trường. Trong số những thành tựu đạt được do công cuộc đổi mới giáo dục mang lại có thể kể đến: cơ sở vật chất ngày càng khang trang, tài chính cho giáo dục và nhất là nguồn lực con người 3 ngày càng được chú trọng hơn. Số lượng GV tiểu học trực tiếp đứng lớp đạt chuẩn và trên chuẩn về trình độ đào tạo ngày càng phát triển lớn mạnh. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, chuẩn đào tạo giáo viên chưa thể hiện rõ sự kết nối chặt chẽ với kết quả thực hiện công việc của GV theo yêu cầu chuẩn nghề nghiệp. Minh chứng là, báo cáo đánh giá tình hình giáo dục thời gian qua, Nghị quyết 29 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã chỉ ra: “Chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu; Quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém. Đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu, một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp” [19, tr.1]. Đánh giá này chỉ ra một trong những vấn đề quan trọng và cấp thiết của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục hiện nay là cần quan tâm hơn nữa đến yêu cầu đổi mới quản lý giáo dục, nhất là vấn đề quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp. Tập trung tăng cường hơn nữa vai trò, trách nhiệm của CBQL đối với hoạt động quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp, đảm bảo GV tiểu học đáp ứng yêu cầu thực tế. Hai là, chủ trương tiếp tục lộ trình đổi mới giáo dục và đổi mới nội dung, chương trình, sách giáo khoa giáo dục tiểu học trên cơ sở định hướng chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2020 vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với nhà trường và đội ngũ GV tiểu học. Nhà trường tiểu học cần chủ động chuẩn bị nguồn nhân lực, tổ chức bồi dưỡng GV tiểu học theo kịp yêu cầu, tình hình mới. Ba là, tìm hiểu công việc của GV tiểu học cho thấy một số vấn đề như: áp lực thời gian, số lượng công việc hành chính, hoạt động phong trào, sổ sách quá nhiều, sự thay đổi liên tục về cơ chế, chính sách, yêu cầu công việc thực tế đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình học tập, bồi dưỡng của GV tiểu học. Do vậy, cần thiết phải tìm hiểu nguyên nhân cụ thể, từ đó phát hiện cách thức quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp phù hợp. Bốn là, số liệu thống kê những năm gần đây cho thấy, quy mô trường lớp, số lượng HS tiểu học đang có chiều hướng gia tăng nhanh chóng, kéo theo sự gia tăng nhu cầu GV tiểu học. Việc tăng cường thêm nguồn lực GV mới đòi hỏi nhà trường tiểu học cần chuẩn bị các nguồn lực cần thiết để tổ chức bồi dưỡng đội ngũ GV này sao cho vừa đáp ứng yêu cầu về số lượng vừa đảm bảo chất lượng. Vì thế, quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp, chuẩn bị đội ngũ nhà giáo có đủ năng lực nghề nghiệp thực hiện mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo 4 dục và đào tạo trở thành một trong những vấn đề quan trọng và cấp bách của quản lý nhà trường tiểu học giai đoạn hiện nay. Năm là, đặc điểm lao động sư phạm GV tiểu học có những đặc trưng riêng: GV tiểu học đảm trách giảng dạy nhiều môn học, phải hiểu biết nhiều lĩnh vực khoa học; Đối tượng lao động của GV tiểu học là HS trong độ tuổi đang phát triển, chứa đựng nhiều khả năng tiềm ẩn, hơn nữa các em mới bước đầu làm quen với môi trường học tập mới mẻ của giáo dục phổ thông; Kết quả lao động của GV tiểu học tạo ra sản phẩm nhân cách HS, sản phẩm này là tiền đề, là nền tảng để các em tiếp tục học tập cao hơn; Ngoài ra sự tiến bộ không ngừng của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin đang tác động, ảnh hưởng làm thay đổi phần nào môi trường học tập, rèn luyện của HS và GV tiểu học. Những nét đặc thù trên đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức đối với GV tiểu học, đòi hỏi họ phải không ngừng học tập, bồi dưỡng, trau dồi phẩm chất đạo đức, kiến thức, kỹ năng nhằm đáp ứng ngày càng cao yêu cầu nghề nghiệp. Mặc dù hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước bàn về quản lý giáo dục, quản lý nhân sự, trong đó có những nghiên cứu về quản lý, xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo ở các địa phương khác nhau, kết quả những nghiên cứu này được sử dụng để tham khảo trong quá trình thực hiện luận án. Tuy nhiên qua tìm hiểu tổng quan nghiên cứu vấn đề vẫn chưa thấy công trình nào nghiên cứu về quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp trên cơ sở tiếp cận chức năng quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp một cách đồng bộ, tường minh. Những lý do nêu trên cho thấy cần thiết phải nghiên cứu vấn đề “Quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp” một cách đầy đủ và hệ thống. 2. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp tại một số trường tiểu học, từ đó xây dựng biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học phù hợp, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp, đáp ứng mục tiêu đổi mới giáo dục. 3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3.1. Khách thể nghiên cứu Hoạt động quản lý đội ngũ GV tiểu học của CBQL trường tiểu học. 3.2. Đối tượng nghiên cứu Biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp của CBQL trường tiểu học. 5 4. Giả thuyết khoa học Quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng GV tiểu học theo yêu cầu chuẩn nghề nghiệp. Quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp đã được CBQL trường tiểu học (cấp quản lý cơ sở) thực hiện và đạt được một số kết quả nhất định, song vẫn tồn tại khó khăn, bất cập và hạn chế trong việc thực hiện các chức năng quản lý. Nghiên cứu đầy đủ hệ thống lý luận, đánh giá đúng thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp và xây dựng các biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp cần thiết, khả thi sẽ góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp. 5. Nhiệm vụ nghiên cứu 5.1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác bồi dưỡng GV và quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp; 5.2. Khảo sát thực trạng bồi dưỡng GV tiểu học và thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp. 5.3. Xây dựng hệ thống biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp; 5.4. Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp. 5.5. Thực nghiệm biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp tại một số trường tiểu học thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM). 6. Phạm vi nghiên cứu 6.1. Về nội dung: nghiên cứu vấn đề quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp dưới sự điều hành, lãnh đạo của CBQL nhà trường (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng, sau đây gọi chung là CBQL nhà trường). 6.2. Về đối tượng nghiên cứu: một số biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp. 6.3. Về địa bàn nghiên cứu: do điều kiện có hạn, địa bàn được chọn nghiên cứu được giới hạn gồm một số trường tiểu học công lập tại một số địa phương: khu vực miền Bắc (tỉnh Hải Dương), khu vực miền Trung (tỉnh Khánh Hòa), và khu vực miền Nam (TP.HCM). 6 6.4. Giới hạn phạm vi thực nghiệm: tổ chức thực nghiệm biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp tại trường tiểu học TP.HCM. 6.5. Về thời gian thực hiện luận án: từ năm 2011 đến năm 2015 7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 7.1. Phương pháp luận Đề tài được nghiên cứu dựa trên tiếp cận hệ thống - cấu trúc, tiếp cận theo quan điểm lịch sử - logic, tiếp cận thực tiễn, và tiếp cận chức năng quản lý. - Tiếp cận hệ thống - cấu trúc: nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở xem xét sự vật hiện tượng tồn tại trong mối liên hệ chặt chẽ, biện chứng với nhau, không có sự vật nào tồn tại riêng biệt, cô lập với sự vật khác. Nghiên cứu thực trạng bồi dưỡng GV tiểu học và thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp như một hệ thống gồm các vấn đề liên quan: mục tiêu, nội dung, chủ thể, khách thể, hình thức tổ chức, phương pháp, biện pháp và các điều kiện khác. Các thành tố này có mối quan hệ biện chứng, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau. Bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp là một hoạt động giáo dục nhằm thực hiện nhiệm vụ quản lý nhân sự của nhà trường. Bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ với các hoạt động khác trong nhà trường và là bộ phận của quản lý nhân sự trường tiểu học. Quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp trong nhà trường tiểu học được phân cấp quản lý từ Trung ương (Bộ GD-ĐT), các cấp quản lý địa phương (Sở GD-ĐT, Phòng GD-ĐT) và cấp quản lý cơ sở là nhà trường tiểu học. Do vậy, quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp là một nội dung, nhiệm vụ cụ thể của quản lý nhân sự và quản lý nhà trường tiểu học. - Tiếp cận theo quan điểm lịch sử - logic trong nghiên cứu đề tài này là khi xem xét sự vật phải nghiên cứu tìm hiểu trong điều kiện thời gian và không gian nhất định, nghiên cứu quá trình vận động của sự vật trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Cụ thể là đề tài nghiên cứu thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp xuất phát từ bối cảnh đổi mới giáo dục, đổi mới quản lý giáo dục, phân tích kết quả thực tế về lao động quản lý trong hoàn cảnh lịch sử nhất định, điều kiện nhà trường, cơ chế quản lý, đặc điểm tình hình đội ngũ GV. Xem xét mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp trong bối cảnh lịch sử khác nhau, từ đó tìm hiểu và xác định biện pháp quản lý phù hợp. 7 - Tiếp cận thực tiễn: Đề tài xem xét, khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp, so sánh với yêu cầu công việc thực tế của GV, những đòi hỏi đặt ra từ thực tiễn giáo dục. Thông qua nghiên cứu và xem xét quá trình, hiện trạng quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp để đề xuất biện pháp quản lý phù hợp. Kết quả nghiên cứu có thể vận dụng vào thực tiễn quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp giai đoạn hiện nay. - Tiếp cận theo chức năng quản lý: Theo cách tiếp cận này, đề tài nghiên cứu hoạt động quản lý dựa trên các chức năng quản lý. Việc đề xuất biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp được xây dựng tương ứng với các chức năng quản lý gồm: (1) lập kế hoạch, (2) tổ chức bộ máy và các nguồn lực, (3) lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, và (4) kiểm tra, đánh giá. 7.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể 7.2.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận - Phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa, khái quát hóa nội dung cơ bản, trọng tâm tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu, gồm: (1) Tham khảo, nghiên cứu tài liệu, văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, ngành giáo dục về chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo, về định hướng xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo và về hoạt động quản lý nhà trường, quản lý đội ngũ nhà giáo; (2) Nghiên cứu tài liệu, ấn phẩm, công trình trong và ngoài nước về khoa học quản lý và quản lý nhân sự, vấn đề đào tạo, bồi dưỡng và quản lý công tác bồi dưỡng GV, từ đó xây dựng hệ thống cơ sở lý luận của đề tài và xây dựng bộ công cụ đo lường sử dụng trong nghiên cứu thực tiễn. 7.2.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 7.2.2.1. Phương pháp điều tra giáo dục: Phương pháp này được sử dụng nhằm mục đích thu thập thông tin cần thiết về thực trạng công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp, thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp, và khảo nghiệm tính khả thi, tính cần thiết của biện pháp quản lý công tác này. Nội dung khảo sát gồm: + Khảo sát thực trạng bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp, thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp (phiếu khảo sát thực trạng, phụ lục 1). + Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp (phiếu khảo nghiệm, phụ lục 1). 8 7.2.2.2. Phương pháp trao đổi, xin ý kiến chuyên gia: Thực hiện phương pháp này bằng cách trao đổi, phỏng vấn và tham khảo ý kiến (nhà khoa học, cán bộ giảng dạy, nghiên cứu, CBQL giáo dục và GV) về tính cần thiết và tính khả thi của biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp đã đề xuất trước khi tiến hành thực nghiệm một số biện pháp cụ thể. Sử dụng phương pháp này nhằm mục đích làm sáng tỏ thêm về nhận thức, tình hình tổ chức thực hiện công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp. Thu thập thông tin cần thiết, kinh nghiệm thực tiễn của các đối tượng trong công tác bồi dưỡng và quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp (phiếu phỏng vấn, phiếu thông tin, xin ý kiến một số chuyên gia, phụ lục 1). 7.2.2.3. Phương pháp thực nghiệm: Phương pháp này được sử dụng nhằm chứng minh sự cần thiết thực hiện các biện pháp và khẳng định giá trị của các biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp. Xác định tính khả thi và tác dụng của các biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp (phiếu thực nghiệm, phụ lục 1). 7.2.3. Phương pháp thống kê toán học Sử dụng phần mềm SPSS để xử lý số liệu từ các nguồn thông tin thu thập liên quan đến nhiệm vụ nghiên cứu. Cụ thể là: thống kê mô tả, trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm định t-test. 8. Những luận điểm bảo vệ Tổ chức triển khai các hoạt động cần thiết để bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp là công việc không thể thiếu trong quá trình quản lý nhà trường của CBQL trường tiểu học. Thực hiện tốt công tác này có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục; Thực tiễn quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp tại các trường tiểu học hiện nay cho thấy hoạt động này đã được thực hiện và đạt một số thành quả nhất định. Tuy nhiên trước yêu cầu nâng cao chất lượng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, cần thiết phải thực hiện các biện pháp quản lý theo chức năng quản lý, tiến hành đồng bộ tác động vào công tác bồi dưỡng GV nhằm thay đổi thực trạng theo hướng tốt hơn, đồng thời tạo động lực thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động bồi dưỡng và tự bồi dưỡng của GV tiểu học; 9 Các biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp tập trung vào hiệu quả quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục và chất lượng GV, từ đó xây dựng, hình thành ý thức tự giác, tích cực, chủ động của GV trong công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng một cách thường xuyên, lâu dài nhằm đáp ứng công việc thực tế và thoả mãn ngày càng cao yêu cầu nghề nghiệp của GV tiểu học. 9. Ý nghĩa thực tiễn và khoa học của luận án 9.1. Ý nghĩa về mặt lý luận Luận án trình bày tổng quan công tác bồi dưỡng GV và quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp trong và ngoài nước, khái quát một số hướng nghiên cứu chính và những thành tựu đạt được, phát hiện những điểm còn hạn chế hoặc chưa nghiên cứu sâu từ đó làm cơ sở cho nghiên cứu tiếp theo. Luận án góp phần phát triển hệ thống cơ sở lý luận quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp theo tiếp cận chức năng quản lý. 9.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn Đánh giá thực trạng công tác bồi dưỡng GV và thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp, từ đó đề xuất biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp. Chứng minh tính cần thiết, tính khả thi và tác dụng của biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp đã đề xuất thông qua triển khai thực hiện biện pháp quản lý công tác này, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ GV tiểu học. 10. Cấu trúc của luận án Mở đầu Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp Chương 2. Thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp Chương 3. Biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp Kết luận và khuyến nghị Danh mục công trình nghiên cứu của tác giả liên quan đến luận án Tài liệu tham khảo Phụ lục 10 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN TIỂU HỌC THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.1.1. Một số kết quả nghiên cứu của tác giả nước ngoài 1.1.1.1. Nghiên cứu về quản lý nguồn nhân lực, quản lý nguồn nhân lực giáo dục Nhiều tác giả và công trình nghiên cứu quan tâm tìm hiểu vai trò, tầm quan trọng của nguồn lực con người trong lao động và trong quản lý. Điều này thể hiện qua các tài liệu, công trình nghiên cứu, bài viết khoa học quản lý, quản lý nguồn nhân lực và quản lý giáo dục, tiêu biểu như sau: Nghiên cứu chuyên sâu về hệ thống chức năng quản lý: Tác phẩm Những vấn đề cốt yếu của quản lý của tác giả Harold Koontz, Cyril O’donnel, Heinz Weihrich (1998) giới thiệu hệ thống kiến thức về khoa học quản lý, trình bày nguyên tắc thực hành quản lý với cách tiếp cận theo chức năng quản lý như lập kế hoạch, xây dựng tổ chức, xác định biên chế, lãnh đạo và kiểm tra. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực được đặt trong hệ thống các nhiệm vụ cơ bản của quản lý nguồn nhân lực của tổ chức [34]. Nghiên cứu về nội dung, phương pháp quản lý được khá nhiều tác giả quan tâm khai thác, bàn về khía cạnh khác nhau của nội dung và phương pháp quản lý nguồn nhân lực. Lawrence Holpp (2008) quan tâm đến phương pháp và cách thức quản lý nhằm xây dựng nhóm làm việc hiệu quả [52], Phillip L. Hunsaker (2001) nghiên cứu kỹ năng quản lý trong xây dựng văn hóa tổ chức, quản lý sự thay đổi và quản lý xung đột trong tổ chức [113]. Susan D. Strayer (2010) nghiên cứu về phát triển và duy trì khả năng làm việc của nhân viên [70]. Coi trọng vai trò của nguồn lực con người, Gary S. Becker (2008) xây dựng và phát triển công trình khoa học lý thuyết về “vốn con người”. Ông cho rằng giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng và chăm sóc sức khỏe con người là hình thức đầu tư quan trọng nhất cho nguồn vốn con người [95]. Nhóm tác giả Business Edge (2007) đề cập vấn đề đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, vai trò của nhà quản lý trong tổ chức đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho tổ chức, đối tượng và nội dung đào tạo phát triển nguồn nhân lực, phương pháp cải tiến hiệu quả làm việc của đội ngũ [9], [10], [11]. Kinh nghiệm được chia sẻ 11 trong tác phẩm khá bổ ích và cần thiết, tuy nhiên do tập trung nghiên cứu hiệu quả quản lý hoạt động đào tạo mà chưa làm nổi bật sự tương quan và những tác động lâu dài của vấn đề đào tạo nguồn nhân lực đối với sự phát triển của tổ chức. Theo các tác giả Harvard Business Essentials (2006) và tác giả John Eaton, Roy Johnson (2006) trình bày nghiên cứu về cách thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả làm việc của nhân viên, giúp đội ngũ phát triển năng lực, đảm nhận nhiệm vụ cao hơn, xem con người là yếu tố quan trọng và là mục tiêu hàng đầu trong chiến lược xây dựng phát triển tổ chức [54], [39]. Những tác phẩm này nghiên cứu sâu về quản lý hiệu quả làm việc của nhân viên. Tuy nhiên do tập trung vào chu kì quản lý, nhất là kết quả công việc của nhân viên nên tác phẩm chưa thể hiện rõ vai trò và phát huy khả năng sáng tạo của nhân viên tham gia vào quá trình quản lý. Bộ sách kiến thức quản lý của nhóm tác giả Đại học Harvard (2007), J. Leslie Mckeown (2008) đề cập một số nội dung quản lý phát triển, duy trì nguồn nhân lực, huấn luyện và truyền đạt kinh nghiệm, chiến lược giữ chân người lao động [69], [47]. Tuy xác định cách thức huấn luyện và truyền đạt kinh nghiệm cho nhân viên nhằm giúp họ làm việc tốt hơn, song tác phẩm chưa bàn về vấn đề kết nối giữa đào tạo, bồi dưỡng nhân viên với các chức năng khác của quản lý, do vậy chưa làm nổi bật tầm quan trọng và mối quan hệ giữa hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng nhân viên với mục tiêu phát triển tổ chức. William J. Rothwell (2010) giới thiệu chiến lược về nghệ thuật quản lý nhân sự, xem hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực là một trong những nhiệm vụ thường xuyên của nhà quản lý nhằm phát triển năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ, trong đó đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ qua trải nghiệm công việc thực tiễn là giải pháp đem lại hiệu quả cao [91]. Cũng như một số tác phẩm khác, đây là cuốn sách nghiên cứu về vai trò của nhà quản lý trong việc phát triển khả năng làm việc của nhân viên thông qua đào tạo, bồi dưỡng và phát hiện tiềm năng của đội ngũ. Mặc dù đề xuất được hệ thống cách thức tác động giúp đội ngũ thực hiện nhiệm vụ tốt hơn, nhưng tác phẩm dừng lại ở quan điểm tìm kiếm giải pháp đào tạo hiệu quả đội ngũ nhân viên. Trong khi đó các tổ chức mong muốn nhiều hơn về cách thức làm thế nào để kết nối hiệu quả làm việc của nhân viên với hiệu quả hoạt động của tổ chức thông qua những đóng góp của họ đối với tổ chức. 12 Trong lĩnh vực quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, một số công trình khoa học trình bày về quản lý nhà trường, quản lý nguồn nhân lực trong giáo dục, chẳng hạn như: Pam Robbins Harvey B. Alvy (2004) với Cẩm nang dành cho hiệu trưởng. Nội dung cuốn sách giới thiệu cách nhìn về giáo dục và quản lý giáo dục đồng thời cung cấp những đề xuất về kiến thức và kỹ năng quản lý nhà trường hiệu quả trong điều kiện và xu thế phát triển kinh tế xã hội nhất định [62]. Tác phẩm Quản lý giáo dục - Nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn của Wayne K. Hoy, Cecil G. Miskel (2001) giới thiệu tổng quan lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn về quản lý giáo dục, hệ thống quan điểm tổng hợp lý thuyết và nghiên cứu hành vi tổ chức nhằm thúc đẩy sự hiểu biết về trường học và quản lý giáo dục [119]. Từ tiếp cận nâng cao kết quả học tập của HS, nâng cao chất lượng giảng dạy và lãnh đạo giảng dạy, tập sách Lãnh đạo sự thay đổi-Cẩm nang cải tổ trường học, của Tony Wagner, Robert Kegan (2011) giới thiệu công trình nghiên cứu, trải nghiệm thực tế trong công tác quản lý hoạt động giảng dạy tại một số trường học ở Mỹ [73]. K.B. Everard, Geofrey Morris, Ian Wilson (2009), giới thiệu một số vấn đề cơ bản của quản lý nhà trường, cách thức tổ chức quản lý và sử dụng nguồn nhân lực và vấn đề phát triển nguồn lực con người trong trường học [26]. Xuất phát từ kết quả khảo sát thực tiễn, nhóm tác giả chia sẻ bộ công cụ cần thiết góp phần làm thay đổi quan điểm, tư duy, tầm nhìn, phương pháp và bước đi thích hợp cho công cuộc cải tổ trường học trước thách thức và cơ hội trong thế kỷ XXI. Vấn đề cải tổ trường học nhằm đảm bảo hệ thống giáo dục có khả năng thích nghi với biến đổi của thời đại luôn là đòi hỏi cần thiết, sống còn cho sự phát triển bền vững của một quốc gia. Cải cách giáo dục cũng chính là sứ mệnh của đội ngũ GV, CBQL giáo dục và những nhà hoạch định chính sách phát triển quốc gia. Tóm lại, qua tìm hiểu sơ lược một số tác phẩm, công trình nghiên cứu nêu trên cho thấy, đa số tác giả đánh giá cao vai trò quan trọng của nguồn nhân lực và vấn đề đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực trong các tổ chức nói chung và lĩnh vực giáo dục nói riêng. Nhiều nghiên cứu chỉ ra chức năng quản lý nguồn nhân lực và những đặc điểm cơ bản của nguồn nhân lực. Ngoài ra, các tác phẩm còn trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm cần thiết để nâng cao chất lượng quản lý nguồn nhân lực giáo dục trong bối cảnh thay đổi liên tục của xã hội, cách thức cải thiện hiệu quả làm việc và phát huy tiềm năng đội ngũ. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên chưa thể hiện rõ cách thức tương tác hiệu quả giữa nhà quản lý với tổ chức và với đội ngũ nhân viên dưới quyền thông qua việc thực hiện chức năng quản lý. Dẫu 13 sao việc nghiên cứu các tác phẩm, công trình nghiên cứu trên có ý nghĩa quan trọng giúp xác định cơ sở lý luận của quản lý nguồn nhân lực, quản lý nhà trường, từ đó định hướng cho những nghiên cứu trường hợp về công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GV và yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nguồn nhân lực giáo dục. 1.1.1.2. Nghiên cứu về công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên Về chính sách bồi dưỡng, phát triển giáo viên Với vai trò là lực lượng quyết định chất lượng giáo dục, GV trở thành tâm điểm của chính sách cải tổ và phát triển giáo dục ở nhiều quốc gia trên thế giới. Chính vì vậy mà các nước đã và đang dành sự quan tâm sâu sắc đến việc xây dựng, phát triển chương trình đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ nhà giáo. Tại Philippines, vấn đề phát triển đội ngũ nhà giáo được Nhà nước quan tâm đặt biệt. Chính phủ Philippines chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch tổng thể đào tạo bồi dưỡng GV 10 năm (1998-2008), đề xuất những giải pháp đáng chú ý như: thu hút HS khá giỏi vào ngành sư phạm, tạo việc làm cho GV mới ra trường, giảm tình trạng thất nghiệp đối với GV mới, thể chế hóa và củng cố việc bồi dưỡng tại chức, nâng cao nhận thức của người dân về vai trò, tầm quan trọng của nghề dạy học và vị thế của GV trong xã hội [35]. Tại Cộng hòa Pháp, quốc gia có nền giáo dục phát triển ở Châu Âu, triển khai xây dựng nhiều nguyên tắc mới cho giáo dục, trong đó đề cập đến công tác đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên cho GV: mỗi GV được hưởng ít nhất 35 giờ đối với công tác đào tạo tiếp tục hàng năm. Tăng cường làm việc nhóm để chia sẻ và học hỏi kinh nghiệm giảng dạy lẫn nhau. Thời gian làm việc của GV giảm từ 18 giờ xuống 15 giờ/tuần, thạc sĩ giảm từ 15 giờ xuống 14 giờ/tuần. Chính sách cũng quy định cụ thể, GV phải dành 4 giờ/tuần có mặt tại trường để nghiên cứu tài liệu, đối với thạc sĩ là 3 giờ/tuần (132 giờ/năm). Ngoài đào tạo, bồi dưỡng GV thì công tác đào tạo, bồi dưỡng CBQL giáo dục cũng được chú trọng [35]. Tại Hàn Quốc, việc bồi dưỡng GV là yêu cầu bắt buộc. Công tác bồi dưỡng GV đương nhiệm nhằm trang bị cơ sở lý luận và phương pháp luận về giáo dục, nâng cao khả năng và hiệu quả giảng dạy trên lớp cho GV. Thời lượng chương trình bồi dưỡng GV kéo dài 182 giờ. Các chương trình bồi dưỡng được thiết kế riêng cho từng đối tượng cụ thể. Chương trình được phân loại phù hợp với mục đích bồi dưỡng, bao gồm: (1) Bồi dưỡng về xây dựng chương trình giảng dạy; (2) Đào tạo số hóa thông tin, dữ liệu; (3) Bồi dưỡng chung; (4) Bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm… Người thực hiện chương trình có quyền quyết định nội dung và thời gian cho mỗi 14 khóa bồi dưỡng. Nội dung bồi dưỡng thường chú ý đến kiến thức mới, phương pháp giảng dạy tiên tiến và phổ biến trên thế giới [30]. Ở Nhật Bản, việc bồi dưỡng GV có quy chế riêng. Nhà nước có chính sách bắt buộc bồi dưỡng hàng năm đối với GV phổ thông mới vào nghề. Đối với GV đương nhiệm, hoạt động bồi dưỡng được tiến hành bằng nhiều hình thức, ở nhiều cấp với phương thức phong phú và đa dạng. Chính sách đãi ngộ GV chủ yếu thể hiện qua chế độ tiền lương, phụ cấp, trợ cấp. Mức tăng lương căn cứ vào thành tích và thâm niên công tác [31]. Kinh nghiệm một số nước trên thế giới về bồi dưỡng và quản lý bồi dưỡng GV cho thấy bồi dưỡng GV là khâu không thể thiếu trong chiến lược phát triển giáo dục nhằm tạo điều kiện cho GV nâng cao trình độ, hiểu biết và sẵn sàng thích ứng với sự thay đổi của nền kinh tế xã hội [55]. Về nội dung, chương trình bồi dưỡng giáo viên Nội dung, chương trình bồi dưỡng GV thường được các tác giả đề cập trong công trình nghiên cứu phát triển đội ngũ GV. Theo báo cáo kết quả nghiên cứu về sự phát triển giáo dục, Ủy ban quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI của UNESCO (1996) đã khẳng định: “thầy giáo là yếu tố quyết định hàng đầu đối với chất lượng giáo dục. Do đó, muốn phát triển giáo dục thì trước hết và trên hết phải phát triển đội ngũ GV về cả số lượng và chất lượng” [89]. Điều đó cho thấy nội dung, chương trình bồi dưỡng, phát triển đội ngũ GV vừa quan tâm đến yếu tố số lượng vừa quan tâm phát triển phẩm chất, kiến thức, kỹ năng đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp. Hơn nữa, các chuyên gia giáo dục của Tổ chức UNESCO (1998) cho rằng nội dung, chương trình bồi dưỡng GV phải tương ứng với vai trò đang thay đổi của GV: Đảm nhiệm nhiều chức năng hơn so với trước, có trách nhiệm chủ động hơn trong việc lựa chọn nội dung dạy học và giáo dục; Chuyển mạnh từ chỗ truyền thụ kiến thức một chiều sang hoạt động tổ chức việc học của HS, sử dụng tối đa tài nguyên tri thức trong xã hội; Chú trọng hơn việc cá biệt hóa học tập, thay đổi tính chất trong quan hệ thầy trò; Yêu cầu sử dụng rộng rãi hơn phương tiện dạy học hiện đại kéo theo yêu cầu trang bị thêm kiến thức, kỹ năng phù hợp; Yêu cầu hợp tác rộng rãi và chặt chẽ hơn với GV cùng trường, thay đổi cấu trúc trong mối quan hệ giữa GV với nhau; Thắt chặt hơn mối quan hệ với cha mẹ HS và cộng đồng góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống; Yêu cầu GV tham gia các hoạt động trong và ngoài nhà trường; Giảm bớt và thay đổi kiểu uy tín truyền thống trong quan hệ với HS, nhất là đối với HS lớn và cha mẹ HS [116]. 15 Nghiên cứu vấn đề phát triển nghề nghiệp cho GV, các tác giả Daniel R. Beerens (2000), Eleonara Villegas-Reimers (2003), Broughman, S.P (2006), và Beatrice Avalos (2011) xác định nội dung bồi dưỡng GV theo hướng chuyên nghiệp, kết nối quá trình học tập, bồi dưỡng với sự phát triển của nhà trường và xã hội. Giáo viên cần được hỗ trợ trong việc cải tiến liên tục công việc của họ nhằm nâng cao vị trí của bản thân và vị thế của nhà trường [102], [103], [99], [96]. Về phương pháp, hình thức bồi dưỡng giáo viên Kết quả tìm hiểu một số công trình nghiên cứu trên thế giới cho thấy phương pháp, hình thức bồi dưỡng GV tương đối phong phú và đa dạng. Tuy nhiên xu hướng “học tập suốt đời” là một trong những xu hướng trọng tâm của hoạt động bồi dưỡng và tự bồi dưỡng nhằm phát triển con người và xã hội. Tác phẩm Teachers as learners được biên tập bởi tác giả Ora Kwo (2010) chỉ ra sự thay đổi về vai trò của GV khi tham gia học tập bồi dưỡng, đó là, GV là người học chủ động trong các chương trình tập huấn, GV vừa là người hướng dẫn vừa là người học khi tham gia các khoá bồi dưỡng nâng cao năng lực nghề nghiệp. Chính vì vậy, các phương pháp, hình thức bồi dưỡng GV phải vận động theo hướng tích hợp, linh hoạt, sáng tạo và tương ứng với sự đổi mới về nội dung, chương trình hiện nay [112]. Ngoài những phương pháp và hình thức bồi dưỡng truyền thống, các nghiên cứu trên thế giới đang có xu hướng sử dụng phương pháp, hình thức học tập, bồi dưỡng hiện đại như: từ xa (distance learning), trực tuyến (e-learning)… Phương pháp, hình thức này góp phần xây dựng, phát triển môi trường văn hóa học tập, bồi dưỡng đề cao tính tích cực, chủ động của cá nhân trong hoạt động bồi dưỡng. Có thể kể đến một số tác giả: Bonk, C. và Dennen, V. (2003) tìm hiểu “Khung nghiên cứu, thiết kế, tiêu chuẩn, đào tạo và phương pháp sư phạm trong giáo dục từ xa trên nền web” [97]. Murphy, K. et al (2005) nghiên cứu “Mô hình kiến tạo của hoạt động tư vấn, huấn luyện, và điều kiện thảo luận trực tuyến” [110]. Florentino Blázquez Entonado và Laura Alonso Díaz (2006) nghiên cứu đề xuất “Mô hình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên trực tuyến” [105]. Những nghiên cứu này đã góp phần khẳng định vấn đề cải tổ, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhằm đáp ứng ngày càng cao nhu cầu học tập lâu dài, suốt đời của các đối tượng khác nhau là xu hướng phổ biến và thiết yếu. Về ảnh hưởng của GV đến kết quả học tập của HS và chất lượng giáo dục 16 Qua tổng kết một số kinh nghiệm của các nhà khoa học trên thế giới về mối quan hệ giữa chất lượng GV với thành tích học tập của HS và chất lượng giáo dục cho thấy: Chất lượng GV có ảnh hưởng lớn đến thành tích học tập của HS (Ferguson, 1991). Tăng cường bồi dưỡng GV có tác động lớn đến việc cải tiến thành tích học tập của HS (Greenwald, Hedges, and Laine, 1996). Khả năng chuyên môn của GV có tác động lớn đến việc học của HS và chỉ xếp thứ hai sau các yếu tố gia đình HS (Ferguson, 1991). Đầu tư vào việc giúp đỡ GV rèn luyện chuyên môn là cách đầu tư hiệu quả nhất để nâng cao thành tích học tập của HS (National Education Goals Panel, 1997). Mong muốn của cộng đồng xã hội đối với GV có kiến thức và kỹ năng chỉ xếp sau mong muốn có những ngôi trường an toàn cho con cái của họ (Haselkorn and Harris, 1998). Giáo viên có ảnh hưởng lâu dài lên thành tích học tập của HS (Bembry, et al., 1998). Sự chênh lệch về mức độ hiệu quả của GV là yếu tố quyết định mạnh mẽ việc học tập của HS (Darling-Hammond, 2000). Từ những kết luận nghiên cứu này, tác giả khẳng định chất lượng GV là yếu tố quan trọng để đảm bảo chất lượng giáo dục. Ở một số nước, dù các nhà quản lý giáo dục quan tâm đến vấn đề nâng cao chất lượng GV, tuy nhiên, vẫn chưa có thay đổi cơ bản trong nhà trường do vấn đề đảm bảo chất lượng chưa được chú trọng hoặc chưa được làm theo phương pháp khoa học. Đối với nhà quản lý giáo dục, vấn đề chất lượng GV, chuẩn nghề nghiệp GV và đánh giá GV cần được đầu tư đúng mức. Tác giả nhận định rằng, sắp tới sẽ có nhiều thay đổi trong cuộc sống nghề nghiệp của GV tiểu học. Sự biến động và thay đổi trên thế giới đòi hỏi GV tiểu học phải thay đổi về trọng tâm hoạt động nghề nghiệp. Học tập suốt đời trở thành mục đích của giáo dục và GV trở thành lực lượng tiên phong thực hiện mục tiêu ấy [16]. Qua tìm hiểu một số ấn phẩm, công trình nghiên cứu nêu trên cho thấy vấn đề đào tạo, bồi dưỡng GV được khá nhiều nhà khoa học, các tổ chức và Chính phủ các quốc gia trên thế giới quan tâm. Điều đó cho thấy công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực nói chung, đội ngũ nhà giáo nói riêng là tiền đề quan trọng của quá trình cải thiện, nâng cao chất lượng đội ngũ GV và việc xây dựng chính sách phát triển giáo dục của các quốc gia. Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo còn góp phần thiết thực vào mục tiêu phát triển giáo dục đáp ứng nhu cầu xã hội. Mặc dù quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng GV, xác định hướng đi, chính sách, mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GV khá rõ ràng, tuy nhiên, những nghiên cứu này vẫn chưa thể hiện một cách cụ thể các vấn đề liên quan đến vai trò của nhà quản lý cấp cơ sở như: Vai trò và chức năng của nhà quản lý các cấp trong 17 quá trình đào tạo, bồi dưỡng GV; Mối quan hệ giữa mục tiêu phát triển đội ngũ GV với mục tiêu phát triển tổ chức thông qua triển khai chức năng quản lý tổ chức giáo dục các cấp; Hoạt động cụ thể và quy trình nhất quán nhằm thực hiện chức năng quản lý đào tạo, bồi dưỡng GV; Sự tham gia, ảnh hưởng của GV vào quá trình quản lý nhằm phát triển năng lực nghề nghiệp cho bản thân và nhà trường. 1.1.1.3. Nghiên cứu về chuẩn nghề nghiệp giáo viên Cùng với sự phát triển mạnh mẽ và yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với giáo dục, các quốc gia trên thế giới có xu hướng quan tâm nhiều hơn đến chất lượng nghề nghiệp của đội ngũ GV. Điều này thể hiện qua chính sách đối với giáo dục về xây dựng nhà trường theo chuẩn mực nhất định, xác định yêu cầu chuẩn nghề nghiệp GV. Chuẩn nghề nghiệp cung cấp hệ thống kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp cần thiết để GV dùng làm căn cứ xác định nhu cầu phát triển nghề nghiệp, định hướng tiếp tục học tập, bồi dưỡng nâng cao năng lực nghề nghiệp. Chuẩn nghề nghiệp GV cũng là căn cứ quan trọng để nhà quản lý thực hiện chức năng quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng GV. Nghiên cứu về chuẩn nghề nghiệp GV phổ thông ở Anh quốc: bộ tiêu chuẩn nghề nghiệp dành cho GV phổ thông ở Anh bao gồm ba thành phần: (1) Các giá trị và cách ứng xử mà GV phải thể hiện trong quá trình hành nghề; (2) Các tiêu chuẩn về giảng dạy; và (3) Các tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp. Trên cơ sở 3 thành phần này, tiêu chuẩn nghề nghiệp dành cho GV phổ thông ở Anh được cụ thể hoá thành nhiều tiêu chí khác nhau, phản ánh hệ thống giá trị và đạo đức nghề nghiệp của GV quốc gia này [25]. Theo Hội đồng quốc gia kiểm định chất lượng GV Hoa Kỳ (2008), tiêu chuẩn nghề nghiệp của GV gồm: Khối kiến thức chung và kiến thức sư phạm; Kiến thức, kỹ năng hướng dẫn, hỗ trợ HS học tập; Các kiến thức, kỹ năng khác nhằm phát triển nghề sư phạm. Tiêu chuẩn nghề nghiệp của GV được sử dụng rộng rãi trong việc kiểm định các tổ chức đào tạo GV, trong quản lý sử dụng GV và trong quá trình bồi dưỡng phát triển của bản thân GV [111]. GV tiểu học phải có bằng cử nhân giáo dục tiểu học. GV tiểu học được tạo điều kiện tham gia các khóa học giáo dục phổ thông kết hợp với khóa học giáo dục chuyên nghiệp khác. Ngoài ra, GV tiểu học được khuyến khích phát triển nghề nghiệp ở mức độ cao hơn chuẩn bằng cách tham gia hội thảo chuyên nghiệp thông qua khu học chánh của họ hoặc theo đuổi chương trình sau đại học về giáo dục tiểu học. Dù bằng cách nào, GV tiểu học phải nuôi 18 dưỡng bầu không khí tổ chức và truyền cảm hứng cho việc học tập, duy trì thông tin liên lạc giữa GV, phụ huynh và các quản trị viên [107]. Bộ tiêu chuẩn nghề nghiệp của GV bang California (2009), Hoa Kỳ được cấu thành bởi sáu lĩnh vực liên quan thực hành giảng dạy, gồm: Sự cam kết tham gia và hỗ trợ HS học tập; Tạo dựng và duy trì môi trường học tập hiệu quả cho HS; Am hiểu và tổ chức các môn học cho việc học tập của HS; Hướng dẫn xây dựng kế hoạch và thiết kế môi trường học tập trải nghiệm cho HS; Đánh giá sự tiến bộ trong học tập của HS; Thường xuyên phát triển trở thành nhà giáo dục chuyên nghiệp. Những tiêu chuẩn này là cơ sở cho việc tổ chức bồi dưỡng phát triển đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu nhà trường, GV và HS bang California, Hoa Kỳ [101]. Bộ tiêu chuẩn nghề nghiệp quốc gia dành cho GV Úc (2011) gồm 3 yếu tố cấu thành chính: Kiến thức nghề nghiệp; Kỹ năng thực hành nghề nghiệp; Sự cam kết tham gia phát triển nghề nghiệp, thể hiện qua các thành tố cụ thể sau: - Hiểu biết rõ đối tượng HS, cách thức học tập của HS; - Nắm vững nội dung kiến thức dạy học và biết cách tổ chức hoạt động dạy học một cách chuyên nghiệp; - Xây dựng kế hoạch dạy học và tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học hiệu quả; - Tạo ra và duy trì môi trường học tập hợp tác và an toàn; - Đánh giá, cung cấp thông tin phản hồi và báo cáo kết quả học tập của HS; - Tham gia học tập bồi dưỡng phát triển nghề nghiệp; và - Tham gia hợp tác phát triển nghề nghiệp cùng với đồng nghiệp, phối hợp với cha mẹ HS/người bảo trợ và cộng đồng xã hội. Bộ tiêu chuẩn nghề nghiệp quốc gia dành cho GV tập trung mô tả, xác định các thành phần cấu thành chất lượng giảng dạy ở từng giai đoạn nghề nghiệp, xác định những mong đợi của GV trong ba lĩnh vực trọng tâm, phản ánh mục tiêu, bối cảnh phát triển nghề nghiệp của GV và các yêu cầu học tập của HS. Từ đó mỗi GV phải có khả năng tích hợp, vận dụng sáng tạo các yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp để tạo dựng môi trường giảng dạy và học tập hiệu quả [93]. Nhiều năm trở lại đây, Chính phủ Úc đặc biệt quan tâm đến vấn đề phát triển năng lực nghề nghiệp cho GV. Bản tuyên bố Melbourne (2008) về các mục tiêu giáo dục cho HS Úc đã chỉ rõ, cải thiện chất lượng GV được xem là chương trình cải cách quan trọng, là một phần của những nỗ lực nâng cao trình độ HS và đảm bảo hệ thống giáo dục mang tính đẳng cấp thế giới. Trong đó nhấn mạnh đội ngũ 19 GV là nguồn tài nguyên lớn nhất trong các trường học của nước Úc, họ chiếm phần lớn chi tiêu trong giáo dục và ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình học tập và việc cải thiện thành tích của HS [109]. Kết quả nghiên cứu chuẩn nghề nghiệp GV ở một số quốc gia nêu trên cho thấy, xác định yêu cầu chuẩn nghề nghiệp để xây dựng thành bộ tiêu chuẩn nghề nghiệp GV theo định hướng năng lực là xu hướng tất yếu. Điều này cho phép GV và CBQL giáo dục tập trung khả năng, các nguồn lực cần thiết vào bồi dưỡng phát triển năng lực nghề nghiệp và quản lý phát triển đội ngũ GV theo yêu cầu nghề nghiệp. Tóm lại, kết quả tìm hiểu một số công trình nghiên cứu nêu trên cho thấy, các quốc gia trên thế giới tuy khai thác vấn đề nghiên cứu ở những góc độ khác nhau, song đều dành sự quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ GV theo chuẩn mực nhất định. Các nghiên cứu này còn phản ánh nhiều khía cạnh khác nhau của hoạt động quản lý, đồng thời là nền tảng lý luận và thực tiễn để tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về vai trò, chức năng và tác động của CBQL nhà trường đến quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp. Thêm vào đó, xu hướng trao quyền tự chủ cho nhà trường đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với hoạt động quản lý nhà trường. Điều này thôi thúc cần phải tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về quản lý nhà trường, quản lý công tác bồi dưỡng GV theo chuẩn nghề nghiệp, làm rõ chức năng quản lý công tác bồi dưỡng GV theo hướng phát huy vai trò tự quản, sáng tạo của cá nhân, đơn vị phù hợp mục tiêu phát triển đội ngũ GV theo yêu cầu chuẩn nghề nghiệp. 1.1.2. Một số kết quả nghiên cứu trong nước 1.1.2.1. Quan điểm phát triển nguồn nhân lực giáo dục Nói về chất lượng nguồn nhân lực, suốt nhiều thập kỷ qua Đảng, Nhà nước ta khẳng định “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [20, tr. 130, 131], “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi; đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn hóa đầu đàn” [21, tr. 40]. Chủ trương tiếp tục đổi mới công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn, sáng tạo. Trong đó giáo dục được coi là chìa khóa cho sự thành công của sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội Việt Nam. Những nghiên cứu về vấn đề xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục đã được Đảng và Nhà nước quan tâm chỉ đạo thông qua đường lối, chương trình phát triển kinh tế đất nước. Chỉ thị 40/CT-TW của Ban Bí 20 thư Trung ương Đảng về "Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục" chỉ rõ, mục tiêu xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước [1, tr.1-2]. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, trong phần nhiệm vụ, giải pháp đã nêu “Đổi mới mạnh mẽ mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của nhà giáo theo yêu cầu nâng cao chất lượng, trách nhiệm, đạo đức và năng lực nghề nghiệp” [19, tr.4-9]. Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020, đánh giá những bất cập và yếu kém của giáo dục: “Một bộ phận nhà giáo và CBQL chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục trong thời kỳ mới. Đội ngũ nhà giáo vừa thừa, vừa thiếu cục bộ, vừa không đồng bộ về cơ cấu chuyên môn… Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục”. Do vậy, giải pháp phát triển đội ngũ nhà giáo hướng tới “củng cố, hoàn thiện hệ thống đào tạo GV, đổi mới căn bản và toàn diện nội dung và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng nhằm hình thành đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục đủ sức thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015” [12, tr. 4-5]. Quyết định số 14/2007/QĐ-BGDĐT về Chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học, quy định Chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học, được áp dụng đối với GV tiểu học tại các cơ sở giáo dục phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân. Chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học bao gồm hệ thống yêu cầu cơ bản về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; kiến thức; kỹ năng sư phạm mà GV tiểu học cần đạt được nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục tiểu học. Chuẩn này có thể được điều chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội và mục tiêu giáo dục tiểu học ở từng giai đoạn. Bên cạnh đó, chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học còn được dùng làm cơ sở để GV tiểu học tự đánh giá năng lực nghề nghiệp, xây dựng kế hoạch học tập, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ [3]. Thông tư số 26/2012/TT-BGDĐT về Quy chế bồi dưỡng thường xuyên GV phổ thông, thông tư số 32/2011/TT-BGDĐT về Chương trình bồi dưỡng thường xuyên GV
- Xem thêm -