Quan hệ việt nam – asean 1975-1988

  • Số trang: 15 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 16 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

HỌC VIỆN NGOẠI GIAO VIỆT NAM KHOA CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ VÀ NGOẠI GIAO BỘ MÔN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI Tiểu luận QUAN HỆ VIỆT NAM - ASEAN (1975 - 1988) Sinh viên Lớp HÀ NỘI: 4 -2009 : Đỗ Thu Trang : E33 Quan hệ Việt Nam – ASEAN 1975-1988 Đỗ Thu Trang – E33 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU .............................................................................................. 3 NỘI DUNG CHÍNH ..................................................................................... 4 1. ASEAN THÀNH LẬP .......................................................................... 4 2. QUAN HỆ VIỆT NAM - ASEAN GIAI ĐOẠN 1975-1979 ................. 4 2.1. Bối cảnh, nhận thức tác động tới việc hoạch định chính sách ......... 4 2.2. Chính sách...................................................................................... 6 2.3. Triển khai ....................................................................................... 7 2.4. Đánh giá ......................................................................................... 8 3. QUAN HỆ VIỆT NAM - ASEAN GIAI ĐOẠN 1979 – 1988............... 9 3.1. Bối cảnh tác động tới việc hoạch định chính sách .......................... 9 3.2. Nhận thức lãnh đạo ...................................................................... 10 3.3. Chính sách.................................................................................... 11 3.4. Triển khai ..................................................................................... 12 3.5. Đánh giá ....................................................................................... 13 LỜI KẾT..................................................................................................... 14 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................... 15 2 Quan hệ Việt Nam – ASEAN 1975-1988 Đỗ Thu Trang – E33 LỜI MỞ ĐẦU Quan hệ với các nước láng giềng luôn là ưu tiên trong chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia. Với một nước bé như nước ta và đặc biệt trong bối cảnh mới giành được độc lập năm 1975 thì mối quan hệ khu vực ấy lại càng cần thiết. Ngày nay tất cả các nước Đông Nam Á đều là thành viên của một hiệp hội bình đẳng, hòa bình, hiệu quả và uy tín. Có được như vậy, phải kể đến vai trò không nhỏ của “mắt xích” Việt Nam trong việc gắn kết hai nhóm nước: Đông Dương và các nước Đông Nam Á còn lại thành một thể thống nhất. Trước khi “hiểu biết lẫn nhau” như ngày nay, Việt Nam và ASEAN cũng phải trải qua khoảng thời gian thăng trầm với những bất đồng, e ngại và kể cả xung đột. Phải đến 1995, năm đỉnh cao của Ngoại giao Việt Nam, chúng ta mới giải quyết tương đối ổn thỏa quan hệ với các đối tượng quan trọng trong chính sách đối ngoại trong đó có ASEAN. Nhưng đó là thành quả của cả một quá trình đi từ sai lầm, qua thay đổi nhận thức rồi mới tới những chính sách phù hợp. Đã có quá nhiều bài phân tích, ca ngợi thành quả của công cuộc đổi mới khởi xướng từ năm 1986 nhưng lưu ý rằng những chuyển biến ấy phải bắt đầu từ những năm trước đó, kể cả những bài học phải trả giá. Do vậy, trong khuôn khổ bài viết này, người viết xin đi sâu vào phân tích những chính sách trước đổi mới. Cụ thể là quan hệ Việt Nam - ASEAN giai đoạn 1975-1988, giai đoạn có cả những cố gắng ngoại giao ban đầu, rồi những năm tháng căng thẳng do chính sách kém thức thời của Việt Nam và cuối giai đoạn này đánh dấu những bước chuyển đầu tiên trong chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với ASEAN và ngược lại của ASEAN đối với Việt Nam. 3 Quan hệ Việt Nam – ASEAN 1975-1988 Đỗ Thu Trang – E33 NỘI DUNG CHÍNH 1. ASEAN THÀNH LẬP Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations-ASEAN) được thành lập ngày 8/8/1967 bởi Tuyên bố Băng-cốc, Thái Lan, ban đầu gồm 5 nước In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Phi-lip-pin, Xinga-po và Thái Lan. Năm 1984 ASEAN kết nạp thêm Bru-nây Da-ru-xa-lam làm thành viên thứ 6. ASEAN ra đời trong bối cảnh có nhiều biến động đang diễn ra trong khu vực và trên thế giới, bao gồm cả những thay đổi từ bên ngoài tác động vào khu vực cũng như những vấn đề nảy sinh từ bên trong mỗi nước. Để đối phó với các thách thức này, xu hướng co cụm lại trong một tổ chức khu vực với một hình thức nào đó để tăng cường sức mạnh bản thân đã xuất hiện và phát triển trong các nước thành viên tương lai của ASEAN. Đúng như tác giả Vũ Khoan đã nhận xét: “Trong bối cảnh ấy, sự xuất hiện của ASEAN, về phương diện nào dó, là sự tập hợp lực lượng để ứng phó với những khó khăn bên trong và những diễn biến ở bên ngoài”1 2. QUAN HỆ VIỆT NAM - ASEAN GIAI ĐOẠN 1975-1979 2.1. Bối cảnh, nhận thức tác động tới việc hoạch định chính sách Do các nước ASEAN đều dính líu trực tiếp hay gián tiếp vào cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam cho nên ta coi chính quyền các nước ASEAN là phản động, chống cộng. ASEAN là tổ chức quân sự trá hình. Điều này cũng dễ hiểu. Nhưng vấn đề là, sau khi cuộc chiến khép lại chúng ta vẫn giữ cái nhìn đó đối với các nước ASEAN. Chúng ta cho rằng “ASEAN là sản phẩm 1 Vũ Khoan, “Việt Nam và ASEAN”, Chính sách đối ngoại Việt Nam từ 1975-2006, tr 317 4 Quan hệ Việt Nam – ASEAN 1975-1988 Đỗ Thu Trang – E33 của Mỹ, các nước ASEAN là thuộc địa kiểu mới của Mỹ”.2 Cho nên ta vẫn dè dặt trong mối quan hệ đó và đôi khi ta vẫn để xảy ra những trục trặc nhỏ không cần thiêt đối với họ. Thêm vào đó, sau khi Việt Nam giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ, chiến thắng này làm thay dổi so sánh lực lượng, có lợi cho phe CNXH, tác động mạnh mẽ tới các nước trong khu vực vì ở các nước này đều có các lực lượng vũ trang cánh tả, chiến thắng của ta sẽ kích động sự đấu tranh của các tổ chức Cộng sản trong nước họ. Ngoài ra, các nước ASEAN còn e ngại rằng chúng ta sẽ giúp đỡ các tổ chức Cộng sản đó. Điều lo sợ của họ là hoàn toàn có cơ sở vì vào thời điểm đó chúng ta đặt khá nặng nhiệm vụ Quốc tế hay nói cách khác là mục tiêu ảnh hưởng, chúng ta tự nhận là “tiền đồn của XHCN tại Đông Nam Á”. Phải chăng chúng ta đang ngây ngất với men say chiến thắng, chúng ta tự đặt mình cao hơn người khác để đánh giá và “dang tay cứu vớt họ”? Chúng ta nhận về mình nhiệm vụ quốc tế cao cả, điển hình là việc đưa quân vào Campuchia, mà quên mất nhiệm vụ ưu tiên nhất vào thời điểm đó là xây dựng lại đất nước sau chiến tranh. Chúng ta cũng quên rằng động thái ấy của ta không tạo được niềm tin với các nước láng giềng, khiến họ lo ngại và dè chừng trong việc phát triển quan hệ với ta. Về nhận thức lãnh đạo, chúng ta vẫn nhìn quan hệ quốc tế dựa trên cơ sở đấu tranh giữa hai hệ tư tưởng, hai hệ thống nên chỉ coi trọng quan hệ với các nước XHCN mà quên mất các nước gần mình hơn. Về phía ASEAN, các nước này đều ít nhiều dính líu đến cuộc chiến tranh Việt Nam nên sau khi Hoa kỳ hoàn toàn thất bại thì các nước này đều “muốn 2 Trịnh Xuân Lăng, “Một vài suy nghĩ về chính sách của ta đối với các nước ASEAN và đối với Mỹ từ năm 1975 đến năm 1979”, Chính sách đối ngoại Việt Nam từ 1975-2006, tr 15 5 Quan hệ Việt Nam – ASEAN 1975-1988 Đỗ Thu Trang – E33 có quan hệ tốt với ta; họ sợ ta trả thù, nhất là đối với nhiều nước đang phải đối phó với các lực lượng vũ trang chống đối cánh tả, mà ta lại làm chủ một khối lượng vũ khí to lớn lấy được của quân đội Sài Gòn bại trận”3 Nhưng mặt khác, do chiến tranh lạnh, Mỹ, Nhật, ASEAN đều muốn làm yếu Việt Nam nhằm hạn chế ảnh hưởng của Liên Xô tại khu vực cho nên quan hệ Việt Nam – ASEAN trong giai đoạn này nhìn chung là hạn chế và có những xích mích không cần thiết. 2.2. Chính sách Đại hội IV (năm 1976) chúng ta đã phát biểu: “Hoàn toàn ủng hộ sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của nhân dân các nước Đông Nam Á vì độc lập dân tộc, dân chủ, hòa bình và trung lập thực sự và không có quân đội dế quốc trên đất nước mình, sẵn sàng thiết lập và phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trong khu vực này”.4 Và ngày 25/7/1976 chúng ta đã nêu bốn nguyên tắc trong quan hệ với ASEAN, đó là: - Tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm lược nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, cùng tồn tại hòa bình. - Không để lãnh thổ của mình cho bất cứ nước nào sử dụng lập căn cứ xâm lược và can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào nước kia và các nước khác trong khu vực. - Thành lập quan hệ hữu nghị láng giềng tốt, hợp tác kinh tế và trao đổi văn hóa trên cơ sở cùng có lợi, giải quyết các vấn đề tranh chấp giữa 3 Trịnh Xuân Lăng, “Một vài suy nghĩ về chính sách của ta đối với các nước ASEAN và đối với Mỹ từ năm 1975 đến năm 1979”, Chính sách đối ngoại Việt Nam từ 1975-2006, tr 16 4 Chính sách đối ngoại Việt Nam 1975-1996, Bộ Ngoại gioa Việt Nam , tr16 6 Quan hệ Việt Nam – ASEAN 1975-1988 Đỗ Thu Trang – E33 các nước trong khu vực thông qua thương lượng theo tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau. - Phát triển sự hợp tác trong khu vực theo điều kiện riêng của mỗi nước vì lợi ích của độc lập, hòa bình, trung lập thật sự ở Đông Nam Á, góp phần vào sự nghiệp hòa bình khu vực. Tuy nhiên bên cạnh đó, chúng ta vẫn duy trì chủ trương: “Tăng cường liên minh ba nước Đông Dương là đối trọng với các nước ASEAN…” 2.3. Triển khai Việt Nam lần lượt lập Đại sứ quán tạo Manila (11/1976). Cuala Lămpơ (7/1977), Băng Cốc (2/1978) và các nước Philippin. Malaixia. Thái Lan cũng đã lập Đại sứ quán tại Việt Nam vào các thời điểm tương ứng. Còn phải kể đến chuyến thăm của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyến duy Trinh thăm 5 nước ASEAN vào tháng 12/1977 và tháng 1/1978. Đặc biệt trong chuyến thăm ASEAN của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cuối tháng 9 đầu tháng 10 năm 1978 các nước này và Việt Nam đã ra thông cáo chung nêu lên các nguyên tắc chỉ đạo quan hệ chung sống hòa bình. Những chuyến viếng thăm này cho thấy Việt Nam cũng có quan tâm đến việc thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước trong khu vực, tuy nhiên những chuyến thăm này mới dừng lại ở mức thăm dò, bước đầu hàn gắn quan hệ hai phia, còn hiệu quả từ những hiệp định kí được trong các chuyến viếng thăm còn rất hạn chế. Về phía ASEAN, họ cũng có những động thái hợp tác ban đầu ví dụ như Philippin tặng một số tiền xây dựng trạm nghiên cứu giống lúa tuy nhiên nhìn chung cũng còn dè dặt. 7 Quan hệ Việt Nam – ASEAN 1975-1988 Đỗ Thu Trang – E33 2.4. Đánh giá Dù trên giấy tờ văn kiện chúng ta có quan tâm đến việc thiết lập quan hệ ngoại giao với ASEAN, tuy nhiên một phần vì chúng ta “bận” làm nghĩa vụ quốc tế, một phần vì cả hai bên đều còn có những nghi kị lẫn nhau nên quan hệ giữa hai bên chưa có gì là đột phá. Về phía chúng ta, đó là một tổn thất khi trong suốt thời gian dài chúng ta không tranh thủ được sự ủng hộ của nước láng giềng để phục vụ cho công cuộc phục hồi đất nước sau chiến tranh và trong việc giải quyết các vấn đề khu vực một cách hòa bình. Điều đáng nói ở đây là, với việc nêu khẩu hiệu “thật sự”, chúng đã làm “mếch lòng” các nước láng giềng. Trong câu chữ chính sách của ta thấp thoáng cách suy nghĩ “đặt mình cao hơn kẻ khác”. Cho nên mới có thái độ gay gắt từ phía Singapore về chữ “độc lập thật sự”! Chúng ta có thể có những suy nghĩ đó nhưng có nhất thiết phải “phơi” nó lên mặt giấy? Phải chăng chúng ta đã để lộ quá nhiều “bộ bikini” đáng ra phải dấu đi, để các nước đọc được cách nhìn nhận của ta nên có thái độ đề phòng, làm chậm quá trình ta hòa nhập với khu vực. Đó cũng chính là cái khó và là một bài học cho những người soạn thảo chính sách. Chính vì thế, mặc dù đã bình thường hóa quan hệ trên cơ sở chính sách bốn điểm, các nước ASEAN vẫn không thật sự yên tâm với ý đồ lâu dài của ta. Do đó khi ta kí hiệp ước Hữu nghị và hợp tác với Liên Xô (năm 1978) mở đường cho Liên Xô có chỗ đứng ở Đông Nam Á và sau đó lại đưa quân vào Campuchia lật đổ chế độ Polpot, họ đã chuyển sang đối đầu quyết liệt với ta về chính trị và ngoại giao nhằm gây sức ép mạnh mẽ buộc ta phải rút hết quân và đi vào giải pháp chính trị cho vấn đề Campuchia. Ở đây, cũng cho thấy rằng giai đoạn này chúng ta vẫn còn rất tin tưởng vào mới quan hệ “hòn đá tảng” với Liên Xô nên chưa nhận thức hết tầm quan trọng với các nước ASEAN cũng như không lo ngại mối đe dọa về an ninh. 8 Quan hệ Việt Nam – ASEAN 1975-1988 Đỗ Thu Trang – E33 Đúng như tác giả Nguyễn duy Trinh đã băn khoăn: “Phải chăng trong giai đoạn 1975-1979 ta đã thiếu tỉnh táo. Nhạy bén tình hình một cách bất biến và đánh giá bạn thù một cách cứng nhắc qua lăng kính của hai cuộc chiến tranh ác liệt ta đã trải qua trong 30 năm trước đó và lăng kính của cuộc chiến trnah lạnh giữa hai siêu cường Xô-Mỹ mà ta đã bị cuốn vào, do đó ta đã không thấy những chuyển biến to lớn, thuận và không thuận cho ta, trong tình hình khu vực không có một chính sách khôn khéo, uyển chyển, mềm dẻo đối với các đối tượng liên quan phù hợp với tình hình khu vực sau chiến tranh. Vì vậy ta đã để lỡ cơ hội trong quan hệ ngoại giao với các nước ASEAN…” 5 3. QUAN HỆ VIỆT NAM - ASEAN GIAI ĐOẠN 1979 – 1988 3.1. Bối cảnh tác động tới việc hoạch định chính sách Khi Việt Nam đưa quân vào Campuchia tiêu diệt bọn diệt chủng Polpot, các nước ASEAN đã tham gia chinh sách bao vây, cô lập Việt Nam và toàn bộ hoạt động của ASEAN chịu ảnh hưởng sâu sắc của vấn đề Campuchia. Quan hệ Việt Nam-ASEAN trở nên lạnh nhạt, trì trệ, nếu không muốn nói là thù địch. Năm 1979 và đầu những năm 80, chúng ta “vướng” vào nghĩa vụ quốc tế, đối phó với chiến tranh Biên giới và bất đồng sâu sắc giữa hai bên về vấn đề Campuchia nên cũng không có hoạt động nào để cải thiện quan hệ ngoại giao. Nhưng tình hình đầu năm 1984 có nhiều chuyển biến làm thay đổi mối quan hệ Việt Nam - ASEAN. Đầu tiên phải kể đến là việc Việt Nam tiếp tục thực hiện rút quân từng phần khỏi lãnh thổ Campuchia (đã bắt đầu từ năm 1982). Còn trên bình diện quốc tế, quan hệ Xô-Mỹ, Xô-Trung có dấu hiệu hòa dịu gây nguy cơ các nước lớn sẽ vượt lên trên các nước ASEAN để giải quyết 5 Trịnh Xuân Lăng, “Một vài suy nghĩ về chính sách của ta đối với các nước ASEAN và đối với Mỹ từ năm 1975 đến năm 1979”, Chính sách đối ngoại Việt Nam từ 1975-2006, tr 19 9 Quan hệ Việt Nam – ASEAN 1975-1988 Đỗ Thu Trang – E33 vấn dề Campuchia bất lợi cho khu vực nên hầu như các nước ASEAN thiên về cải thiện quan hệ với Việt Nam. Trong bối cảnh đó, sự phân hóa giữa các nước ASEAN ngày càng rõ nét hơn. Một nhóm lo ngại về nguy cơ cơ bản và lâu dài là Trung Quốc đối với khu vực nên chủ trương đối thoại với Việt Nam nhằm tìm giải pháp cho vấn đề Campuchia. Nhóm còn lại chủ trương dựa vào Trung Quốc gây sức ép toàn diện với Việt Nam. Cụ thể, Inđônêxia và Mailaixia muốn vượt lên trên vấn đề Campuchia để giải quyết các vấn đề lớn hơn trong khu vực. Tháng 9/1984, Inđônêxia và Mailaixia bắt đầu nêu ra sáng kiến thực hiện khu vực phi vũ khí hạt nhân ở Đông Nam Á, coi đó là một phần quan trọng để thực hiện ZOPAN (khu vực hòa bình, tự do, trung lập) mà không chờ kết thúc vấn đề Campuchia. Chuyển biến quan trọng trong chính sách của ASEAN đối với Việt Nam được đánh dấu bằng việc tại hội nghị AMM tháng 2/1985, các nước ASEAN đã nhất trí cử Inđônêxia làm đại diện đối thoại với các nước Đông Dương6 khẳng định xu thế đối thoại giữa hai nhóm nước Đông Nam Á. 3.2. Nhận thức lãnh đạo Chúng ta thấy được khoảng cách về kinh tế giữa Việt Nam và ASEAN, khả năng còn tụt hậu nữa nếu không mở rộng mối quan hệ. Đông Nam Á có vị trí quan trọng trực tiếp trong toàn bộ đường lối chính sách hòa bình và phát triển của của Việt Nam. ASEAN có thể giúp Việt Nam đột phá cho xu thế đối thoại, tìm kiếm giải pháp chính trị cho vấn đề Campuchia, tạo khu vực hòa bình, ổn định, đó là điều kiện để Việt Nam thực hiện nhiệm vụ phát triển đất nước. 6 Tuyên bố của các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN về vấn đề Campuchia, Bằn Côc, 12/2/1985, Văn kiện ASEAN 1967-1988. Tr160 10 Quan hệ Việt Nam – ASEAN 1975-1988 Đỗ Thu Trang – E33 Quan trọng hơn, giai đoạn này chúng ta đã nhận được bài học về cách nhìn nhận bạn – thù, tập hợp lực lượng và lợi ích quốc gia. Dù đã có Hiệp ước hữu nghị và hợp tác với ta nhưng khi Trung Quốc xâm phạm biên giới phía Bắc Việt Nam, Liên Xô không có một động thái nào gọi là cương quyết đúng như trong hiệp ước đã kí. Lúc ấy chúng ta nhận ra rằng: quan hệ các nước lớn đang đi vào giai đoạn cùng chung sống hòa bình, các nước quan hệ với nhau không phải dựa trên ý thức hệ như chúng ta vẫn nghĩ mà dựa trên lợi ích quốc gia. Đúng như Palmerston, Bộ trưởng Ngoại giao Anh đã nói: Chúng ta không có đồng minh vĩnh viễn, cũng không có kẻ thù vĩnh viễn. Chúng ta chỉ có lợi ích vĩnh viễn mà chúng ta cần phải theo đuổi”. Từ đó chúng ta nhìn nhận lại chính sách coi trọng nghĩa vụ quốc tế, quá tin tưởng vào đồng minh trong giai đoạn truớc để xác định lại lợi ích quốc gia. 3.3. Chính sách Đại hội VI của Đảng (12/1986) khởi xướng đường lối đổi mới, chủ trương chính sách đối ngoại đa phuơng hóa, đa dạng hóa quan hệ, “phấn đấu giữ vững hòa bình ở Đông Dương,… giữ vững hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc”. Với ASEAN, Việt Nam thể hiện thiện chí, momg muốn của Đảng và nhân dân Việt Nam đối với việc tạo lập môi trường hòa bình ở Đông Nam Á: “Chúng ta mong muốn và sẵn sàng cùng các nước trong khu vực thương lượng để giải quyết các vấn đề của Đông Nam Á, thiết lập quan hệ cùng tồn tại hòa bình, xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực ổn định và hợp tác”7, đây là một bước đi thiết thực để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, thực hiện chính sách “cùng tồn tại hòa bình giữa các nước có chế độ chính trị khác nhau. 7 Đảng cộng sản Việt Nam, văn kiện ĐH VI, tr 108 11 Quan hệ Việt Nam – ASEAN 1975-1988 Đỗ Thu Trang – E33 Trong Nghị quyết 13 20/5/1988 (Bộ Chính trị TW Đảng Cộng sản Việt Nam) nêu rõ: “Lợi ích cao nhất của Đảng và nhân dân ta sau khi giải phóng miền Nam, cả nước thống nhất, đi lên CNXH là phải củng cố và giữ vững hoà bình để tập trung xây dựng và phát triển kinh tế” Cùng với mục tiêu ưu tiên phát triển kinh tế, chúng ta bỏ chủ truơng 10 năm trước “Tăng cường liên minh ba nước Đông Dương là đối trọng với các nước ASEAN…” mà giờ đây ta phát triển quan hệ nhiều mặt với Inđônêxia, phá vỡ thế bế tắc trong quan hệ với Thái Lan, mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế, khoa học kĩ thuật, văn hóa với các nước trong khu vực, giải quyết những vấn đề tồn tại với các nước, thúc đẩy việc xây dựng khu vực hòa bình, ổn định, hữu nghị và hợp tác. 3.4. Triển khai Việt Nam rút hết quân khỏi Campuchia, trở ngại lớn nhất trong quan hệ hai bên đang dần được xóa bỏ. Tháng 7/1987 đã diễn ra cuộc đối thoại đầu tiên giữa Việt Nam và Inđônêxia tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hai bên đã ra thông cáo chung (29/7/1987), khai thông quan hệ song phương và mở đường cho xu thế đối thoại, hợp tác, giải quyết vấn đề Campuchia. Tháng 12/1987, tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ ba tại Manila, tổng thống Philippin Aquino tuyên bố không coi Việt Nam là mối đe dạo đối với Philippin. Tiếp đó, tháng 2/1988 Bộ trưởng Ngoại giao Philippin tuyên bố “không chống việc Việt Nam gia nhập ASEAN”. Còn thủ tướng Thái Lan Chatichai khi lên cầm quyền 8/1988 đã đưa ra chủ trương biến Đông Dương từ chiến trường thành thị trường. Như vậy các nước ASEAN vượt lên trên bao vây cấm vận của Mỹ, tách dần khỏi lập trường Trung Quốc đi vào cải thiện quan hệ với Việt Nam. 12 Quan hệ Việt Nam – ASEAN 1975-1988 Đỗ Thu Trang – E33 3.5. Đánh giá Có lẽ không cần nói nhiều về những thành quả đạt được sau khi chúng ta thực hiện đổi mới. Trong quan hệ với ASEAN cũng vậy, từ khi chúng ta đánh giá lại quan hệ bạn thù và lợi ích quốc gia, chúng ta đã đề ra được chính sách phù hợp, hòa nhập hơn với khu vực, tận dụng được môi trường khu vực hòa bình để xây dựng đất nước. Dù sự nhìn nhận lại này có chậm nhưng hết sức cần thiết, đưa đất nước từng buớc thoát khỏi bao vây, cô lập và kịp thời đưa đất nước khỏi bờ vực của khủng hoảng. Chúng ta đã nhận thức được hai mặt của Quan hệ Quóc tế là đấu tranh và hợp tác đan xen, xu thế chuyển từ đối thoại sang đối đầu; tập hợp lực lượng không theo tư duy cũ bạn - thù mà trên cơ sở lợi ích dân tộc; nhận thức được tầm quan trọng của các mối quan hệ láng giềng; chọn đúng của đột phá để giải toả tình thế có nguy cơ bị tăng cường bao vây, cô lập; đề ra chủ trương hội nhập khu vực và chú trọng kinh tế đối ngoại kịp thời. 13 Quan hệ Việt Nam – ASEAN 1975-1988 Đỗ Thu Trang – E33 LỜI KẾT Quan hệ giữa chúng ta và ASEAN đã từng chịu tác động không nhỏ từ sự hiện diện của các nước lớn tại khu vực. Sau khi Mỹ hoàn toàn thất bại ở chiến tranh Việt Nam (với hiệp định Paris - 1973), khu vực được “giải phóng” khỏi áp lực của các nước lớn, từ đó mở đường cho quan hệ giữa các nước láng giềng, vốn đều là các nước bé và đa số đã từng là thuộc địa (trừ Thái Lan). Tuy nhiên, với cái nhìn cũ từ trong thời kì chiến tranh, khoảng 10 năm đầu sau giải phóng chúng ta đã không “mặn mà” với các nước ASEAN và đánh mất đi chừng ấy thời gian cho những sự xích mích không đáng có. Tuy nhiên, nhờ kịp thời đánh giá lại tình hình và xem xét lại chính sách, cuối giai đoạn sau này chúng ta đã từng bước cải thiện được quan hệ với các nước trong khu vực. Thành quả ngày nay là minh chứng rõ nhất cho sự đúng đắn của quyết định đổi mới. Giai đoạn 1975-1988 đánh dấu thời gian thăng trầm trong quan hệ Việt Nam – ASEAN và quan trọng là những chuyển biến khả quan trong mối quan hệ từ giữa những năm 80. Đây là giai đoạn đem lại nhiều bài học cho chúng ta trong việc hoạch định chính sách đối ngoại sao cho phù hợp với tình hình và đối tượng. Thêm vào đó giai đoạn này cũng là bản lề cho những thay đổi to lớn sau này trong quan hệ Việt Nam – ASEAN. Đặc biệt là sự kiện ngày 28/7/1995 Việt Nam trở thành thành viên thứ 7 của Hiệp hội các nước Đông Nam Á. Chính nhờ dấu mốc đổi mới tư duy quan trọng này mới có những sự kiện hợp tác, xích lại gần nhau sau này giữa Việt Nam và ASEAN. Và hiện nay Việt Nam đã là một thành viên năng động, đáng tin cậy của Hiệp hội các nước Đông Nam Á, đóng góp tích cực vào thịnh vượng chung của khu vực. Với sự gia nhập của Việt Nam, ASEAN đã trở thành một tổ chức rộng mở, thống nhất, đoàn kết và uy tín. 14 Quan hệ Việt Nam – ASEAN 1975-1988 Đỗ Thu Trang – E33 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Sách tham khảo: Bộ Ngoại giao, Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, Nxb Chính trị Quốc gia,Hà nội, 2000. Học viện QHQT, Ngoại giao Việt nam hiện đại- Vì sự nghiệp đổi mới, tập II, HV QHQT, Hà nội 2002 Chính sách đối ngoại Việt Nam từ 1975-2006 Website: http://www.mofa.gov.vn 15
- Xem thêm -