Quan hệ giữa nội lực và ngoại lực trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở việt nam hiện nay

  • Số trang: 111 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 25 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ SƠN QUAN HỆ GIỮA NỘI LỰC VÀ NGOẠI LỰC TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Luận văn thạc sĩ triết học Hà Nội - 2009 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ SƠN QUAN HỆ GIỮA NỘI LỰC VÀ NGOẠI LỰC TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Luận văn thạc sĩ triết học Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học Mã số : 60 22 85 Người hướng dẫn khoa học: TS. Dương Văn Duyên Hà Nội - 2009 MỤC LỤC MỞ ĐẦU………………………………………………………………... 1 NỘI DUNG…………………………………………………………...... 8 CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN HỆ GIỮA NỘI LỰC VÀ NGOẠI LỰC TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM………………………………………. 8 1.1. Khái niệm và kết cấu của nội lực……………………………. 1.2. Khái niệm và kết cấu của ngoại lực…………………………. 8 27 1.3. Quan hệ giữa nội lực và ngoại lực………………………… 1.3.1. Nội lực là yếu tố quyết định tranh thủ ngoại lực………… 34 34 1.3.2. Tranh thủ ngoại lực tạo điều kiện phát huy nội lực……… 40 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY QUAN HỆ GIỮA NỘI LỰC VÀ NGOẠI LỰC TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY…………. 48 2.1. Thực trạng phát huy quan hệ giữa nội lực và ngoại lực trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam những năm qua…………………………………………………………… 48 2.1.1. Thành tựu của việc phát huy quan hệ giữa nội lực và ngoại lực ở Việt Nam những năm qua…………………………. 49 2.1.2. Hạn chế của việc phát huy quan hệ giữa nội lực và ngoại lực ở Việt Nam những năm qua.………………………………... 73 2.2. Một số giải pháp nhằm phát huy quan hệ giữa nội lực và ngoại lực trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay……………………………………………………… KẾT LUẬN…………………………………………………………….. 85 96 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………….. 98 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà ngày 02 - 09 - 1945 đã mở ra kỷ nguyên mới cho đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Nhưng những năm 80 của thế kỷ XX, nước ta rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng. Trước thực trạng đó, tại Đại hội lần thứ VI (1986), Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng. Cho đến nay, sự nghiệp đổi mới đã đi được chặng đường hơn 20 năm. Đó là khoảng thời gian không dài nhưng những thành quả đạt được rất to lớn và có ý nghĩa lịch sử đưa nước ta vượt qua khủng hoảng, không những thế còn là cơ sở để nước ta bước vào giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Bước sang thế kỷ XXI, sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước đòi hỏi sự nỗ lực vượt bậc của cả dân tộc để đưa đất nước thoát khỏi cảnh nghèo nàn, lạc hậu. Thời gian từ nay đến năm 2020 đã được Đảng ta xác định là thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm biến nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, khắc phục tình trạng tụt hậu so với các nước khác trong khu vực và trên thế giới. Đây là yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn hiện nay. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, giải quyết mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực đang là bài toán hóc búa cho mỗi quốc gia. Quốc gia nào giải quyết tốt mối quan hệ này thì có thể khai thác được tiềm năng thế mạnh của mình, đồng thời tranh thủ tối đa được nguồn lực bên ngoài như nguồn vốn, khoa học, công nghệ, kinh nghiệm quản lý của các nước để phát triển. Ngược lại, nếu quốc gia đó không có nhận thức và giải quyết đúng mối quan hệ này 1 thì nguồn tài nguyên có nguy cơ bị khai thác cạn kiệt, nội lực bị suy giảm, bản sắc văn hóa dân tộc bị phai nhạt, nền kinh tế đất nước trở nên khó khăn. Việt Nam đã có những nhận thức đúng đắn về mối quan hệ này. Điều đó được thể hiện thông qua chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quan hệ giữa nội lực và ngoại lực trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay. Đảng ta đã xác định đường lối phát triển kinh tế tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX là: “Phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững” [18; 89]. Tại Đại hội lần thứ X, Đảng ta đã đưa ra đường lối phát triển đất nước trong giai đoạn tới, để sớm đưa nước ta ra khỏi khu vực các nước đang phát triển thu nhập thấp và tới năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đó là một tiến trình phức tạp đòi hỏi những cố gắng to lớn, trong đó việc phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực có ý nghĩa rất quan trọng cho việc đạt được các mục tiêu như đã nêu ở trên. Vì vậy, một trong những bài học kinh nghiệm mà Đảng và Nhà nước ta đã rút ra tại Đại hội, đó là: “Phát huy cao độ nội lực, đồng thời ra sức tranh thủ ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới” [22; 71]. Như vậy, có thể nói, vấn đề nội lực và ngoại lực có vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Qua các kỳ Đại hội Đảng, vấn đề này đều được nghiên cứu ở những góc độ và khía cạnh khác nhau. Vì vậy, nghiên cứu quan hệ giữa nội lực và ngoại lực hiện nay ở nước ta là yêu cầu khách quan của thực tiễn phát triển đất nước. Tuy nhiên, việc nghiên cứu mối quan hệ này ở Việt Nam những năm qua thường được thể hiện trong những bài báo khoa học, bài viết trên các tạp chí chuyên ngành, đề cập tới những góc độ nghiên cứu khác nhau. Với mong muốn xem xét một cách tổng thể mối quan hệ này, tôi chọn vấn đề “Quan hệ giữa nội lực và 2 ngoại lực trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của luận văn. 2. Tình hình nghiên cứu của đề tài Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về nội lực và ngoại lực, chẳng hạn: - Trần Văn Thọ (2004), Nội lực và ngoại lực trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu và thảo luận, số 3, tháng 11 - 2004. Tác giả phân tích mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực trong phát triển kinh tế. Ngoại lực như nguồn vốn, khoa học công nghệ, năng lực quản lý có vai trò quan trọng trong phát triển nội lực. Nội lực vẫn là yếu tố quyết định đối với ngoại lực. Có tranh thủ được ngoại lực hay không tùy thuộc vào chính sách của mỗi quốc gia. Sử dụng ngoại lực có hiệu quả hay không phụ thuộc vào cơ chế chính sách, năng lực quản lý, hiệu quả sử dụng, hiệu quả tiếp nhận khoa học công nghệ của mỗi quốc gia. - Đào Đình Thưởng (2005), Kết hợp giữa nguồn lực nội sinh và ngoại sinh của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội. Tác giả nghiên cứu làm rõ một số vấn đề chung về nguồn lực nội sinh và nguồn lực ngoại sinh của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay. Nguồn lực nội sinh bao gồm nguồn lực tự nhiên, nguồn vốn tích lũy từ nội bộ nền kinh tế, nguồn lực con người, ổn định chính trị và văn hóa. Nguồn lực ngoại sinh gồm nguồn lực con người, nguồn vốn nước ngoài và khoa học công nghệ tiên tiến. Tác giả không phân tích vai trò quyết định của nguồn lực nội sinh và vai trò quan trọng của nguồn lực ngoại sinh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta, mà chỉ rõ nội dung và đặc 3 điểm của sự kết hợp giữa nguồn lực nội sinh và nguồn lực ngoại sinh; từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy hiệu quả hơn các nguồn lực này. Cũng có nhiều công trình nghiên cứu về nội lực và các yếu tố cấu thành nội lực: - Vũ Tuyên Hoàng (2007), Phát huy nội lực trong thời kỳ mới, Tạp chí Tư tưởng - Văn hóa, số 4 - 2007. Tác giả đề cập tới vai trò quyết định của việc phát huy nội lực nhằm đáp ứng một cách toàn diện và sâu sắc sự phát triển kinh tế - xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Theo tác giả, nội lực bao gồm nguồn lực con người, nguồn lực khoa học công nghệ và thể chế chính trị. Phát huy nội lực trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa quyết định qua lao động sáng tạo, học hỏi tri thức và kinh nghiệm quốc tế, không ngừng tiến lên phía trước để xây dựng Tổ quốc giàu đẹp, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. - Nguyễn Hữu Thắng (2008), Phát huy năng lực nội sinh cho phát triển bền vững ở Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, tháng 1 - 2008. Bài viết khẳng định vai trò quyết định của việc phát huy năng lực nội sinh đối với năng lực ngoại sinh. Năng lực nội sinh gồm nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực con người, nguồn vốn và nguồn lực khoa học công nghệ. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, việc sử dụng ngoại lực là điều tất yếu khi điều kiện nguồn lực trong nước chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, sử dụng năng lực nội sinh một cách hợp lý cũng là việc không thể xem nhẹ. Năng lực nội sinh có thể được phát huy thông qua việc huy động, khai thác và sử dụng hợp lý, hiệu quả các nguồn lực, nâng cao năng lực kinh doanh, năng lực quản lý điều hành. Phát huy năng lực nội sinh vì mục tiêu phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả và bền vững có ý nghĩa bao quát và quyết định. - Theo ông Nguyễn Trần Bạt - Tổng Giám đốc InvestConsult Group, nội lực của một dân tộc bao gồm sức mạnh tài chính (nguồn vốn và chính 4 sách tài chính), sức mạnh của nguồn lực con người tức lực lượng lao động (số lượng và kỹ năng được đào tạo), sức mạnh trí tuệ (dân trí và năng lực sáng tạo của toàn dân) và cuối cùng là sức mạnh của nhân tố lãnh đạo. Tác giả khẳng định, nội lực là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí này làm nên sức sống Việt Nam bất diệt truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nhiệm vụ của chúng ta là làm cho nguyên khí ngày càng sinh sôi nảy nở, ngày càng dồi dào hơn, tạo tiền đề cho Việt Nam vươn lên chiếm lĩnh những đỉnh cao về nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội. Chúng ta sẽ không để nội lực như những mỏ vàng nằm im trong lòng đất hoặc bị khai thác bừa bãi và lãng phí, mà ngược lại nội lực sẽ là những nguồn lực vô giá giúp chúng ta đi nhanh hơn tới tương lai. - Nguyễn Ngọc Long (2005), Vận dụng các bài học kinh nghiệm những năm qua, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 4 2005. - Phạm Tất Dong (2006), Thành tựu bước đầu và những vấn đề cấp thiết đặt ra trong đào tạo nhân lực ở nước ta, Tạp chí Cộng sản, tháng 5 2006. - Bùi Sĩ Tiếu (2007), Phát triển khoa học, công nghệ, thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí Cộng sản, tháng 4 - 2007. - Phạm Quang Nghị (1998), Vai trò của văn hóa trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta, Tạp chí Cộng sản, tháng 7 - 1998. Các công trình trên chủ yếu đề cập tới các yếu tố cấu thành nội lực như nguồn lực con người, nguồn vốn, nguồn lực khoa học công nghệ, nguồn lực tự nhiên và khẳng định vai trò quyết định của việc phát huy nội lực. Đồng thời đề ra một số giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của các nguồn lực ấy đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nhiều công trình nghiên cứu, làm rõ vai trò của ngoại lực theo những hướng khác nhau: 5 - Hồ Quang Minh (2006), Nguồn lực đầu tư bên ngoài trong sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, tháng 2 2006. Theo tác giả, ngoại lực bao gồm các nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), kiều hối và những nguồn khác như vay tín dụng ngắn hạn, trung hạn, chứng khoán, trái phiếu... Bài viết tập trung phân tích những nguồn lực bên ngoài mang tính đầu tư vật chất gắn liền với việc chuyển giao, tiếp thu công nghệ, kỹ thuật... và đã có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. - Vũ Khoan (2005), Đổi mới về đối ngoại, Tạp chí Cộng sản, tháng 8 2005. - Nguyễn Văn Thanh (chủ biên) (2003), Những mảng tối của toàn cầu hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. - Đặng Hữu (2004), Những vấn đề mang tính toàn cầu gắn liền với sự phát triển khoa học, công nghệ trong bối cảnh toàn cầu hoá và một số giải pháp mang tính định hướng cho việc giải quyết những vấn đề này ở nước ta hiện nay, Tạp chí Khoa học xã hội, số 10 - 2004. Điểm qua các công trình trên, chúng ta thấy vấn đề nguồn lực cho quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thực sự là đề tài thu hút sự chú ý của nhiều nhà khoa học, nó gợi ra không ít vấn đề phải nghiên cứu không chỉ trên phương diện lý luận mà cả tổng kết thực tiễn. Những công trình nói trên đã tạo điều kiện lớn cho chúng tôi trong quá trình thực hiện luận văn. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn + Mục đích: Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ khái niệm và kết cấu của nội lực, ngoại lực và thực trạng giải quyết mối quan hệ này ở Việt Nam những năm 6 qua, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm phát huy tốt hơn nữa mối quan hệ này trong quá trình xây dựng đất nước ta những năm tới. + Nhiệm vụ: Để thực hiện mục đích trên, luận văn giải quyết những nhiệm vụ sau: - Làm rõ khái niệm và kết cấu của nội lực, ngoại lực, mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực trong sự phát triển đất nước. - Đánh giá thực trạng phát huy quan hệ giữa nội lực và ngoại lực trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam những năm qua. - Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy tốt hơn nữa mối quan hệ này trong quá trình xây dựng đất nước ta hiện nay. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn Luận văn tập trung nghiên cứu, làm rõ thực trạng việc giải quyết quan hệ giữa nội lực và ngoại lực trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ ngày đổi mới đất nước đến nay, nhất là từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. 5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn + Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam về nội lực, ngoại lực, phát huy quan hệ giữa nội lực và ngoại lực. Luận văn cũng tiếp thu những kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài trong những năm gần đây. + Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; phương pháp logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, và một số phương pháp cụ thể của xã hội học như thống kê, so sánh. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 7 + Ý nghĩa lý luận: Góp một phần vào việc nghiên cứu quan hệ giữa nội lực và ngoại lực ở nước ta hiện nay nói chung. + Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu và giảng dạy những vấn đề có liên quan đến luận văn. Đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng trong thực tiễn để khai thác có hiệu quả những tiềm năng thế mạnh của đất nước và tranh thủ có hiệu quả hơn nữa sự hợp tác quốc tế trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 5 tiết. NỘI DUNG CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN HỆ GIỮA NỘI LỰC VÀ NGOẠI LỰC TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 1.1. Khái niệm và kết cấu của nội lực Nội lực trong các mối quan hệ khác nhau được hiểu khác nhau. Ở đây, chúng ta xét khái niệm nội lực trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Có ý kiến cho rằng, nội lực của một dân tộc bao gồm sức mạnh tài chính, sức mạnh của nguồn lực con người, sức mạnh trí tuệ và sức mạnh của nhân tố lãnh đạo. Có ý kiến khẳng định các yếu tố cấu thành nội lực gồm vốn, công nghệ và nguồn lực kinh doanh. Ý kiến khác nhấn mạnh vai trò của nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực con người, nguồn vốn và nguồn lực khoa học công nghệ là các yếu tố tạo nên nội lực của một quốc gia. 8 Tựu trung lại, có thể khẳng định nội lực là tổng thể các nguồn lực bên trong, quy định sự vận động và phát triển của quốc gia đó trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Nội lực bao gồm các yếu tố vật chất như điều kiện tự nhiên, tài nguyên khoáng sản, nguồn lực con người,... các yếu tố tinh thần như tinh thần yêu nước, ý thức tự cường dân tộc,... Nội lực bao gồm cả những yếu tố của quá khứ và hiện tại có thể huy động vào việc xây dựng và phát triển đất nước. Về nội lực, ở đây xin nêu một số yếu tố cơ bản sau: Một là, nguồn lực tự nhiên. Nguồn lực tự nhiên như khí hậu, đất đai, tài nguyên khoáng sản,... của một quốc gia ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của quốc gia đó. Một đất nước có tài nguyên phong phú, đất đai, khí hậu thuận lợi thường có điều kiện phát triển hơn những quốc gia khác. Xét những yếu tố này, Việt Nam có những thuận lợi nhất định cho sự phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay. - Vị trí địa lý: Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam châu Á, giáp biển Đông với diện tích 331 nghìn km2 đất liền và gần 1 triệu km2 diện tích lãnh hải, được chia thành 63 tỉnh, thành phố theo 8 vùng kinh tế. Phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây giáp Lào và Campuchia, phía Nam và Đông giáp biển Đông với 3260 km đường bờ biển cùng hàng nghìn đảo lớn nhỏ với các quần đảo lớn như Hoàng Sa, Trường Sa, Bạch Long Vĩ, Cát Bà, Lý Sơn, Côn Đảo, Phú Quốc... Vị trí địa lý của Việt Nam là một lợi thế địa - kinh tế, tạo điều kiện để phát triển đa dạng các ngành nghề từ nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và du lịch. Việt Nam có vùng lãnh hải rộng lớn chứa nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng từ hải sản, dầu mỏ, muối,... Đặc biệt, Việt Nam có bờ biển kéo dài, có nhiều đảo và phong cảnh đẹp có lợi thế phát triển du lịch như Vịnh Hạ Long, Phú Quốc, Côn Đảo; ngoài ra còn có các cảng biển, các loại hình vận tải biển, các ngành công nghiệp đóng tàu, khai thác nguồn lợi từ đại dương như đánh bắt cá, tôm, khai thác dầu, muối,... 9 Việt Nam nằm trong khu vực có lợi thế về địa - chính trị chiến lược gần đường hàng hải quốc tế, giao lưu dễ dàng với các hải cảng lớn và các nước trên thế giới. Nằm ở vị trí trung tâm vùng Đông Nam Á - khu vực đang có tốc độ tăng trưởng cao, năng động nhất thế giới, thuận lợi giao lưu, hội nhập và tiếp thu nguồn lực từ bên ngoài như nguồn vốn, khoa học, công nghệ, kinh nghiệm quản lý và hàng hoá của Việt Nam xuất khẩu đi khắp nơi trên thế giới. Tuy nhiên, do nước ta có đường bờ biển dài nên trung bình hàng năm cũng phải hứng chịu nhiều cơn bão, có những cơn bão lớn gây thiệt hại không nhỏ cho ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và cả con người. Nhưng nhìn chung, nước ta ở vào vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển kinh tế trong nước và tiếp thu văn hoá, quan hệ kinh tế với bên ngoài. Vấn đề còn lại là chúng ta phải có kế hoạch khai thác hợp lý nguồn lực này, tránh khai thác lãng phí gây ô nhiễm môi trường làm cản trở sự phát triển đất nước. - Tài nguyên thiên nhiên: Tài nguyên thiên nhiên là các yếu tố của tự nhiên có thể tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất xã hội. Tài nguyên thiên nhiên Việt Nam tương đối phong phú hơn một số nước trong khu vực, tạo lợi thế quan trọng để phát triển. Tuy nhiên, tài nguyên thiên nhiên Việt Nam hầu hết có quy mô không lớn và phân bố không đều giữa các vùng, nhiều tài nguyên ở dạng tiềm năng, khả năng khai thác khó khăn, đòi hỏi vốn đầu tư lớn. + Tài nguyên khoáng sản: Về mặt nhiên liệu, ta có than và dầu lửa. Đối với khu vực Đông Nam Á, trữ lượng than của ta có thể coi như đứng hàng đầu, còn đối với các bể than lớn trên thế giới thì còn nhỏ. Riêng khu vực Quảng Ninh, trữ lượng than thăm dò khoảng 3 tỷ tấn. Ngoài ra còn một số mỏ than khác như mỏ than Thái Nguyên, mỏ than Nông Sơn thuộc Quảng Nam - Đà Nẵng. Nhưng tài nguyên 10 quý giá nhất về mặt nhiên liệu là dầu lửa và khí đốt đang đi vào quy trình khai thác hiện đại với nhiều triển vọng không nhỏ. Về kim loại, ta có nhiều mỏ khoáng sản với trữ lượng khá lớn như bôxit, crôm, thiếc, đồng, còn phần lớn là những mỏ nhỏ, rải rác khắp nơi. Ngoài ra, ở Việt Nam còn có mănggan, titan, chì, kẽm, vonfram, molybden, thuỷ ngân, ăngtimoan, vàng, bạc. Còn các mỏ phi kim loại ở nước ta phong phú và có nhiều giá trị sử dụng, quan trọng hơn cả các mỏ apatit, sét, vật liệu xây dựng. Đặc biệt, ta có một số đá quý, vân đẹp, có thể mài mỏng để làm ốp lát có giá trị xuất khẩu cao. Như vậy, Việt Nam có nhiều mỏ khoáng sản có ích và được phân bố rộng khắp. Nhưng đa số các mỏ được thăm dò và khai thác cho đến nay chỉ là các mỏ nhỏ so với ở nhiều nơi trên thế giới. Trong tương lai, ta cần tích cực thăm dò trữ lượng chính xác và khai thác mạnh mẽ một số tài nguyên có giá trị lớn như dầu khí, bôxit, than, apatit, vật liệu xây dựng,... để làm giàu cho Tổ quốc. Trước mắt, chúng ta cần khai thác hợp lý và tiết kiệm các mỏ hiện tại tránh lãng phí các loại tài nguyên không thể tái tạo này và có quy hoạch sử dụng các diện tích đã khai thác hết khoáng sản vào các mặt kinh tế có ích khác. + Tài nguyên khí hậu: Khí hậu và thời tiết là những điều kiện thiết yếu cho sản xuất và sinh hoạt. Nhưng coi khí hậu như một tài nguyên là một vấn đề mới mẻ. Không phải mọi yếu tố khí hậu đều được sử dụng trực tiếp để sản xuất ra của cải vật chất. Tương đối rõ có thể kể là bức xạ mặt trời, gió và lượng mưa. Bức xạ mặt trời là nguồn gốc sản sinh ra vật chất hữu cơ nuôi sống con người. Vị trí nội chí tuyến của lãnh thổ nước ta đã tạo ra nguồn tài nguyên bức xạ dồi dào: “Tổng lượng bức xạ (tổng xạ) ở Việt Nam được từ 100 đến 130 kcal/cm2/năm” [28; 74]. Bức xạ mặt trời không những cần thiết cho sinh vật, mà còn cần thiết cho nhiều quá trình tự nhiên khác, và do đó giá trị sử dụng cũng rất đa dạng, mà hiện nay ta mới ứng dụng được rất ít. Trước mắt 11 nên đẩy mạnh việc sử dụng nhiệt năng của mặt trời vào trong sinh hoạt, tạo ra nguồn điện, năng lượng rẻ tiền sẵn có và không bao giờ cạn ở mọi lúc, mọi nơi. Tuy nhiên, bức xạ mặt trời lớn cũng có mặt tiêu cực của nó. Vì quang hợp cần rất ít bức xạ, mà thực ra đến 90% bức xạ dùng để làm bốc hơi nước. Do đó, nếu thiếu nước thì mặt trời thiêu đốt tất cả và cảnh tượng hoang mạc sẽ diễn ra. Vì vậy, việc nghiên cứu bức xạ phải đi đôi với việc nghiên cứu lượng mưa và trong mối tương quan với lượng mưa. Ở Việt Nam, lượng mưa khá lớn, trung bình vào khoảng 1500 - 2000 mm. Ở các vùng núi cao chắn gió, lượng mưa còn có thể vượt quá 3000 mm, thậm chí 4000 mm. Nước mưa là nguồn nước chính của sông ngòi và có thể được giữ lại để trồng trọt và dùng trong sinh hoạt. Chế độ mưa ở Việt Nam là mưa theo mùa, cho nên thực ra vẫn có lúc thiếu nước, nhưng lại có lúc quá dư thừa. Mưa nhiều và mưa tập trung dễ xói mòn đất đai và gây úng lụt. Nhưng nếu chế ngự được trước hoặc rải đều ra trong năm, thì lượng nước dồi dào là nguồn tài nguyên quý giá, cần cho cả công nghiệp, nông nghiệp và nhu cầu sinh hoạt của nhân dân. Biện pháp chính vẫn là xây dựng các hồ chứa, bố trí hợp lý ở khắp các vùng đồi núi. Việc thiết kế, xây dựng đô thị và nhà cửa của nhân dân cũng phải chú ý đến đặc điểm của lượng mưa và chế độ mưa để vừa tận dụng được lượng mưa, vừa tránh được thiệt hại. Khác với mưa, gió là tài nguyên ít được sử dụng, trừ việc để đẩy các thuyền buồm. Gió bắt đầu có ý nghĩa kinh tế khi vận tốc vượt quá 2m/giây. Tuy nhiên, gió từ 6m/giây (cấp 4) trở lên lại có hại, làm đổ cây cối, nhà cửa, hoa màu. + Tài nguyên nước: Tài nguyên nước bao gồm tài nguyên nước trên mặt và nước ngầm. Do các sông ngòi chảy qua lãnh thổ Việt Nam nhiều khi có phần thượng - trung lưu trên lãnh thổ các nước láng giềng mà lượng nước trên đất nước ta rất phong phú so với diện tích: “Tổng lượng nước mặt được tạo ra trung bình hàng năm 12 hơn 880 tỷ m3” [38; 6] nhưng phân bố không đều trong không gian và thời gian. Do nằm ở vùng cuối hạ lưu sông Mê Công, sông Hồng, sông Mã, sông Cả nên có tới “62,5% (xấp xỉ 570 tỷ m3) từ lãnh thổ các quốc gia thượng lưu đổ vào nước ta; lượng nước được tạo ra từ trong lãnh thổ Việt Nam chỉ khoảng 313 tỷ m3/năm (chiếm 37,5%). Do vậy, khả năng đảm bảo có nước đầy đủ gặp khó khăn, đặc biệt là trong mùa khô lượng nước chỉ còn khoảng 15% - 30% mà thôi” [38; 6]. Vì thế, chúng ta cần có kế hoạch giữ nước, tránh tình trạng cạn kiệt nước trong mùa khô. Lượng nước ngầm ở Việt Nam cũng khá phong phú, đủ để nuôi dưỡng các dòng sông trong mùa khô và giữ cho cây cối xanh quanh năm, nếu chúng ta khai thác tốt lượng nước ngầm còn đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất: “Về tài nguyên nước ngầm, trữ lượng khoảng 50 - 60 tỷ m3 và trữ lượng khai thác khoảng 10 - 12 tỷ m3. Hàng năm có thể khai thác trên 1 tỷ m3 (khoảng 2 3 triệu m3/ngày)” [38; 6]. + Tài nguyên đất: Đất là tài nguyên quý giá nhất mà ta cần bảo vệ và chăm sóc. Trên toàn quốc: “Có hơn 33 triệu ha đất đai tự nhiên các loại, nhưng do đồi núi chiếm đến 3/4 diện tích mà đất đai có khả năng nông nghiệp không nhiều lắm, chỉ đến khoảng 8 triệu ha, trong đó diện tích cấy lúa còn ít nữa, tối đa không quá 5 - 6 triệu ha” [28; 79]. Vì vậy, trong thời gian tới, cần nâng cao chất lượng sử dụng đất, tận dụng tối đa mọi loại đất phục vụ cho sự phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. + Tài nguyên thực vật: Tài nguyên thực vật bao gồm thực vật hoang dại và thực vật trồng trọt. Các sản phẩm chính lấy từ cây hoang dại là gỗ, sau đến tre nứa và một số lâm sản khác, còn khối lượng cơ bản các sản phẩm cần thiết đều nhận được từ cây trồng. Tuy nhiên, nếu tích cực tìm tòi khai thác thì từ một hệ thực vật phong 13 phú và đa dạng như hệ thực vật Việt Nam, chúng ta hy vọng có thể tìm thêm nhiều nguyên liệu thực vật có ích nữa. Hiện nay, ta đã thống kê được hơn 800 loài cây gỗ, trong đó có nhiều loại gỗ quý bền cứng, có vân hay màu sắc đẹp hoặc có những công dụng đặc biệt như chứa tinh dầu. Ngoài hai sản phẩm chính với sản lượng lớn và giá trị cao là gỗ và tre nứa, rừng còn cung cấp rất nhiều loại lâm sản có nhiều công dụng khác nhau, nhưng quy mô khai thác nhỏ như nấm hương, mộc nhĩ, cây dược liệu,... đặc biệt một cây thuốc có nhiều tác dụng và rất thích hợp với khí hậu miền núi ở Việt Bắc nước ta là cây thuốc phiện. Nhưng thuốc phiện nếu dùng bừa bãi thì có hại cho sức khỏe nên việc trồng để chế dược liệu phải gắn liền với việc kiểm soát nghiêm ngặt. Tài nguyên thực vật có giá trị cao còn là cây trồng. Sản phẩm chính của cây trồng là lương thực, thực phẩm và nguyên liệu cho công nghiệp nhẹ: lúa, ngô, khoai, sắn, rau, đậu, đay, gai,... Có thể nói, tài nguyên thực vật ở nước ta vô cùng phong phú, nhưng còn nhiều loài có những tính chất quý mà ta vẫn chưa hiểu hết, nhiều loài chúng ta còn sử dụng lãng phí, chưa nghiên cứu tận dụng tổng hợp và với hiệu quả kinh tế cao. Chúng ta cũng chưa chú ý đến vấn đề nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm bằng cách chọn giống, chuyên canh và tìm ra các biện pháp kỹ thuật thích hợp nhất. Vì vậy, việc nghiên cứu kỹ tài nguyên thực vật là một trong những nhiệm vụ cấp bách hiện nay. + Tài nguyên động vật: Cũng giống tài nguyên thực vật, ở đây ta chú trọng đến động vật hoang dại, tính chất tự nhiên hơn là đến vật nuôi. Giữa thực vật và động vật có mối quan hệ chặt chẽ trong một hệ sinh thái thống nhất. Động vật sống dựa vào thực vật, phụ thuộc vào các quần hợp thực vật, nhưng đồng thời cũng bảo vệ thực vật, giúp thực vật phát triển, giữ cho hệ sinh thái được cân bằng. 14 Giới thực vật Việt Nam đã phong phú, đa dạng, thì giới động vật cũng vậy, đồng thời do khả năng thích nghi cao với hoàn cảnh, giới động vật là thành phần phản ánh rõ nét nhất tính chất nội chí tuyến của tự nhiên Việt Nam, do đó mà cung cấp nhiều đặc sản có giá trị xuất khẩu cao: “Việt Nam có đến gần 200 loài thú, gần 800 loài chim, gần 100 loài lưỡng cư và trên 150 loài bò sát, 1000 loài cá biển, 200 loài cá nước ngọt. Trong số đó có nhiều loài đặc hữu và quý hiếm” [28; 89]. Nhìn chung, nguồn lực tự nhiên Việt Nam phong phú và đa dạng về đất đai, khí hậu, thảm thực vật, động vật, nguồn nước, khoáng sản,... là tiền đề để thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu công nghiệp, dịch vụ theo hướng đa dạng, phù hợp với điều kiện tự nhiên và sinh thái phát triển cây, con có giá trị cao để xuất khẩu và phát triển một số ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp nặng như than đá và dầu khí. Tuy nhiên, nguồn tài nguyên thiên nhiên nước ta những năm gần đây do nhiều điều kiện khách quan và chủ quan đã có những biến đổi theo hướng tiêu cực: Tài nguyên rừng hầu như cạn kiệt, tài nguyên nước và khí hậu có nguy cơ ô nhiễm, tài nguyên khoáng sản phân bố không đều và có trữ lượng không lớn trừ than đá và dầu khí nên rất bất lợi cho khai thác. Đất nông nghiệp có thể được mở rộng nhưng rất khó khăn bởi muốn phát triển công nghiệp lại phải thu hẹp đất nông nghiệp. Vì vậy, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chúng ta phải khai thác một số tài nguyên có điều kiện thuận lợi, góp phần quan trọng tích lũy trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển. Về cơ bản và lâu dài, chúng ta không thể tạo ra một cơ cấu kinh tế phát triển nhanh và bền vững chỉ dựa vào nguồn lực tự nhiên, mà phải đi theo hướng phát huy vai trò đặc biệt quan trọng của nguồn lực con người, tận dụng tối đa nguồn vốn và áp dụng thành tựu của khoa học, công nghệ vào sản xuất. Hai là, văn hóa và nguồn lực con người. 15 Văn hóa và nguồn lực con người là nguồn lực quan trọng trong sự phát triển của thời đại ngày nay - thời đại khoa học, công nghệ. Thực tế đã chỉ ra rằng, quốc gia nào có chất lượng nguồn nhân lực cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển. Chúng ta biết rằng, nguồn lực tự nhiên, nguồn lực khoa học, công nghệ và nguồn vốn có vai trò rất lớn trong sự phát triển của mỗi quốc gia. Song, những nguồn lực đó ở dưới dạng tiềm năng, tự chúng là những khách thể bất động. Chúng chỉ trở thành nhân tố “khởi động” và phát huy tác dụng khi kết hợp với nguồn lực con người. Cho đến nay, có nhiều định nghĩa về văn hóa và quan niệm khác nhau về vai trò của văn hóa đối với sự phát triển xã hội. Trên nền tảng văn hóa truyền thống Việt Nam, Đảng ta luôn đặc biệt quan tâm và đề cao vai trò của văn hóa trong phát triển đất nước, phát triển xã hội và phát triển con người. Đảng ta khẳng định: Văn hóa - nghệ thuật là nơi đáp ứng tốt những nhu cầu cao của nhân dân và phát triển những phẩm chất cao quý của con người. Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta đã khẳng định: “Văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” [15; 110]. Đây là nhận thức mới của Đảng ta về văn hóa, nó thể hiện trí tuệ và tầm lý luận cao của Đảng. Đảng ta coi văn hóa không chỉ là mục tiêu phấn đấu vươn tới những giá trị cao đẹp cho cuộc sống, là bản chất của nền chính trị Việt Nam, mà còn đặc biệt quan tâm vai trò và sức mạnh của văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội: Văn hóa là sức sống, là động lực thúc đẩy mọi hoạt động sống của con người, từ kinh tế, chính trị đến xã hội. Văn hóa được Đảng ta coi là mục tiêu của xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đồng thời, văn hóa cũng là nội lực mạnh mẽ của việc xây dựng nền kinh tế đó. Truyền thống văn hóa, sức mạnh văn hóa trong lực lượng sản xuất (nguồn lực con người); trình độ tổ chức lao động sản xuất, quản lý kinh tế - xã hội... là động lực bên trong sự phát triển của mỗi quốc gia. 16 Đảng ta chủ trương văn hóa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Văn hóa nằm trong và hiện thân trong lực lượng sản xuất, trong từng cá nhân có tri thức, trí tuệ, kỹ năng lao động; văn hóa nằm trong và hiện thân cả trong trình độ và năng lực tổ chức nhà nước, tổ chức cơ quan, trong doanh nghiệp. Chỉ có một tổ chức, một cơ quan, một xí nghiệp, doanh nghiệp có văn hóa mới đem lại hiệu quả trong hoạt động, quản lý và sản xuất. Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, vì thế, không chỉ là mục tiêu xây dựng và phát triển văn hóa. Nói đầy đủ, đó là xây dựng năng lực, sức mạnh của văn hóa Việt Nam, từ đó xây dựng sức mạnh của dân tộc, phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy đất nước tiến nhanh cùng các nước trong khu vực và thế giới. Sự phát triển của dân tộc trong thế giới đương đại rõ ràng không thể thiếu yếu tố văn hóa. Chúng ta có ưu thế của việc thực hiện mục tiêu đó, đó là bản sắc dân tộc Việt Nam. Nhận diện về bản sắc dân tộc Việt Nam, Đảng ta đã chỉ rõ: “Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống” [17; 56]. Yêu nước, thương người là sự cao quý của tư tưởng và tâm hồn Việt Nam, là giá trị nhân cách của con người Việt Nam, đó là truyền thống dân tộc trải qua bao biến thiên của lịch sử vẫn tồn tại một cách bền bỉ và tỏa sáng trên gương mặt tinh thần của cả dân tộc. Cốt cách Việt Nam định hình trong thử thách khắc nghiệt chống thiên tai và chống giặc ngoại xâm, đoàn kết và cố kết cộng đồng, nương tựa vào nhau để tồn tại và phát triển, bởi sức mạnh của hợp 17
- Xem thêm -