Quan hệ an ninh Mỹ-Nhật thời hậu chiến tranh lạnh (1992-1999)

  • Số trang: 80 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 45 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27372 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LỊCH SỬ …..o0o….. LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP QUAN HỆ AN NINH MỸ - NHẬT THỜI HẬU CHIẾN TRANH LẠNH (1992-1999) Thầy hướng dẫn: Lê Phụng Hoàng Sinh viên: Trần Ngọc Anh Thư Khoá học 1996-2000 Thành phố Hồ Chí Minh, 05/2000 LỜI CẢM ƠN Xin ghi ơn quý thầy cô trong khoa đã tận tuỵ giảng dạy trong những năm học qua và thầy Lê Phụng Hoàng đã tận tình hướng dẫn giúp em hoàn thành luận văn này. Xin quý thầy cô nhận nơi đây lòng biết ơn sâu sắc. MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN ............................................................................................. 2 MỤC LỤC ................................................................................................... 3 PHẦN MỞ ĐẦU ......................................................................................... 5 1. Lý do chọn đề tài. .................................................................................................. 5 2. Tình trạng vấn đề................................................................................................... 6 3. Cấu trúc nội dung. ................................................................................................. 7 Chương 1: SƠ LƯỢC VỀ MỐI QUAN HỆ AN NINH MỸ-NHẬT TRONG THỜI CHIẾN TRANH LẠNH ................................................. 9 1.1. Quan hệ Mỹ-Nhật trước khi ký hiệp ước an ninh. ............................................. 9 1.2. Quan hệ an ninh Mỹ-Nhật từ khi ký hiệp ước an ninh tới năm 1992 .............. 10 Chương 2: TÌNH HÌNH QUAN HỆ QUỐC TẾ Ở CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG THỜI HẬU CHIẾN TRANH LẠNH ......................... 16 2.1. Nhật Bản lo ngại về mối đe dọa của Bắc Triều Tiên và ý đồ thật của Mỹ trong cuộc khủng hoảng hạt nhân ở Triều Tiên. ............................................................... 16 2.1.l. Nhật Bản lo ngại về mối đe dọa của Bắc Triền Tiên.(l).......................................16 2.1.2. Ý đồ thật của Mỹ trong cuộc khủng hoảng hạt nhân ở Tiều Tiên .......................18 2.2. Sự có mặt về quân sự của Mỹ ở Châu Á – Thái Bình Dương và vấn đề an ninh ở Đông Bắc Á. ......................................................................................................... 22 2.2.1. Những thay đổi trong chiến lược an ninh quân sự của Mỹ ở Châu Á – Thái Bình Dương sau chiến tranh lạnh. ..........................................................................................22 2.2.2. Những Nhân tố tác động đến sự có mặt về quân sự của Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương. ..................................................................................................................25 2.2.3. Sự có mặt về quân sự của Mỹ ở Châu Á-Thái Bình Dương. ..............................27 2.2.4. Vấn đề an ninh ở Đông Bắc Á. ......................................................................30 Chương 3: MỸ - NHẬT THAY ĐỔI PHƯƠNG CHÂM PHÒNG VỆ MỚI THỜI HẬU CHIẾN TRANH LẠNH............................................ 43 3.1. Hợp tác phòng thủ Nhật – Mỹ trong thời đại mới............................................ 43 3.1.1. Hợp tác phòng thủ Nhật – Mỹ góp phần ngăn chặn tranh chấp trong khu vực...43 3.1.2. Mỹ Nhật cần có những nỗ lực ngoại giao để loại bỏ mối nghi ngờ. ...................46 3.1.3. Mỹ - Nhật tăng cường hợp tác quốc phòng. ........................................................48 3.2. Lực lượng phòng vệ Nhật Bản với phương châm phòng thủ mới. .................. 56 3.2.1. Phương hướng của tuyên bố chung an ninh 1996 .......................................57 3.2.2. Vai trò mở rộng của lực lượng phòng vệ.............................................................59 3.2.3. Lập trường của Trung Quốc đối với việc mở rộng lực lượng phòng vệ Nhật Hàn. .......................................................................................................................................63 3.2.4. Triển vọng cho cơ cấu an ninh Đông Bắc Á trong tương lai. .............................69 Chương 4: PHÂN TÍCH PHƯƠNG CHÂM PHÒNG VỆ MỚI NHẬTMỸ ............................................................................................................. 71 4.1. Sự thay đổi mới trong hợp tác phòng vệ Nhật - Mỹ ........................................ 71 4.2. Ảnh hưởng của việc Mỹ, Nhật Bản sửa đổi phương châm hợp tác phòng vệ. 74 PHẦN KẾT LUẬN ................................................................................... 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................... 80 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Từ xưa đến nay, ngoại giao là một vấn đề quan trọng đối với tất cả các nước trên thế giới. Sau thời kỳ Chiến tranh lạnh chấm dứt, vấn đề ngoại giao đã được các nước đặc biệt quan tâm và nhất là trong những thập kỷ gần đây khi loài người chuẩn bị bước sang một thế kỷ mới. Trong đó, đặt biệt là Mỹ -Nhật cả hai nước đều là cường quốc hàng đầu của thế giới. Mỹ ra sức mở rộng các mối quan hệ ngoại giao, ngấm ngầm thực hiện chính sách "toàn cầu phản cách mạng" của mình. Nhật Bản từ một nước bại trận nhờ sự giúp đỡ của Mỹ đã trở thành siêu cường thứ hai về kinh tế. Liên minh an ninh Mỹ - Nhật được hình thành trong (thời kỳ Chiến tranh lạnh xuất phát từ lợi ích chiến lược của hai bên. Sau Chiến tranh thế giới thứ II, Nhật Bản bị áp đặt một hiến pháp hòa bình theo đó Nhật Bản chỉ được phép duy trì một khả năng phòng vệ hết sức hạn chế. Nhật Bản coi Liên Xô và Trung Quốc là hai mối đe dọa an ninh trực tiếp và vì thế tìm kiếm cái ô an ninh về phía Mỹ. Đối với Mỹ, duy trì được một lực lượng mạnh trên "chiếc tàu sân bay không thể bị đánh chìm" này có ý nghĩa chiến lược tối quan trọng kiềm chế các siêu cường Cộng Sản cũng như kiểm soát an ninh khu vực trong chiến lược an ninh toàn cầu của mình. Từ khi Chiến tranh lạnh chấm dứt, quan hệ an ninh Mỹ- Nhật ngày càng được củng cố và phát triển cao hơn. Các dự luật liên quan đến Phương châm hợp tác phòng thủ Mỹ -Nhật đã được thông qua, đánh dấu một bước cụ thể hóa các nội dung trong tuyên bố chung an ninh năm 1996, coi Hiệp ước an ninh Mỹ-Nhật là "cơ sở ổn định phồn vinh của khu vực châu Á _Thái Bình Dương trong thế kỷ 21"quan hệ hợp tác phòng thủ Nhật-Mỹ đã bước sang giai đoạn mới. Bởi tầm quan trọng của hai siêu cường này nên nhiều biến đổi trong quan hệ giữa hai nước ít nhiều cỏ ảnh hưởng đến khu vực và thậm chí cả thế giới. Chính vì vậy, để nhằm làm rõ những thay đổi và ảnh hưởng của hai nước này đối với các nước trong khu vực như thế nào? Nên em chọn đề tài "Quan hệ an ninh Mỹ-Nhật thời hậu Chiến tranh lạnh" (1992-1999). Bước đầu thực hiện đề tài tốt nghiệp, khả năng bản thân còn những hạn chế nên trong phần nội dung và phương pháp trình bày còn nhiều thiếu sót. Rất mong dược sự giúp đỡ, góp ý của thầy cô và các bạn cho bài viết được hoàn thiện hơn. Cũng qua đây em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong khoa Lịch Sử đã giảng dạy cho em trong suốt những năm học tại Trường. Em xin cảm ơn thầy Lê Phụng Hoàng đã nhiệt tình hướng dẫn cho em hoàn thành tốt luận văn. Xin quý thầy cô hãy nhận nơi em lòng biết ơn sâu sắc. 2. Tình trạng vấn đề. "Quan hệ an ninh Mỹ-Nhật thời hậu Chiến tranh lạnh" (1992-1999) - Đây không hẳn là một đề tài mới đã có không ít những nhà nghiên cứu dưới nhiêu hình thức khác nhau như báo tạp chí... Lần đầu tiên, PTS Ngô Xuân Bình - cán bộ nghiên cứu trung râm nghiên cứu Bắc Mỹ đã cho ra đời quyển sách "Quan hệ Mỹ - Nhật sau Chiến tranh lạnh" - Nhà xuất bản khoa học Xã hội Hà Nội 1995. Quyển sách này đã đề cập đến mối quan hệ Mỹ-Nhật trong thời kỳ hiện nay trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh quân sự. Thực chất nội dung của quyển sách là một bản tổng kết khái quát xác thực đặc điểm, triển vọng và tác động của quan hệ Mỹ-Nhật trên phạm vi toàn cầu và đặc biệt là trên phạm vi khu vực châu Á -Thái Binh Dương. Luận văn này không có tham vọng nghiên cứu hết thảy các mối quan hệ giữa Mỹ và Nhật Bản sau kỷ nguyên Chiến tranh lạnh chấm dứt. Ở đây, chỉ tập trung đề cập vào mối quan hệ an ninh Mỹ-Nhật và ảnh hưởng của nó đối với khu vực châu ÁThai Bình Dương. Do những hạn chế về điều kiện khách quan nên còn có những khiá cạnh quan trọng khác chưa được xem xét hoặc có những vấn đề đã được xem xét song chưa trình bày một cách cặn kẽ. Dù sao người thực hiện Luận văn vẫn nghĩ rằng những trang tư liệu ít ỏi này sẽ giúp bổ ích cho những ai quan tâm nghiên cứu những vấn đề quốc tế và đặc biệt là quan hệ Mỹ-Nhật Bản. Quá trình học lập ở Đại Học là quá trình tiếp thu tri thức, đồng thời cũng là quá trình học tập phương pháp nghiên cứu và tập sự nghiên cứu, đặc biệt là đối với bộ môn Lịch Sử. Việc tập sự nghiên cứu không chỉ có ích trong thời gian học, mà còn hỗ trợ cho công tác giảng dạy sau này. Công tác nghiên cứu phục vụ cho bài giảng của người giáo viên lịch sử được tốt hơn và qua đó giáo viên nắm được những thông tin mới để truyền đạt cho học sinh. Khó khăn nhất khi thực hiện đề tài, vì nhiều lý do (khả năng cá nhân còn hạn chế, chính trị, nguyên tắc bảo quản mật của các văn kiện ngoại giao ...) Người thực hiện Luận văn khó có thể tiếp xúc trực tiếp với các hiệp định (những bản gốc liên quan đến việc ký kết quan hê ngoại giao hai nước). Tuy nhiêu với sự mong muốn tìm hiểu sâu hơn về một mối quan hệ giữa hai nước mà trong thời Chiến tranh thế giới thứ II Mỹ đã từng là kẻ thù của nhân dân Nhật bản, nay lại trở thành những người bạn cùng giúp đỡ, hợp tác hòa bình với nhau. Người thực hiện bài viết hy vọng sẽ nhận được sự thông cảm, giúp đỡ và ủng hộ của thầy cô và các bạn cho bài viết được hoàn chỉnh để có thể gửi đến người tham khảo những thông tin chính xác đã chọn lọc và tổng hợp về mối quan hệ giữa hai nước Mỹ-Nhật Bản trong thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh. 3. Cấu trúc nội dung. Chương 1 : Sơ lược về mối quan hệ an ninh Mỹ-Nhật trong thời Chiến tranh lạnh. 1.1. Quan hệ Mỹ-Nhật trước khi ký Hiệp ước an ninh . 1.2. Quan hệ Mỹ-Nhật từ khi ký Hiệp ước an ninh tới năm 1992 . Chương 2 : Tình hình quan hệ quốc tế ở châu Á -Thái Bình Dương thời hậu Chiến tranh lạnh. 2.1. Nhật Bản lo ngại về mối đe dọa của Bắc Triều Tiên và ý đồ của Mỹ trong cuộc khủng hỏang hạt nhân ở Triều Tiên. 2.1.1. Nhật Bản lo ngại về mối đe dọa của Bắc Triều Tiên . 2.1.2. Ý đồ của Mỹ trong cuộc khủng hoảng hạt nhân ở Triều Tiên . 2.2.Sự có mặt về quân sự của Mỹ ở châu Á _Thái Bình Dương và vấn đề an ninh ở Đông Bác Á . 2.2.l. Những thay đổi trong chiến lược an ninh của Mỹ ở châu Á -Thái Bình Dương sau Chiến tranh lạnh . a. Tinh hình an ninh mới đặt ra cho Mỹ ỏ châu Á -Thái Bình Dương. b. Chiến lược an ninh quân sự mới của Mỹ . c. Những đặc điểm mới trong chiến lược an ninh quân sự của Mỹ. 2.2.2. Những nhân tố tác động tới sự có mặt về quân sự của Mỹ ở châu Á -Thái Bình Dương. a. Những điều kiện có lợi. b. Những điều kiện không lợi 2.3. Sự có mặt về quân sự của Mỹ ở châu á -Thái Bình Dương. 2.4. Vấn đề an ninh ở Đông Bắc Á. Hàn Quốc quan hệ với 4 cường quốc bao quanh. a. Quan hệ với Mỹ . b. Quan hệ với Trung Quốc. c. Quan hệ với Nga. d. Quan hệ với Nhật Bản. Chương 3 : Mỹ -Nhật thay đổi phương châm phòng vệ mới thời hậu Chiến Tranh lạnh . 3.1. Hợp tác phòng thủ Mỹ-Nhật trong thời đại mới. 3.1.1. Hợp tác phòng thủ Mỹ - Nhật góp phần ngăn chặn tranh chấp trong khu vực. 3.1.2. Mỹ-Nhật cần có những nỗ lực ngoại giao để loại bỏ mối nghi ngờ. 3.1.3. Mỹ-Nhật tăng cường hợp lác quốc phòng . 3.2. Lực lượng phòng vệ Nhạt Bản với phương chân phòng thủ mới. 3.2.1. Phương hướng tuyên bố chung an ninh 1996. 3.2.2. Vai trò mở rộng của lực lượng phòng vệ , 3.2.3. Lập trường của Trung Quốc đối với việc mở rộng lực lượng phòng vệ Nhật Bản. 3.2.4. Triển vọng cho cơ cấu an ninh Đông Bắc Á trong tương lai . Chương 4 : Phân tích Phương châm phòng vệ mới Mỹ-Nhật. 4.1. Sự thay đổi mới nong hợp tác phòng vệ Nhật Bản - Mỹ. 4.2. Ảnh hưởng của việc Mỹ -Nhật Bản sửa đổi Phương châm hợp tác phòng vệ. Chương 1: SƠ LƯỢC VỀ MỐI QUAN HỆ AN NINH MỸ-NHẬT TRONG THỜI CHIẾN TRANH LẠNH 1.1. Quan hệ Mỹ-Nhật trước khi ký hiệp ước an ninh. Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, nhiều nhà nghiên cứu Nhật Bản quan niệm rằng, chiến tranh kết thúc cũng có nghĩa là mở đầu thời kỳ chiếm đóng của Mỹ ở Nhật Bản. Điều này phản ánh đúng thực trạng của hai nước sau chiến tranh, một bên thắng trận, một bên bại trận. Kẻ bại trận bị nhiều điều khoản ràng buộc quốc tế và bị kiệt quệ về kinh tế cộng với đói nghèo đã đặt Nhật Bản vào thế phải nghe theo chiếc gậy chỉ huy của Mỹ cả trong chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế. Nhiều tư liệu lịch sử được lưu lại cho thấy công chúng Nhật Bản rất bất bình và tổ chức nhiều cuộc biểu tình chống lại đội quân chiếm đóng của Mỹ. Song điều cần nhấn mạnh ở đây là sự chiếm đóng của Mỹ diễn ra đồng thời với việc Mỹ giúp đỡ Nhật Bản phục hồi kinh tế và phát triển văn hóa. Phong cách và lối sống Mỹ cũng xâm nhập vào xã hội Nhật. Chính sự hội nhập đó đã mang lại cho Nhật Bản nhiều lợi thế và cũng là cơ sở để Nhật Bản phát triển vượt bật trong vài thập kỷ nay. Chính sách của Mỹ trong quan hệ với Nhật Bản thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ II phản ánh chiến lược toàn cầu của Mỹ thực hiện cuộc chiến tranh lạnh nhằm cô lập và tiến tới xóa bỏ hệ thống xã hội chủ nghĩa. Việc chiếm đóng Nhật Bản sau chiến tranh, giúp Nhật khôi phục và phát triển kinh tế nằm trong những tính toán chiến lược của Washingtơn dùng Nhật Bản như một căn cứ tiền tiêu để khống chế hai siêu cường cộng sản là Liên Xô và Trung Quốc. Còn đối với sự lựa chọn đồng minh của Nhật thì sao ? Trong chính sách đối ngoại của mình Nhật Bản buộc phải lựa chọn hoặc là ủng hộ khối Liên Xô hoặc là đồng minh của Kỹ chống lại Liên Xô. Sự lựa chọn thứ nhất là không thực tế, bởi vì sự chiếm đóng sau chiến tranh cùng với sự giũp đỡ toàn diện để phục hồi đất nước của Mỹ cho Nhật Bản đã đặt dấu chấm hết cho sự lựa chọn này. Mặc dù trong hầu như suốt thập niên sau chiến tranh, tâm lý thù hận đối với Mỹ ném bom nguyên tử xuống hai thành phố của Nhật Bản vẫn còn sôi sục trong các tầng lớp người Nhật Bản. Tất nhiên khi lựa chọn là đồng minh của Mỹ, người Nhật Bản vẫn tìm mọi cách để xoa dịu mối quan hệ với nhiều nước trong khối Liên Xô cũ và Trung Quốc luôn luôn nhắc nhở các nhà hoạch định chính sách đối ngoại của Nhật cần phải có đối sách đối với họ. Giống như Mỹ và cùng với Mỹ, Nhật Bản nhận thức rằng Liên Xô và Trung Quốc, hoặc rộng hơn khối Liên Xô là kẻ thù của mình. Sự đe dọa của hai nước cộng sản lớn này tới an ninh của nước Nhật Bản vừa trực tiếp vừa lâu dài. Nguy cơ này càng lớn hơn khi cả hai nước đều có vũ khí nguyên tử. Đây càng là một trong những lý do chủ yếu để một mặt Mỹ thuyết phục Nhật Bản về sự cần thiết phải có mặt về quân sự của Mỹ tại Nhại Bản. Và mặt khác, để người Nhật tự lí giải và chấp nhận sự đảm bảo về an ninh của Mỹ đối với Nhật để đề phòng nguy cơ "xâm lược" của họ. Trong gần năm thập niên qua, Nhật Bản luôn luôn xác định là đồng minh chiến lược và chủ yếu của Mỹ. Nhật coi quan hệ với Mỹ là hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại của mình. Chính việc dựa vào chiếc ô của Mỹ, Nhật Bản có nhiều cư hội để khôi phục vị trí của mình trên trường quốc tế. 1.2. Quan hệ an ninh Mỹ-Nhật từ khi ký hiệp ước an ninh tới năm 1992 Một số nhà nghiên cứu cho rằng sự thất bại của Nhật Bản trong cuộc chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, đồng thời mở đầu thời kỳ chiếm đóng của Hoa Kỳ tại nước này. Ít ra thì cách hiểu này có lý trong khoảng thời gian từ sau chiến tranh cho đến trước khi hai nước ký hiệp ước "an ninh Mỹ - Nhật " (8.9.1951) và hiệp ước phòng thủ vào năm 1960. Có thể nói thời kỳ này Hoa Kỳ gây sức ép toàn diện về quân sự với Nhật Bản, ở đó khái niệm hợp tác quốc phòng vắng bóng. Cần nhắc lại rằng đầu những năm 50, chiến tranh đo Mỹ và các đồng minh phương Tây phát động để chống lại khối Xô Viết đã thực sự tiến hành, với những tính toán chiến lược của mình, Hoa Kỳ cùng với Nhật Bản thỏa thuận ký kết hiệp ước phòng thủ chung vào năm 1960 tại Washingtơn (Ja Pan – U.S Mutual Securiy Treaty). Việc ký hiệp ước này, cả hai nước đều xuất phát từ những mục đích khác nhau: Đối với Hoa Kỳ học thuyết quân sự của họ ở thời kỳ này là tìm mọi cách giành ưu thế quân sự trên phạm vi toàn cầu, bao vây, cô lập Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Xây dựng các khối quân sự để vừa kiểm soát các đồng minh vữa tạo cơ sở cho các hoạt động quân sự khi cần thiết. Ở Tây Âu họ xây dựng khối hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), một loạt các căn cứ quân sự của Mỹ được xây dựng ở Tây Đức, Hy Lạp và một số nước Tây Âu khác. Ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, về mặt quân sự Mỹ coi việc xây đựng một hiệp ước phòng thủ với Nhật Bản lâu dài là hết sức cần thiết thậm chí coi Nhật Bản như một NATO Phương Đông. Sự ra đời của hiệp ước phòng thủ Mỹ - Nhật còn nhằm mục đích khác nữa là tạo cơ sở pháp lý cho việc có mặt dài hạn của các căn cứ quân sự Mỹ ở Nhật. Hơn nữa bằng hiệp ước đó Mỹ muốn kiểm soát trực tiếp và kiềm chế khả năng quân sự của Nhật Bản. Trong khi đó, Nhật Ban lại nhằm những mục tiêu khác với Mỹ. Thứ nhất, sử dụng chiếc ô an ninh của Mỹ, coi nó như một sự đảm bảo an ninh từ xa nếu bị tấn công. Nói cách khác, đó là l ý do thứ nhất mà người Nhật tìm kiếm trong việc ký hiệp ước phòng thủ với Hoa Kỳ. Sự lo sợ của Nhật Bản ở thời kỳ này là khả năng quốc phòng của Liên Xô ngày càng được tăng cường cộng với tiềm năng về vũ khí hạt nhân của nước này đã buộc Nhật phải tính đến việc dựa vào sự đảm bảo của Mỹ trong lĩnh vực phòng thủ; lý do thứ hai là ký hiệp ước này với Mỹ, Nhật sẽ tiết kiệm một khoản chi phí quốc phòng lớn và cho phép Nhật chỉ tập trung vào một mối quan tâm chủ yếu là phát triển kinh tế. Ngoài ra cũng cần phải ghi nhận rằng sự phục hồi sau chiến tranh chưa tạo cho nước Nhật một vị trí đủ mạnh để mặc cả với Mỹ khi ký kết hiệp ước này, bởi vì hiệp ước được ký kết có nghĩa là người Nhật phải chấp nhận sự có mặt của các căn cứ quân sự của Mỹ ở nước này. Đây là điều mà công luận Nhật không muốn. Bởi từ những năm 60 của thế kỷ này, đại đa số các quốc gia trên thế giới đều muốn giành độc lập. Khi dó ý thức về quyền dân tộc tự quyết và không chấp nhận sự có mặt về quân sự của nước ngoai trên lãnh thổ của mình đã được nhân lên gấp bội - Nhật Bản không phải là ngoại lệ. Theo một số nhà phân tích chính trị, việc ký hiệp ướ này mang tính chất phòng thủ nhiều hơn, ở đó không đề cập tai vấn đề liên kết chiến lược quân sự của quân đội hai nước. Và theo chương V của hiệp ước thì Hoa Kỳ cam kết phối hợp hành động với Nhật Bản trong trường hợp Nhật Bản bị tấn công. Để đổi lại, chương VI của hiệp ước thỏa thuận rằng, Nhật đồng ý cho Hoa Kỳ sử dụng một cách dễ dàng các căn cứ quân sự Mỹ trên lãnh thổ Nhụt Bản. Có thể nói rằng, hiệp ước đã không đề cập tới cơ chế liên kết quân sự của hai bên và ngay cả vấn đề phối hợp diễn tập quân sự có tính chất quyết định mà Mỹ thường thực hiện với quân đội của khối NATO, cũng không bao hàm trong đó. Điều này đã được ghi nhận cho tới sau khi cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam chấm dứt hoàn toàn. Hay nói chính xác hơn là cho tới năm 1978, mặc dù như chúng ta biết, chương về điều khoản chung của hiệp ước có ghi nhận về sự cần thiết phối hợp hành động quân sự của hai nước. Song trên thực tế, lực lượng phòng vệ Nhật Bản hoạt động dường như độc lập với quân đội Mỹ trong suốt gần hai thập niên đầu tiên của hiệp ước. Chính điều này đã tạo cơ hội cho Nhật Bản không trực liếp tham gia hoạt động quân sự với quân đội Mỹ ở trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Rõ ràng học thuyết quân sự của Nhật Bản là "phòng vệ" thực sự và nó được các chính quyền Nhật Bản duy trì trong một khoảng thời gian khá dài, ít ra là khoảng bốn thập niên kể từ sau chiến tranh. Cho tới nay, về lý thuyết Nhật Bản vẫn tôn trọng học thuyết phòng vệ. Song sự có mặt của quân đội Nhật trong liên quân vớt mình ở vùng Vịnh, trong lực tượng gìn giữ hòa bình ở Canipuchia năm 1992 và ở Nam Tư cũ năm 1994, đã làm cho một số nhà phân tích nghi ngờ về sự trung thành của Nhật Bản đối với học thuyết quân sự của họ. Sự hợp tác chặc chẽ giữa Mỹ va Nhật trong lĩnh vực chính trị và ngoại giao trong nhiều năm đã tạo ra cơ hội cho cả hai nước trong việc mở rộng hợp tác quân sự khi cần. Một điểm mốc quan trọng mà nhiều nhà phân tích quân sự coi là bước chuyển giai đoạn của quá trình hợp tác về quân sự là việc hình thành "Phương hướng chỉ đạo” vào năm 1978. Đây là phương hướng hợp tác quân sự do sự phối hợp giữa bộ quốc phòng Hoa Kỳ và Cục phòng vệ Nhật Bản tạo ra. Cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam chấm dứt vào năm 1975 và sự ra đi của quân đội Mỹ khỏi nước này đã làm cho một số nước Đông Nam Á nghi ngờ về sự thay đổi trong chiến lưực quân sự khu vực của Mỹ. Chính phủ Nhật Bản lúc đó cũng có mối quan tâm tương tự và họ nhận thức về vấn đề này như là bước đầu tiên của Mỹ rút quân khỏi Châu Á. Việt Nam thắng trận trên một phương diện nào đó đã làm cho không ít quốc gia trong vùng lo ngại về sự lớn mạnh của khối Xô Viết và lo sự về ảnh hướng của khối này vượt ra ngoài quốc gia của họ. Ngay đối với Nhật Bản, phản ứng trước sự "rút quân" cua Hoa Kỳ khỏi Châu Á là việc họ tính tiến chương trình hợp tác quân sự với Hoa Kỳ. Nói cách khác đó là một kế hoạch để bù đắp vào sự ra đi của quân đội Mỹ khỏi khu vực này. Tháng 8 năm 1975, Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ lúc đó J.Schlesiger đã gặp Cục Trưởng Phòng Vệ Nhật Bản là SaKaTa để phân tích và đánh giá tình hình an ninh khu vực và sự hợp tác quân sự song phương trong giai đoạn mới. Hai bên đã đi đến một thỏa thuận là xây dựng một Guidilines nhằm mở rộng và củng cố quan hệ hợp tác quân sự giữa quân đội hai nước. Tới năm 1978, sau nhiều lần tiếp xúc, thương lượng, giới lãnh đạo quân sự ở hai nước đã công bố bản phương hướng hợp tác quân sự Hoa Kỳ - Nhật Bản trong giai đoạn mới - Guidelines. Có thể nói với Guidelines sự liên kết quân sự giữa hai quốc gia này đã được nâng lên một bước mới cả về quy mô và chất lượng. Nếu trước đây mức độ liên kết quân sự của hai nước này chưa cao và chưa mang tính chất hệ thống như tình hình ở các nước trong khối NATO thì từ đay hợp tác trong lĩnh vực quân sự mang tính phân công trách nhiệm. Theo phương thức của quá trình phân công lao động hợp tác - giữa hai lực lượng quân sự của hai siêu cường dựa trên những điều khoản căn bản của hiệp ước năm 1960 cho phép nâng cao khả năng phân công của các lực lượng quân sự nếu bị lấn công. Cần phải nhấn mạnh rằng sự ra đời của "Phương hướng chỉ đạo" là bắt đầu mọt quá trình mà ở đó, sự liên minh giữa hai lực lượng quân sự Hoa Kỳ và Nhật Bản một mặt đã tạo cơ hội cho việc đảm báo lợi ích của Hoa Kỳ ở Nhật Bản và hàm ý khẳng định với các đồng minh rằng, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục có mặt ở Châu Á thậm chí còn gắn bó hơn trước chiến tranh Việt Nam bởi có sự phối hợp toàn diện với đồng minh Nhật Bản. Mặt khác, bằng việc làm này Mỹ sẽ tạo ra cơ sở pháp lý trong quan hệ song phương cho sự tham gia đóng góp về quân sự ở Nhật Bản đối với chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ cho thập niên sau đó. Không cần có sự quan sát tinh tế thì người ta cũng thấy rằng, với các cuộc tập trận của liên quân Mỹ - Nhật và các chường trình hợp tác nghiên cứu khả năng quân sự của Liên Xô (cũ) khi cần. Một đợt phản công của liên quân cuối những nám 70 nhằm nâng cao khả năng chiến đấu của quân đội hai nước này mà còn là sự răn đe đối với các lực lượng quân sự Xô Viết. Sự can thiệp của quân đội Liên Xô vào Apganistan năm 1979 cũng tạo ra những điều kiện cho việc mở rộng sự hợp tác quân sự Mỹ - Nhật trong những năm sau đó. Đặc biệt là vào đầu những năm 80, khi Liên Xô tăng cường khả năng chiến đấu của các lực lượng hải quân và không quân ở Tây Bắc Thái Bình Dương Hoa Kỳ và Nhật Bản đã đánh giá tình hình trở nên nghiêm trọng và coi đó như là một tình thế mới xuất hiện trong cuộc đối đầu giữa lực lượng hải quân ở liên qụân Mỹ - Nhật và Xô Viết ở vùng Tây Bắc Thái Bình Dương. Bởi vậy, việc tính đến một khả năng phòng thủ mới của liên quân Mỹ - Nhật và hiện đại hóa lực lượng hải quân Nhật Bản là một nhu cầu thực sự của nước này. Chẳng hạn hải quân và không quân của Nhật được trang bị mới hệ thống tên lửa tầm trung chống tàu ngầm và chống lại hệ thống tên lửa đạn đạo của quân đội Xô Viết bố trí ở các căn cứ quân sự ở vùng Viễn Đông và biển Okhotsk. Sự đối đầu về quân sự trên biển đã kéo theo việc hiện đại hóa và phối hợp tác chiến giữa lực lượng bộ binh của Nhật Bản với lực lượng thủy đánh bộ Mỹ. Đây là một biểu hiện mới sau khi hai bên Mỹ - Nhật ký Guidelines, bởi trước đó lực lượng bộ binh của Nhật thường hoạt động tương đối độc lập và ít chịu ảnh hưởng của quân đội Hoa Kỳ. Nói tóm lại, nếu hiệp ước phòng thủ Mỹ - Nhật ký năm 1960 được người ta ví như là chiếc ô an ninh của Hoa Kỳ đảm bảo cho Nhật Bản chống lại bất kỳ một sự tấn công bất ngờ nào, thì sự thiếu vắng của các chương trình hợp tác quân sự cụ thể của hai hên trong nhiều năm được coi như là những lỗ thủng trên chiếc ô mà phải gần hai thập niên sau đó với Guiđelines, người ta mới vá được những lỗ thủng đó. Nói cách khác, với sự ra đời của phương hướng chiến lược quân sự, thì Hoa Kỳ và Nhật Bản đã tìm được tiếng nói chung, hàng gắn được những lỗ hổng vốn tồn tại trong nhiều năm. Theo cách nói của một số chuyên gia quân sự, các lực lượng phòng vệ Nhật Bần có cơ hội để học hỏi thêm kinh nghiệm, chiến thuật và chiến lược của quan đội Hoa Kỳ mà sau gần bốn thập niên kể từ khi chiến tranh thế giới thứ hai họ không mảy may có được những cơ hội tốt do những hạn chế về mặt luật pháp của chính nước này. Sự đối đầu về quân sự Xô - Mỹ ở Tây Bắc Thái Bình Dương, cuộc nội chiến ở Campuchia là những nhân tố tạo cớ cho sự cấu kết quân sự của hai quốc gia Hoa Kỳ và Nhật Bản. Chiếc ô an ninh của Mỹ đối vứi Nhật Bản đã được hàn vá và ảnh hưởng của nó lan tới nhiều nước ở Đông Bắc Á và Đông Nam Á. Và có thể nói rằng, sự cấu kết về quân sự giữa hai nước này từ cuối những năm 70 cũng đặt ra nhiều vấn đề mới cho cả hai nước, nhất là trong lĩnh vực quốc phòng. Vào những năm 80 khi Reagan thắng cử tổng thống, ông chủ trương xây dựng một nước Mỹ mạnh cả đối nội và đối ngoại, trong đó sự hợp tác an ninh Mỹ - Nhật được chú trọng và chính quyền Reagan đã đề cao những lợi ích chiến lựợc của Mỹ ở khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương. Trong sự tính toán của mình, chính quyền Reagan muốn nâng cao chất lượng của hợp tác quân sự Mỹ - Nhật ở một trình độ vượt lên trên những gì mà chính quyền Carter đã làm trước đó. Điều này phụ thuộc vào thành bại của Reaganomies. Và đúng như nhiều người nói, "tân chính phủ" cũng có nghĩa là "tân chính sách". Ngay trong cuộc gặp thượng đỉnh Hoa Kỳ - Nhật Bản vào năm 1981, lần đầu tiên người ta nghe đến thuật ngữ "vai trò và sứ mệnh" trong quá trình thương lượng và chia sẻ trách nhiệm với Hoa Kỳ. Hai bên liên quan đã cho thỏa thuận nhiều vấn đề về đẩy mạnh quá trình hợp tác quân sự. Chẳng hạn, phía Nhật cam kết sẽ tăng cường ngân sách quốc phòng, thực hiện đầy đủ trách nhiệm cùa mình trong việc phòng thủ xa, trẽn dưới 1000 dặm kể từ bờ biển của Nhật. Hai bên đã đồng ý tổ chức phối hợp nghiên cứu về khả năng chống lại một cuộc tấn cồng bất ngờ ở Viễn Đông và thực hiện cuộc diễn tập phối hợp giữa lực lượng quân sự hai bên vào tháng 9/1981. Hai bên cũng đã cam kết tiến hành nghiên cứu định kỳ về "sứ mệnh trên đại dương" của liên quân Mỹ - Nhật. Tổng thống Reagan được coi là một trong những người thành công nhất trong hoạt động đối ngoại so với nhiều người tiền nhiệm. Ông cũng là tổng thống có nhiều thành công trong chiến lược đối ngoại, trong đó quan hệ với Nhật Bản, được củng cố toàn diện. Chính phủ Nhật Bản vào năm 1985 chấp nhận tài trợ cho chương trình nghiên cứu quốc phòng trung hạn 5 năm với tổng số tiền xấp xỉ 18,4 (1) ngàn tỷ yên và cam kết với Mỹ sẽ tăng ngân sách quốc phòng một cách ổn định hàng năm là một thí dụ nổi bật về thành công của chính phủ Reagan trong quá trình thương lượng về hợp tác quốc phòng với Nhật Bản. Ngoài ra, người ta cũng thấy quá trình chuyển giao kỹ thuật quốc phòng được cả hai phía đặc biệt chú trọng, như phối hợp sản xuất các loại vũ khí, nghiên cứu và sảu xuất máy bay chiến đấu. Và lần đầu tiên trong lịch sử của quan hệ quốc phòng Mỹ - Nhật Bản, phía Nhật thỏa thuận sẽ tham gia vào chương trình chịến tranh giữa các vì sao của Mỹ vào năm 1986. Đây là chường trình phát triển vũ khí hiện đại của Hoa Kỳ được gọi la chương trình phòng thủ xa hoặc chiến tranh giữa các vì sao bị nhiều nước phản đối và gây ra sự lo lắng cho nhiều chính giới ở cả Hoa Kỳ - Nhật và các nước xã hội chủ nghĩa vì đó là mở đầu cho nguy cơ một cuộc chạy đua vũ trung vào vũ trụ. Bằng những chương trình hợp tác này, quan hệ quân sự Hoa Kỳ - Nhật Bản vào giữa những năm 80 đã được nâng lên một tầm mới và ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng của Nhật Ban trong việc đóng góp vào chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ. Hay nói cách khác, vào thời điểm đó Nhật Bản thực sự trở thành một NATO phương Đông đối với chiến lược quân sự của Hoa Kỳ. Chương 2: TÌNH HÌNH QUAN HỆ QUỐC TẾ Ở CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG THỜI HẬU CHIẾN TRANH LẠNH 2.1. Nhật Bản lo ngại về mối đe dọa của Bắc Triều Tiên và ý đồ thật của Mỹ trong cuộc khủng hoảng hạt nhân ở Triều Tiên. 2.1.l. Nhật Bản lo ngại về mối đe dọa của Bắc Triền Tiên. Hơn 90.000 bộ binh, hải quân và không quân Nhật đã bỏ hai tuần đầu tháng 10 năm 1993 vào cuộc tập trận. Đến gần một phần ba các lực lượng vũ trang tham gia, đó là cuộc tập trận lớn nhất kể từ khi kết thức Chiến tranh thế giới II. Cục phòng vệ Nhật Bản nói cuộc tập trận được tổ chức hầu hết trên đảo Hokkaiđo phía bắc là thường lệ. Nhưng ngay phía bên kia biển Nhật Bản, không quân Bắc Triều Tiên cũng cho những chiếc máy bay của họ cất cánh. Tình hình căng thẳng đang tăng lên quanh biển Nhật Bản, Tôkyô lo lắng. Sách trắng hàng năm của Cục phòng vệ, được xuất bản hồi tháng 7, đã nhấn mạnh đến mối đe dọa của Bắc Triều Tiên và những mối lo ngại về an ninh khác với một giọng điệu chưa thấy trước đây. Trong quá khứ, Cục này chủ yếu tập trung vào mối đe dọa từ các lực lượng của Liên Xô cũ. Trong sách trắng này họ đã dành 3 trang để phần tích về Bắc Triều Tiên. Vụ thử tên lửa tầm trung mới Rodong-1 vào cuối tháng 5, của Bình Nhưỡng đã gây sửng sốt trong Cục phòng vệ. Khó mà không nghĩ rằng Bắc Triều Tiên có thể làm một cái gì đó khiêu khích hơn. Bốn tên lửa đã được phóng từ một căn cứ trên bờ hiển, cách Bình Nhưỡng 370km về phía đông bắc. Mục tiêu là một cái phao được thả neo ngoài khơi bán đảo NoTo của Nhật ở cách xa đó khoảng 500km. Thêm 500km nữa (tên lửa Rodong-1 có tầm xa 1000km) chúng có thể rơi xuống giữa nước Nhật. Tên lửa Rodong-2, có thể sử dụng vào năm 1995, với tầm xa 1300km, có thể khống chế toàn bộ nước này. Cả hai loại đều được cho là có khả năng mang đầu đạn hạt nhân hay vũ khí vi trùng. Nhật Bản, Mỹ và Nam Triều Tiên ngày càng lo ngại rằng Bắc Triều Tiên đang quyết tâm có được các vũ khí hạt nhân. Tổng Thống Nam Triều Tiên Kim Yuong Sam gần đây đã nói với một tờ báo Nhật Bản rằng ông tin là Bình Nhưỡng đã sản xuất đủ Plutonium để chế tạo 3 quả bom nguyên tử. Đầu năm nay Bình Nhưỡng đã dọa rút khỏi Hiệp ước không phổ biến hạt nhân, sau đấy họ đã hoãn việc rút lui đó, nhưng suốt cả năm họ đã từ chối không cho phép cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế thanh tra tổ hợp hạt nhân của họ ở Yongbyon. Nếu Bắc Triều Tiên phát triển các vũ khí hạt nhân thì điều đó có thể dẫn đến một cuộc chạy đua vũ trang ở khu vực. Cục trưởng mới của Cục phòng vệ Nhật Bản , Nakanishi keisuke, gần đây đã nói với một ủy ban Nghị viện rằng miền Tây Nhật Bản, về cơ bản không được phòng thủ chống một cuộc tấn công của Bắc Triều Tiên. Cuối tháng 9, ông tán thành cùng Mỹ phát triển một hệ thống phòng thủ tên lửa khu vực. Đồng thời một nhà khoa học cũ của chính phủ Bấc Triều Tiên ở Nhật Bản khẳng định ràng nước ông có đủ Plutonium tinh chế để chế tạo 20 quả bom. Tuy nhiên, thủ tướng Hosokawa Morihiro đã luôn luôn là một người chủ trương trung lập không vũ trang và một người bảo vệ hăng hái Hiên pháp hòa bình cuủ nước này. Do vậy, không chắc ông sẽ thúc đẩy tăng cường vũ trang. Mặt khác, Cục phòng vệ đang nằm trong tay của một cựu thành viên của đảng Dân chủ tự do. Dưới sự cai trị lâu dài của Đảng này, Nhật Bản đã xây dựng một trong những lực lượng vũ trang tinh nhuệ nhất, hùng mạnh nhất ở Châu Á và nó đi tiếp tục hiện đại hóa. Tuy nhiên, giáo sư Sakanaka Tomohisa, một chuyên gia về an ninh và cố vấn cho chính phủ, cho rằng "rất không có khá năng" Bắc Tiều Tiên sẽ sử dụng các tên lửa của họ chống Nam Triều Tiên hay Nhật. Chúng có thể đưa lại cho Bình Nhưỡng tác dụng đòn bẩy trong thương lượng với Seoul. Nhưng đó sẽ là "tự sát" nếu sử dụng chúng. Tổug thống Clinton đã thề rằng Mỹ sẽ trả đũa ồ ạt nếu Bắc Triều Tiên phát triển và sử dụng các vũ khí hạt nhân. Thậm chí một số người trong bộ tổng tham mưu Nhật cũng chất vấn liệu Bình Nhưỡng có nhằm vào Nhật không. Tại một cuộc họp của các chuyên gia tình báo hồi tháng 9, họ đã thảo luận vấn đề này và kết luận rằng sẽ phải mất một số năm nữa trước khi Bắc Triều Tiên có thể triển khai một mối đe dọa có thể tin được. Điều đó có thể đúng như vậy, vì có thể phải mất ít nhất là 10 năm để lắp đặt một hệ thống chống tên lửa khu vực có hiệu quả. Một sự kìm hãm đối với Bắc Triều Tiên là nền kinh tế đang trở nên xấu đi của họ. Nhiều người Nhật đã ý thức được những điều kiện rất khó khăn ở Bắc Triều Tiên thông qua những tin tức của các kiều dân Triều Tiên ở Nhật thường xuyên liên lạc với họ hàng ở Bắc Triều Tiên. Tuy nhiên có những dấu hiệu cho thấy tình trạng thiếu thốn không ảnh hưởng tới các lực lượng vũ trang. Theo các nguồn tin Nhật, lực lượng không quân Bắc Triều Tiên đã tiến hành 4800 phi vu trong năm nay, nhiều hơn năm trước ba lần. Bắc Triều Tiên không phải là mối đe dọa duy nhất được Nhật Bản công nhận. Vụ nổ hạt nhân gần đây của Trung Quốc nhắc nhở đến sức mạnh của họ. Sách trắng của Cục phòng vệ lưu ý rằng Bắc Kinh đang hiện đại hóa các lực lượng vũ trang của họ, nhất là lực lượng không quân và hải quân. Sách trắng cho biết "nhịp độ tuy từ từ, nhưng nó đang hút sự chú ý của các nước láng giềng". Tuy nhiên, Nhật Bản thấy yên lòng là Bắc Kinh đã ký hiệp ước không phổ biến hạt nhân và mở quan hệ ngoại giao với Nam Triều Tiêu. Xưa nay, Nhật Bản coi Nga là mối đe dọa lớn nhất của họ. Đó là lý do vì sao phầm lớn các lực lượng lục quân củu Nhật được đóng ở Hokkaiđo. Nhật Bản đòi chủ quyến 4 hòn đảo do Nga giữ ở quần đảo Kuril ngoài khơi đảo Hokkaido. Các vị tướng Nhật cũng quan tâm tới việc các tàu chiến Nga gần đây đã tới thăm Pusan và các tàu chiến Nam Triều Tiên đã có một chuyến đi thăm đáp lại đến Vladivostok. NamTrỉều Tiên có thể đang bám vào Nga để duy trì sức ép với Bắc Triều Tiên, nhưng Tôkyô hẳn không vui thích với việc hạm đội Vladivostok tìm kiếm một bến đỗ mới. Cũng như các nước Châu Á khác, Tôkyô cũng ngày càng lo ngại về sự bất ổn định tăng lên trong các quốc gia thuộc Liêu Xô trước đây. Tuy nhiên không mối đe dọa nào khác chứa đựng yếu tố không đoán trước được giống như mối đe dọa của Bắc Triều Tiên. Điệu đó sẽ đặc biệt đúng nếu người con trai tính tình thất thường của chủ lịch Kim Nhật Thành là Kim Yong II ấn tay lên nút bấm phóng hại nhân. 2.1.2. Ý đồ thật của Mỹ trong cuộc khủng hoảng hạt nhân ở Tiều Tiên Trong một bài được trích đăng trên "Hải ngoại tinh vân" TQ ngày 22/5/94, tờ "United Morning News" ở Singapore viết: Trước sức ép của Mỹ, Triều Tiên từng tuyên bố cự tuyệt rồi lại chấp nhận để cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế đến kiểm tra hạt nhân ở đất nước này. Thực chất tình hình ra sao?. Rốt cuộc, Triều Tiên có vũ khí hạt nhân không?. Một quan điểm tương đối phổ biến là hiện nay chưa có chứng cớ đầy đủ chứng minh là Triều Tiên đã có vũ khí hạt nhân, nhưng không nghi ngờ gì nữa, Triều Tiên đang nghiên cứu phát triển loại vu khí này. Berkelium (BK) là một loại nguyên tố kim loại nhân tạo mang tính chất phóng xạ, là nhiên liệu hạt nhân quan trọng. Theo các cơ quan tình báo Mỹ và Hàn Quốc tiết lộ, Triều Tiên hiện đã có 22kg BK. Quả bom nguyên tử Mỹ ném xuống Nagasaki Nhật Bản cuối thế chiến 2 chứa 7 đến 8kg BK. Từ đó tính ra Triều Tiên đã có số nhiên liệu đủ để làm 3 trái bom hạt nhân. Ninh Biên ở tây bắc Bình Nhưỡng vẫn là khu vực trọng điểm Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế đòi kiểm tra. Lò phản ứng nguyên tử số 1 đã được xây dựng ở đây năm 1982, tiếp đó là lò số 2. Mọi dấu hiệu chứng tỏ lò số 3 và lò số 4 cũng đang được xây dựng. Theo các nguồn tin tình báo, lò số 2 là kiểu làm lạnh bằng không khí, giảm nhiệt nhanh, nhằm phát triển vũ khí hạt nhân và sản xuất BK. Đây chính là lò Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế kiên quyết đòi kiểm tra và phía Triều Tiên dứt khoát bác bỏ. Các chuyên gia quân sự Nhật Bản cho rằng từ sản xuất được BK đến khi chế tạo được vũ khí hạt nhân cần ít nhất hai năm, trong đó then chốt nhất là chế tạo ngòi nổ Triều Tiên đã tiến hành 70 lần thí nghiệm, bộ phận gây nổ đã đạt yêu cầu. Phương tiện chuyên chở hạt nhân bao gồm hai loại, máy bay ném bom cỡ lớn và tên lửa. Triều Tiên nay chỉ có máy bay chiến đấu Mic - 23 va máy bay ném bom cỡ nhỏ. Bởi vậy, thời gian gần đây, Triều Tiên tập trung sức nghiên cứu chế tạo tên lửa "Lao Động 1". Theo tin từ Hàn Quốc, tên lửa "Lao Động 1" vừa chế tạo thành công có tầm bắn 500 Km, nếu cải tiến thêm, có thể tới 1000 Km. Các hòn đảo của Nhật Bản nằm trong tầm bắn này. Nhưng cũng có nhiều chuyên gia cho rằng kỹ thuật hạt nhân của Triều Tiên chỉ bằng trình độ của Liên Xô đầu thập kỷ 50, kém rất xa nước Mỹ. Xét từ so sánh lực lượng, nếu nổ ra cuộc đối đầu hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên tên lửa của Triều Tiên chưa kịp rời bệ phóng, Bình Nhưỡng đã biến thành biển lửa. Bởi vậy, nhấn mạnh mối đe dọa hạt nhân của Triều Tiên thật ra là đánh giá quá cao Bình Nhưỡng. Chơi con bài vũ khí hạt nhân Động cơ lớn nhất của Triều Tiên trong việc phát triển vũ khí hạt nhân là "chơi con bài hạt nhân" với các nước phương Tây do Mỹ đứng đầu, lợi dụng vũ khí hạt nhân buộc Mỹ ngồi vào bàn thương lượng, tiến lới bình thường hóa quan hệ với Mỹ. Từ cuộc chiến tranh đầu tiêu Triều Tiên đầu thập kỷ 50 đến nay, Mỹ vẫn không đếm xỉa đến sự tồn tại của Triều Tiên, thực hiện chính sách "ba không" (không công nhận, không thương lượng, không tiếp xúc) với Bình Nhưỡng. Chính sách đó ảnh hưởng đến thái độ của Nhật Bản và các nước công nghiệp khác đối với Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên. Cuối năm 1991, đã nổi lên vấn đề vũ khí hạt nhân ở Triều Tiên. Tháng 1/1992, Mỹ tổ chức hội đàm cấp cao đầu tiên với Triều Tiên ở New York, với điều kiện "chỉ thương lượng một lần". Sau hội đàm, phía Bình Nhưỡng nêu rõ đây là vấn đề quan trọng, yêu cầu tiến hành nhiều cuộc hội đàm. Wasinhtơn đã nhượng bộ, để làm cho Bình Nhưỡng sớm tiếp nhận sự kiểm tra của cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế, và quay lại với Hiệp ước không phổ biến hạt nhân (NPT). Cũng có nghĩa là từ khi ấy, Triều Tiên đã lấy được ở Mỹ "con bài ngoại giao" là vũ khí hạt nhân. Thành quả của con bài này là các quan chức cấp cao Mỹ và Triều Tiên đã tiếp xúc với nhau hai lần vào tháng 6 và tháng 7/1993. Đồng thời Mỹ buộc từ bỏ cuộc tập trận liên hợp mùa xuân với Hàn Quốc. Bởi vậy, có lý do để tin rằng Triều Tiên tiếp tục chơi con bài đó. Mỹ, Nhật, Nga, Hàn Quốc đều chơi “con bài Bình Những” Chỉ nói Triều Tiên chơi "con bài hạt nhân" là không công bằng. Trong cuộc khủng hỏang ở bán đảo Triều Tiên, chẳng phải chính Mỹ, Nhật, Nga, Hàn Quốc đều vì lợi ích và mục đích riêng mà chơi "con bài Bình Nhưỡng" đó sao? Hàn Quốc phải hiểu thực lực quân sự của Triều Tiên hơn bất cứ nước nào. Ly Mu Rac năm 1972 là Cục trưởng Cục Tình báo trung ương Hàn Quốc (KC1A). Ống từng đến Triều Tiên, và nay là người có quyền uy nhất trong "vấn đề miền Bắc". Gần đây ông nêu rõ "mối đe dọa thực sự đối với Hàn Quốc là lực lượng thông thường của Triều Tiên (chứ không phải là vũ khí hạt nhân), nhất là 70% binh lực cùng số lượng đáng kể xe tăng, xe bọc thép, tên lửa, tàu ngầm bố trí ở tuyến Bình Nhưỡng - Nguyên Sơn luôn luôn trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu, cộng thêm trong hàng trăm hầm ngầm gần giới tuyến ngừng bắn đã dự trữ 4,5 triệu thùng dầu, hàng triệu tấn đạn dược khiến Hàn Quốc như ngồi trên đống lửa. Vì vậy, Seoul đã
- Xem thêm -