Phương pháp giảng dạy ca dao trong chương trình ngữ văn thpt

  • Số trang: 30 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 30 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

MỤC LỤC STT Nội dung 1 Mục lục 2 Đặt vấn đề 3 Giải quyết vấn đề Trang 1 2 -> 3 3 - Cơ sở lý luận của vấn đề 3-> 5 - Các biện pháp đã tiến hành giải quyết vấn đề 5-> 15 - Thực trạng học sinh học tập bộ môn 15->16 - Hiệu quả của SKKN 16 4 Thực hành soạn giảng 17-> 23 5 Kết quả áp dụng SKKN 24 6 Kết luận 25 I. ĐẶT VẤN ĐỀ Văn học Việt Nam được hình thành từ hai bộ phận lớn đó là Văn học dân gian và văn học viết. Trong chương trình Ngữ văn THPT bộ phận văn học dân gian chiếm dung lượng khá lớn với nhiều thể loại phong phú. Một trong những thể loại học sinh khá yêu thích nhưng cũng khó nắm bắt đó là ca dao. Nhiều câu hỏi đã được đặt ra đối với giáo viên Ngữ văn : Giảng văn tác phẩm văn học dân gian có khác với giảng văn tác phẩm văn học viết hay không? Trong những tác phẩm được gọi là văn học dân gian có thực sự có phần “ văn” để giảng như văn học viết hay không? Giảng văn ca dao ngoài phần lời có nên đề cập đến phần nhạc và các yếu tố khác có liên quan hay không? Ca dao là tiếng nói của tình cảm. Đến với ca dao ta như bắt gặp những tâm trạng tình cảm , rung động sâu xa tinh tế của chính lòng mình. Đối với người giáo viên Ngữ văn làm thế nào để giúp học sinh thâm nhập được vào thế giới nội tâm phức tạp ấy của con người là việc làm hết sức khó khăn. Vì vậy việc đi tìm phương pháp giảng dạy giúp học sinh cảm hiểu giá trị nội dung, nghệ thuật vẻ đẹp thẩm mĩ của ca dao là điều cần thiết Để giờ học có hiệu quả, người giáo viên cần có thiết kế bài học tốt không chỉ chú trọng khâu kiến thức bài học mà còn chú ý đến cách tổ chức cho học sinh học tập, sử dụng các phương pháp dạy học phù hợp đối tượng trong đó cần áp dụng các kĩ thuật dạy học mới phù hợp với từng kiểu bài để phát huy khả năng tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh trong chiếm lĩnh kiến thức. Đặc biệt chú trọng đến phương pháp giảng dạy phù hợp thể loại nhằm đạt hiệu quả cao trong học tập là yếu tố không thể thiếu. Xuất phát từ thực tế giảng dạy ở trường trung học phổ thông vùng cao, điều kiện học tập của học sinh còn nhiều khó khăn nhất là khă năng tiếp thu kiến thức còn nhiều hạn chế. Điều mà mỗi giáo viên trăn trở là làm thế nào để có thể truyền thụ kiến thức, kĩ năng cơ bản tới học sinh, sử dụng phương pháp dạy học nào, áp dụng các kĩ thuật dạy học mới ra sao để có thể phát huy tối đa tiềm năng sáng tạo của học sinh trong quá trình tiếp nhận, chiếm lĩnh tác phẩm? Từ lí do trên tôi lựa chọn đề tài “ Phương pháp giảng dạy ca dao trong chương trình Ngữ văn THPT”. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lý luận của vấn đề: Như chúng ta đã biết, tác phẩm văn học dân gian khác rất nhiều và rất xa những tác phẩm văn học viết. Nó không phải là nghệ thuật ngôn từ hoàn toàn độc lập và thuần chất như văn học viết. Trong đời sống tinh thần của nhân dân, văn học dân gian bao giờ cũng tồn tại ở dạng kết hợp nhiều yếu tố nghệ thuật và phi nghệ thuật khác nhau với yếu tố động tác mang tính chất vũ và cả những động tác lao động sinh hoạt thông thường, có yếu tố âm thanh mang tính chất nhạc và những âm thanh thông thường không có nhạc tính. Do sự kết hợp phức tạp như vậy nên sáng tác dân gian không mang tính chất ổn định và bền vững và việc nắm bắt chúng để nghiên cứu, giảng dạy là điều hết sức khó khăn. Ở những tác phẩm mà từng đơn vị tác phẩm không có tên riêng như tục ngữ, câu đố, ca dao thường quy mô của tác phẩm rất nhỏ do đó số lượng trong mỗi tác phẩm rất nhiều. Vì vậy việc chú ý xem xét kĩ những tác phẩm tiêu biểu mang tính chất điển hình là rất cần thiết và quan trọng trong quá trình giảng dạy. Trong lĩnh vực giảng dạy văn học dân gian có nhiều vấn đề đạt ra có thể chỉ với một thể loại , tiểu loại thậm chí là tác phẩm cụ thể. Chẳng hạn vấn đề phân tích khai thác nhân vật trữ tình chủ yếu chỉ đặt ra đối với ca dao và phần nào đó đối với bộ phận về tâm tình , vấn đề phân tích những xung đột gia đình mang ý nghĩa xã hội chủ yếu chỉ đặt ra đối với thể loại cổ tích. Vì thế mỗi thể loại cần có phương pháp giảng dạy khác nhau. Việc giảng dạy đối với từng tác phẩm văn học dân gian cụ thể đòi hỏi phải dựa vào những cơ sở và điều kiện khác nhau, trong đó có hai vấn đề quan trọng: 1. Phải dựa vào lí luận tổng quát về phương pháp nghiên cứu, giảng dạy văn học dân gian 2. Phải dựa vào kết quả thành tựu nghiên cứu cơ bản về tác phẩm hoặc lĩnh vực văn học dân gian cụ thể đó. Ca dao nói chung và ca dao cổ nói riêng đều có đặc điểm chung là giản dị, dễ hiểu và đều khó giảng. Sự dễ hiểu của ca dao chẳng những không phải là điều kiện thuận lợi mà trái lại , còn chính là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới sự khó khăn trong giảng dạy ca dao. Khó khăn lớn nhất ở đây là làm thế nào để đem lại cho học sinh những nhận thức mới, cảm thụ mới về những bài ca dao giản dị quen thuộc, dễ hiểu. Hiện tại ở các trường phổ thông có khá nhiều cách giảng dạy ca dao khác nhau dẫn đến cách cảm hiểu về ca dao đôi khi thiếu thống nhất. Phổ biến nhất có lẽ là cách diễn nôm ca dao. Người giảng nói lại nội dung trực tiếp của các câu ca dao bằng lời lẽ thông thường nôm na để học sinh “ dễ hiểu”.Cách giảng này thường làm cho người dạy và người học không hào hứng vì nội dung học tập không có gì mới mẻ. Thực chất của cách dạy này là đơn giản hóa ca dao nên không đem lại hiệu quả. Có người lại phức tạp hóa sự giản dị dễ hiểu của ca dao, lôi cuốn học sinh bằng những lời lẽ văn hoa bóng bẩy. Cách này thường làm cho người học và người dạy cảm thấy giờ học hấp dẫn sinh động song thực ra cũng không đem lại cho học sinh những cảm xúc thực sự. Có người lấy bài ca dao phải giảng làm điểm xuất phát để từ đó liên hệ liên tưởng đẫn dắt học sinh tới những câu thơ tứ thơ trong những tác phẩm văn học khác theo sở trường và cảm hứng tự do của người giảng. Đó là cách giảng lệch lạc cần khắc phục. Có một số giáo viên chọn trong bài ca dao phải giảng một số điểm nào đó mà họ thấy cần thiết cho học sinh và mình đủ sức giảng được, không đơn giản hóa hay phức tạp hóa bài ca dao một cách không cần thiết. Giáo viên có thể cho học sinh tập đọc bài ca dao hoặc hướng dẫn học sinh thực hành, giải quyết những câu hỏi đã cho, cung cấp thêm cho các em dị bản, những câu ca dao hay có quan hệ mật thiết với bài ca dao đang học. Đây là cách làm của những giáo viên có trình độ , có kinh nghiệm và tâm huyết với nghề đó cũng là cách dạy có tính khả thi. Trong quá trình giảng dạy ca dao việc cảm thụ, nhận thức còn nhiều khó khăn. Đến nay chúng ta chưa rõ thời gian ra đời của từng bài , từng câu ca dao mà ngay đến cả hoàn cảnh phát sinh phát triển chung của mỗi loại mỗi hình thức ca dao truyền thống của nhân dân cũng chưa được xác định một cách chắc chắn.Hơn nữa cả những bài ca dao được in trên sách giáo khoa văn học dân gian trong nhà trường cũng chưa phản ánh đầy đủ. Với những khó khăn đó, ca dao được sưu tầm và xuất bản bị tách khỏi thời gian và không gian sinh thành tồn tại của nó khiến người học khó tìm hiểu và nhận thức. Việc xác định tác giả ban đầu của mỗi bài ca dao và cái gọi là tác giả tập thể vô danh cũng không được chỉ ra cụ thể. Ca dao có đặc điểm chung là ngắn từ hai đến bốn câu là phổ biến lại bị tách ra như hiện tương riêng lẻ đơn độc khiến người tìm hiểu, giảng dạy không có căn cứ, điểm tựa cho hoạt động tư duy. Muốn có cơ sở tối thiểu để hiểu bài ca dao, ngoài việc đặt nó vào trong cái khung thời gian , không gian và thể loại nhất định nào đó. Mỗi bài ca dao đều là tiếng nói là sản phẩm của nhân dân sinh thành trong hoàn cảnh nhất định. Nhưng do quy luật sinh thành tồn tại riêng của chúng mỗi tác phẩm văn học dân gian không nhất thành bất biến cho nên không thể gắn chúng vào thời điểm lịch sử nhất định như đối với tác phẩm văn học viết . Việc đi tìm cái khung chung về không gian , thời gian, một bối cảnh lịch sử sinh thành của tác phẩm văn học dân gian là cần thiết 2. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề: a. Đối với khâu chuẩn bị: * Về phía giáo viên: Điều tra, quan sát, phân loại đối tượng học sinh chia thành các nhóm học tập. Nắm chắc phương pháp giảng dạy ca dao với các bước cụ thể khi tiếp cận và đọc - hiểu ca dao. Trang bị kiến thức về ca dao, sống với tác phẩm. Xem xét bài ca dao ở nhiều góc độ để hiểu thấu đáo giá trị nội dung tư tưởng và nghệ thuật của ca dao. Sử dụng phương pháp dạy học tích cực, áp dụng kĩ thuật mới vào giảng dạy. Phân nhóm cho học sinh thảo luận, nêu câu hỏi phát vấn. Những kinh nghiệm qua thực tế giảng dạy Những tài liệu liên quan đến phương pháp dạy học. Đối chứng qua giờ dạy ở trường, có khảo sát chất lượng, đánh giá rút kinh nghiệm giờ dạy. * Về phía học sinh: Học sinh chuẩn bị bài ( soạn văn) chu đáo tiếp cận tác phẩm văn học dân gian ( ca dao) bằng việc đọc , đọc diễn cảm , học thuộc lòng bài ca dao. Soạn bài theo hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa và sự hướng dẫn của giáo viên Phát hiện cái hay cái đẹp của ca dao về nội dung , nghệ thuật thông qua các tín hiệu ngôn ngữ để tìm hiểu nội dung biểu đạt của ca dao Sưu tầm các bài ca dao có chung đề tài , cách mở đầu theo mô típ quen thuộc b. Đối với hoạt động dạy học trên lớp: Để giờ học đạt được hiệu quả trước khi vào bài mới giáo viên chú ý khâu khởi động để tạo không khí phù hợp với bài học: Có thể hát điệu cò lả mang nội dung tương đồng với tác phẩm chuẩn bị học. Đối với phần đọc văn bản cần đọc đúng giọng điệu , đọc sáng tạo , đọc thuộc lòng bài ca dao giúp học sinh bước đầu tiếp cận văn bản. Trong quá trình giảng dạy cần tuân thủ các bước tiếp cận đọc- hiểu phân tích bài ca dao. Trong quá trình nhận thức bài ca dao có ba loại công việc : xác định thời gian, không gian và thể loại của tác phẩm đều quan trọng, có tác dụng bổ sung hỗ trợ nhau không thể coi nhẹ hoặc bỏ qua công việc nào. Trong thực tế rất nhiều bài ca dao chưa xác định được thời gian và địa bàn gốc của nó vì vậy cần phải phân loại ca dao theo các quan điểm lịch đại và theo các tiêu chí phương thức biểu diễn, phương thức sáng tác. Khi xem xét thể loại của bài ca dao không thể không chú tới hình thức biểu diễn ( diễn xướng) của nó. Ở đây cần thấy sự thống nhất và độc lập tương đối của dân ca và ca dao. Ví dụ: Ru con là loại dân ca phổ biến miền nào và dân tộc nào cũng có. Trong nhân dân thành phần nào , lứa tuổi nòa cũng có thể sử dụng nhưng nhiều nhất và thường xuyên là là tuổi nhỏ và tuổi già trong đó phụ nữ giữ vai trò quan trong nhất. Dân ca ru con trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu ru con của nhân dân. Tất cả các yếu tố nghệ thuật khác nhau của nó ( lời, nhạc, động tác) đều trước hết nhằm tạo ra trạng thái êm ái, đều đều để đưa trẻ vào giấc ngủ. Ngoài chức năng ban đầu ấy , dân ca ru con còn có thêm chức năng giáo huấn, giải trí , phô diễn tâm tình. Vì thế nhạc điệu của dân ca rất đơn giản ai cũng hát được nhưng phần lời của nó lại vô cùng phức tạp và da dạng. Cho nên dân ca ru con và ca dao ru con( Phần lời của dân ca ru con) vừa thống nhất vừa khác nhau điều đó phản ánh rõ tính chất độc lập tương đối của thành phần nghệ thuật ngôn từ trong dân ca. Như vậy khi xem xét thể loại của bài ca dao cần xem xét phương diện “ ca” của nó tức là xem nó đã được sử dụng trong hình thức sinh hoạt dân ca nào, trong đó loại dân ca gốc của nó là gì? Xem xét phương diện “thơ” của nó tức là dựa vào phần lời của bài ca dao mà xem xét đặc điểm nội dung, nghệ thuật. Việc xác định tác giả, nhân vật trữ tình và đối tượng trữ tình cũng là một mảng công việc quan trọng trong quá trình tìm hiểu , giảng dạy ca dao. Trong ca dao tác giả và nhân vật trữ tình là thống nhất vì đó là tiếng nói tâm tình trực tiếp của người lao động. Ở những bài ca dao mà nhân vật trữ tình là người phụ nữ ( Người vợ lẽ, vợ lính, nàng dâu) chắc chắn tác giả ban đầu của chúng cũng là những người phụ nữ có cảnh ngộ và tâm trạng đúng như cảnh ngộ và tâm trạng của nhân vật trữ tình mà bài ca dao phản ánh. -Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai? - Thân em như con hạc đầu đình Muốn bay không cất nổi mình mà bay. Những câu ca dao như vậy chắc chắn là sự tự bộc lộ của tác giả do đó tác giả và nhân vật trữ tình chỉ là một. Trong ca dao cổ nhất là bộ phận ca dao trữ tình việc xác định nhân vật trữ tình gắn liền với xác định đối tượng trữ tình của nó. Nhân vật trữ tình chính là chủ thể bộc lộ tình cảm còn đối tượng trữ tình chính là chủ thể tiếp nhận tình cảm. Hai loại chủ thể này đồng thời là đối tượng trao đổi tình cảm của nhau. Trong ca dao đối đáp nam nữ hai loại nhân vật này thường xuyên đổi vị trí cho nhau. Khi bên này là chủ thể bộc lộ thì bên kia là chủ thể tiếp nhận và ngược lại: - Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng Tre non đủ lá đan sàng nên chăng? - Đan sàng thiếp cũng xin vâng Tre vừa đủ lá non chăng hỡi chàng ? Ở câu trên nhân vật là chàng trai( Anh) đối tượng trữ tình là cô gái( Nàng). Còn ở câu dưới thì ngược lại cô gái là chủ thể , chàng trai là đối tượng trữ tình. Trong trường hợp bài ca dao chỉ là một vế của sự đối hoặc đáp thì việc xác định nhân vật trữ tình thuận lợi hơn xác định đối tượng trữ tình vì ở đây đối tượng trữ tình lặng yên không nói. Trong trường hợp như vậy thì việc xác định đối tượng trữ tình chỉ có thể làm một cách gián tiếp thông qua nhân vật trữ tình căn cứ vào lời lẽ xưng hô, bộc lộ tình cảm của nhân vật trữ tình mà đoán định Bài ca dao “ Khăn thương nhớ ai” có thể xác định nhân vật trữ tình chính là cô gái qua cách xưng hô” Em” và bộc lộ tâm trạng thương nhớ người yêu với nỗi nhớ thương triền miên da diết khắc khoải trong mọi không gian và thời gian. Bài ca dao “ tát nước đầu đình” ta biết đối tượng trữ tình là cô gái , một cô gái chưa chồng , người bạn cùng làng của chàng trai , căn cứ vào cách xưng hô của chàng trai với các đại từ “em” “cô ấy” và câu : Đến khi lấy chồng anh sẽ giúp cho Việc xác định đối tượng trữ tình là công việc quan trong có ý nghĩa phương pháp luận đối với việc giảng dạy ca dao. Nếu hiểu không đúng đối tượng trữ tình có thể dẫn đến sự hiểu sai bài ca dao. Ví dụ bài ca dao: “ Cái bống đi chợ cầu Nôm” nếu không chú ý đến đối tượng trữ tình của nó ( đứa trẻ đang rất ngây thơ bé bỏng) và chủ thể trữ tình của nó ( Người mẹ , người bà, người chị) thì không thể nào hiểu được bài ca dao ấy, thậm chí có thể rơi vào sự suy diễn thiếu căn cứ. Trong mỗi bài ca dao đối tượng trữ tình có thể là một cũng có thể là một số nhân vật khác nhau. Bài “ Tóc quăn chải lược đồi mồi” nhân vật trữ tình là người con ở đang bất bình với chủ nhà cao độ và quyết định bỏ chủ ra về. Đối tượng trữ tình gồm nhiều nhân vật thuộc những đối tượng khác nhau ( Chúng bạn chăn trâu, cái rổ, cái rế, cái cọc cầu ao, con trâu và có lúc là tất cả mọi người như là than thở với đời chứ không phải riêng ai) Vì thế đại từ nhân xưng ở ngôi thứ nhất trong bài ca rất phong phú và thay đổi tùy từng đối tượng. Với chúng bạn, người con ở xưng mình là “ tớ” một cách thân mật , tự nhiên: Giã ơn chúng bạn chăn trâu Tớ về Đồng Bãi hái dâu chăn tằm Tớ ở chưa được nửa năm Chúa nhà mắng tớ, tớ nằm không yên. Với những công cụ lao động, những đồ dùng thân thuộc hàng ngày anh xưng “ tao” và “ mày” coi chúng như người bạn đặc biệt của mình. Giã ơn cái rổ cái sề Tao chẳng ở nữa tao về nhà tao Giã ơn cái cọc cầu ao Nửa đêm gà gáy có tao có mày Giã ơn con trâu kéo cày Tao không ở nữa ai chăn mày trâu ơi! Ca dao thường sử dụng biểu tượng nên khi tìm hiểu bài ca dao cần xem xét biểu tượng trong bài. Bài ca dao “ Khăn thương nhớ ai” nỗi thương nhớ được diễn tả cụ thể và gợi cảm. Đó là nhờ cách nói riêng mang tính nghệ thuật của ca dao. Nỗi niềm thương nhớ của cô gái đối với người yêu được biểu lộ cụ thể sinh động bằng các biểu tượng “ Khăn , đèn , mắt” đặc biệt là hình ảnh Khăn. Khăn , đèn được nhân hóa, còn mắt là phép hoán dụ để nói đến nhân vật trữ tình. Cô gái hỏi khăn, đèn , mắt chính là cô tự hỏi lòng mình và hẳn là nhớ thương bồn chồn lắm cô mới hỏi dồn dập đến vậy. Khăn , đèn , mắt là biểu tượng cho nỗi niềm thương nhớ của cô gái đang yêu. Câu ca dao: Thân em như hạt mưa rào Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa Hạt mưa chỉ thân phận của người con gái . Ca dao còn sử dụng nhiều hình ảnh biểu tượng khác như: Bến sông chỉ sự chờ đợi ngóng trông : Thuyền về có nhớ bến chăng? Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền. Mận, đào, trúc , mai, loan ,phượng chỉ sự gắn bó trong tình yêu . Mỗi biểu tượng đều có một cơ sở lịch sử văn hóa xã hội và ngữ nghĩa nhất định , trong quá trình phân tích cần tìm được cái hay , cái đẹp mà biểu tượng ấy thể hiện. Khi phân tích một bài ca dao cần phối hợp giữa phân tích tổng thể tác phẩm và từng chi tiết vừa phân tích sự kiện vừa phân tích lối dùng từ ngữ hình ảnh. Ước gì sông rộng một gang Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi. Đây là ước muốn của cô gái cũng là lời cô thầm nói với người yêu của mình. Cô đã thổ lộ ước muốn đó trong một ý tưởng táo bạo bằng một hình ảnh độc đáo: Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi Trong ca dao tình yêu cái cầu là là chi tiết nghệ thuật quen thuộc và đặc sắc , xuất hiện với tần số khá lớn trở thành biểu tượng để chỉ nơi hẹn hò , gặp gỡ của những đôi lứa đang yêu, là phương tiện để họ đến với nhau. Cái cầu đó có khi là cành hồng, cành trầm , nhiều khi là ngọn mồng tơi . Đó là những cái cầu không có thực được dệt nên bằng ước mơ táo bạo của con người. Nhưng chính những cái cầu ảo đó lại đem đến một vẻ đẹp rất dân gian , rất đồng quê mà chỉ ca dao mới có được. Đặt trong hệ thống hình ảnh cái cầu nói trên càng thấy rõ vẻ đẹp của cái cầu dải yếm. Ước muốn đã độc đáo tạo ra cái cầu để thực hiện ước muốn đó lại càng độc đáo hơn. Ước gì sông rộng một gang Bắc cầu dải yếm đẻ chàng sang chơi Ở đây con sông không thực mà cái cầu lại càng ảo. Có con sông ấy thì mới có cái cầu ấy. Nó đích thực là cái cầu tình yêu trong ca dao mà lại là cái cầu của người con gái chủ động bắc cho người mình yêu trong sự ràng buộc của lễ giáo phong kiến . Nó táo bạo, mãnh liệt nhưng cũng rất trữ tình ý nhị biết bao bởi nó là cái yếm vật mềm mại luôn quấn quýt bên người con gái: Nó chính là người con gái Người con gái muốn dùng cái vật thân thiết gần gũi nhất của mình để bắc cầu mời mọc người mình yêu. Cái cầu dải yếm được tạo nên từ chính máu thịt, cuộc đời, trái tim rạo rực yêu đương của những người con gái làng quê.Nó trở thành cái cầu tình yêu đẹp nhất trong ca dao và chỉ có tư duy nghệ thuật dân gian thì mới sáng tạo ra được một cái cầu như thế: Vừa gần gũi thân quen vừa táo bạo mà trữ tình đằm thắm đầy nữ tính. Trong hệ thống hình ảnh cái cầu của ca dao, nó là kết tinh đẹp đẽ nhất bởi từ cái cầu- dải yếm này không chỉ có tâm hồn đẹp của người lao động trong tình yêu mà còn có cả cách nói đẹp của họ trong việc biểu đạt tình yêu đó. Mặt khác trong ca dao cũng có những mô típ , đó là sự lặp lại các hình ảnh quen thuộc như: Con cò , bến nước, cây đa,hay lối lặp từ ngữ như: Chiều chiều , thân em Hiện tượng liên kết tác phẩm thành chuỗi diễn ra phổ biến ở ca dao. Vì vậy khi giảng dạy tác phẩm văn học dân gian không thể bỏ qua đơn vị “ Chuỗi” đồng thời không thể phủ nhận tính chất độc lập tương đối của những đơn vị nhỏ trong đó. Có những chuỗi ca dao gồm những bài trùng nhau về đề tài , chủ đề nhưng hoàn toàn độc lập chứ không phải là dị bản của nhau. Vì vậy trong quá trình giảng dạy ca dao cần lưu ý học sinh tìm thêm những câu ca dao khác có chung chủ đề nằm trong hệ thống đơn vị “ chuỗi” với cách mở đầu đã thành mô típ quen thuộc: - Thân em như hạt mưa rào Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa - Thân em như hạt mưa sa Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày. - Thân em như miếng cau khô Người thanh chuộng mòng, người thô tham dày. - Thân em như con cá rô thia Ra sông mắc lưới, vào đìa mắc câu. Ca dao được mở đầu bằng câu nói quen thuộc thương thay, con cò vv... - Thương thay thân phận con rùa Lên đình đội hạc, xuống chùa đội bia! - Thương thay thân phận quả dừa Non thì khoét mắt, già cưa mất đầu - Con cò mỏng mảnh mỏng manh Nó ngồi nó vá tấm xanh tấm vàng - Con cò bắt tép bờ sông Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non! - Con cò đi đón cơn mưa Tối tăm mù mịt ai đưa cò về. Khi bài ca dao đã xác định được thời kì xuất hiện, địa bàn lưu hành , thể loại, nhân vật trữ tình thì ta có cơ sở để phân tích chủ đề, nội dung nghệ thuật và ý nghĩ hiện đại của nó. Cái khó là vấn đề vận dụng cụ thể , trong đó bao gồm vấn đề cảm thụ cái hay của bài ca dao và khả năng truyền đạt thể hiện sự cảm thụ ấy. Ở đây người giảng ca dao phải biết kết hợp chặt chẽ hai loại tư duy: Tư duy lô gic bằng khái niệm qua hệ thống thuật ngữ nghiên cứu văn học dân gian và tư duy hình tượng với hệ thống ngôn ngữ phong phú đa dạng giàu tính cụ thể và gợi cảm của đời sống. Sự kết hợp này được thể hiện bằng việc phân tích chủ đề qua việc phân tích nội dung nghệ thuật, đến việc tìm đến mối quan hệ của bài ca dao với đời sống hiện nay hoặc qua phân tích đặc điểm nghệ thuật mà rút ra nội dung ròi từ việc phân tích nội dung, chủ đề bài ca dao mà rút ra ý nghĩa hiện đại của nó. Chẳng hạn bài ca dao “ Con cò mà đi ăn đêm” là bài ca dao trữ tình có tính chất ngụ ngôn độc đáo. Lí tưởng thẩm mĩ, triết lí sống cao đẹp được tác giả trình bày dưới hình thức một câu chuyện ngụ ngôn về con cò gặp tai nạn trong lúc kiếm ăn. Bài ca dao có hai nhân vật “ Con cò” và “ Ông” đều do nhân dân sáng tác ra để bộc lộ tư tưởng thẩm mĩ và triết lý sống cao đẹp của mình. Cần tập trung khai thác sâu vào hình tượng con cò. Con cò rất yêu đời, han sống: “ Ông ơi ông vớt tôi nao” đó là lời khẩn cầu tha thiết về sự yêu đời ham sống của nó. Ham sống nhưng không sợ chết. Vì thế con cò trong cơn hoạn nạn “ Lộn cổ xuống ao” vẫn đủ tỉnh táo để lường trước cái chết có thể đến với mình. Và nó yêu cầu điều thứ hai nếu điều thứ nhất là cứu sống không được chấp nhận. Có xáo thì xáo nước trong Đừng xáo nước đục đau lòng cò con. Con cò không muốn chết nhưng điều làm cho nó sợ hơn cả cái chết là sự chết trong “ nước đục”. Nó chủ động chọn cái “chết trong” nếu phải chết. Sự lựa chọn ở đây vừa đau xót vừa cao thượng. Cái cao thượng và cái bi ở đây bắt nguồn từ triết lí sống “ Chết trong còn hơn sống đục”. Khi tìm hiểu, giảng dạy về ca dao viết về thân phận con người ( Ca dao than thân) đặc biệt là hình ảnh về người phụ nữ trong xã hội phong kiến bất công, người giáo viên cần làm cho học sinh thấy được thân phận bị phụ thuộc của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, họ không tự quyết định được số phận mình. Nội dung đó được diễn tả bằng những hình ảnh so sánh và ẩn dụ khác nhau. - Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai? - Thân em như miếng cau khô Người thanh chuộng mỏng, người thô tham dày. Những sự vật: tấm lụa đào, miếng cau khô, giếng nước giữa đang được dẫn ra chủ yếu với nội dung nói về “giá trị sử dụng” thì đây lại là so sánh hay để nói về thân phận người phụ nữ xưa chỉ được chú ý ở mặt sử dụng. Từ ý nghĩa về giá trị sử dụng đó các câu ca dao còn làm rõ thân phận bị phụ thuộc của họ. Điều đó có nghĩa là ta có thể khai thác từ phân tích giá trị nghệ thuật để rút ra nội dung. Ngoài ra khi phân tích bình giảng ca dao cần làm rõ hai yếu tố “ Sự” và “ tình” Sự do tình mà nảy sinh, tình nhờ sự mà bộc lộ. Tình cảm và sự việc trong ca dao gắn bó như hồn với xác. Không có tình cảm chân thực thiết tha thì sự việc trong bài ca dao sẽ trở thành cái xác không hồn và không có sự việc thì tình cảm giống như hồn không có xác không nơi nương tựa và không thể tồn tại. Hỡi cô cắt cỏ bên sông Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang “ Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang” là cái “ Sự” hư cấu bịa đặt nhưng cái “tình” ở đây thì hoàn toàn chân thực thiết tha. Chính sự chân thực thiết tha cao độ của tình cảm là điều kiện thúc đẩy trí tưởng tượng của tác giả ( chàng trai) giúp cho tác giả hư cấu và bịa đặt được cái “ Sự” độc đáo và nên thơ đó. Sự gắn bó giữa sự và tình giữa hư và thực trong câu ca dao này chính là ở chỗ đó. Sự trong ca dao bao gồm sự việc và cảnh vật, nó có thể là có thực hoàn toàn hoặc hư cấu hoàn toàn hoặc vừa có thực vừa hư cấu. Nhưng dù thé nào thì sự có mặt của nó trong bài ca dao cũng là do yêu cầu của tình cảm và nhằm bộc lộ tình cảm Vì vậy sự và tình trong ca dao có sự kết chặt như hòa nhập vào nhau không thể tách rời. Dạy ca dao nếu sa vào sự việc, cảnh vật mà quên mất tình cảm hoặc coi nhẹ tình cảm của tác giả thì không đạt hiệu quả. Có thể thấy rằng quá trình lĩnh hội phân tích lí giải một bài ca dao bao gồm nhiều khâu , nhiều bước cụ thể. Người giáo viên văn học khi dạy ca dao cần làm cho học sinh hiểu : Bài ca dao ra đời trong hoàn cảnh và trường hợp nào? Được lưu hành sớm nhất và nhiều nhất ở đâu? Thuộc thể loại nào? Chủ thể nhân vật trữ tình của bài ca dao là gì? hay bài ca dao là tiếng nói của ai? Người ấy như thế nào? Đối tượng trữ tình của bài ca là gì? Xác định nội dung truyền đạt phô diễn của bài ca dao là gì? ( Vấn đề chủ yếu mà tác giả bài ca dao muốn nói) Hình thức nghệ thuật bài ca dao là gì? ( Sự phô diễn tâm tư tình cảm bằng phương pháp ,phương tiện nghệ thuật như thế nào) Ngoài ra cần làm rõ bài ca dao có mối liên hệ gì với cuộc sống hiện nay? Thứ tự trước sau của các khâu các bước trên diễn ra linh hoạt thay đổi theo từng đối tượng cụ thể bởi trong thực tế khi tìm hiểu ca dao có nhiều bài khác nhau. Nhưng cho dù thế nào thì cũng không thể thay đổi nguyên tắc chung và tinh thần nội dung cơ bản của chúng. 3. Thực trạng học sinh học tập bộ môn văn Từ thực trạng học sinh nói chung và học sinh trường THPT số 1 Mường Khương còn ngại học văn, không yêu thích môn học bởi đây là môn học khó cần ở học sinh khả năng cảm thụ văn chương tốt, trí tưởng tượng phong phú, sự ham hiểu biết, vốn sống, vốn kinh nghiệm mà lứa tuổi học sinh THPT chưa có kinh nghiệm sống, sự hiểu biết cuộc sống xã hội còn nhiều hạn chế. Hơn nữa đối tượng học sinh của trường chủ yếu là học sinh vùng dân tộc thiểu số trình độ nhận thức, khả năng tiếp thu kiến thức còn nhiều hạn chế, năng lực cảm thụ văn chương còn yếu thì vấn đề đặt ra đối với mỗi người giáo viên đứng lớp là phải lựa chọn phương pháp giảng dạy tối ưu để nâng cao chất lượng giờ lên lớp cũng như hiệu quả học tập của học sinh. Trong chương trình Ngữ văn THPT có hai bộ phận văn học: văn học dân gian và văn học viết. Văn học dân gian chiếm dung lượng khá lớn với nhiều thể loại phong phú một trong những thể loại học sinh yêu thích đó là ca dao. Tuy vậy đây cũng là thể loại khó đòi hỏi người giáo viên Ngữ văn phải có hiểu biết về kiến thức văn học dân gian, có năng lực cảm thụ văn chương và phương pháp thiết kế bài học , cách tổ chức hoạt động học tập đặc biệt phải nắm được đặc trưng thể loại để có phương pháp giảng dạy phù hợp giúp học sinh chủ động tiếp thu kiến thức nhằm đạt hiệu quả cao trong giảng dạy Trước thực trạng đó đòi hỏi mỗi giáo viên cần phải học tập nghiên cứu tự bồi dưỡng về phương pháp giảng dạy, áp dụng các kĩ thuật dạy học phù hợp kiểu bài lên lớp và đối tượng học sinh. 4. Hiệu quả của Sáng kiến kinh nghiệm : Trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu về văn học dân gian nói chung và ca dao nói riêng, ở mỗi thể loại người giáo viên ngữ văn cần xác định rõ về cách thức tổ chức giờ học và sử dụng phương pháp giảng dạy phù hợp với kiểu bài, thể loại thực hiện theo nguyên tắc chung và tinh thần cơ bản của chúng. Việc đi nghiên cứu về phương pháp giảng dạy ca dao trước hết giúp người giáo viên có cái nhìn đúng đắn về một thể loại tiêu biểu trong bộ phận văn học dân gian để từ đó có phương pháp tiếp cận khai thác các giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm không chỉ cung cấp cho học sinh kiến thức cơ bản về tác phẩm mà còn làm cho tâm hồn người học thêm phong phú, yêu quý văn học dân gian hiểu được vẻ đẹp tâm hồn của người bình dân xưa qua ca dao. Đối với giáo viên việc tập trung vào tìm hiểu phương pháp giảng dạy theo đặc trưng thể loại đã có hiệu quả nhất định trong giảng dạy, luôn có ý thức đổi mới phương pháp dạy học để đáp ứng yêu cầu giáo dục trong thờì đại mới. Với đề tài trên đã tạo được sự thống nhất về phương pháp tiếp cận, giảng dạy ca dao, một thể loại văn học dân gian trong chương trình Ngữ văn THPT nhằm phát huy khả năng tích cực chủ động của học sinh trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức. THỰC HÀNH SOẠN GIẢNG: Ngày soạn : Ngày giảng: Tiết 26+ 27 CA DAO THAN THÂN YÊU THƯƠNG TÌNH NGHĨA A. Mục tiêu bài học: 1. Kiến thức: - Nắm được khái niệm ca dao qua tác phẩm cụ thể. - Cảm nhận được tiếng hát than thân và lời ca yêu thương tình nghĩa của người bình dân trong xã hội phong kiến qua nghệ thuật đậm màu sắc dân gian của ca dao. - Vận dụng kiến thức về đặc trưng thể loại để phân tích những tác phẩm cụ thể. *Kiến thức trọng tâm: -Tiết 1: Cảm nhận tiếng hát than thân và lời ca yêu thương tình nghĩa qua bài ca dao số 1,2,3 -Tiết 2: Cảm nhận tiếng hát than thân và lời ca ythương tình nghĩa qua bài ca dao số 4,5,6 Giáo viên tập trung vào dạy bài ca dao 1,4 6 còn lại các bài 2.3.5 học sinh tự học theo sự hướng dẫn của giáo viên 2.Kĩ năng: - Rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm và phân tích thơ trữ tình dân gian. 3. Thái độ: - Có thái độ đồng cảm, trân trọng đối với vẻ đẹp tâm hồn người lao động và yêu quý những sáng tác của họ. B.Tổ chức giờ học: 1.Kiểm ta bài cũ(3 phút): Y/n phê phán của 2 truyện cười đã học? 2.Khởi động : GV dẫn vào bài, HS lắng nghe. 3.Tổ chức các hoạt động: HOẠT ĐỘNG CỦA GV- HS NỘI DUNG CẦN ĐẠT HĐ 1: Tìm hiểu chung I.Tìm hiểu chung: -Tgian: 7 phút -Ptiện: SGK -Ppháp: Giảng, vấn đáp. Nhắc lại khái niệm ca dao. 1. Khái niệm : ( SGK) Căn cứ vào nội dung người ta 2. Phân loại: - Ca dao than thân chia ca dao ra làm mấy loại? - Yêu thương tình nghĩa - Ca dao hài hước Các thể thơ thường được sử 3. Thể thơ: Lục bát, lục bát biến thể, thể dụng trong các sáng tác ca dao? vãn… Đặc trưng nghệ thuật của ca 4. Nghệ thuật: Nghệ thuật truyền thống, dao? mang đậm sắc thái dân gian. Khái quát nội dung của ca dao? - Giàu hình ảnh so sánh, ẩn dụ - Ngôn ngữ giản dị, trong sáng, dễ hiểu, có lối diễn đạt mang tính công thức. 5. Nội dung: Diễn tả đ/s tâm hồn, tinh
- Xem thêm -