Phương ngữ nam bộ trong văn học dân gian

  • Số trang: 122 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 227 |
  • Lượt tải: 4
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Đỗ Thị Kiều Oanh PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Thành phố Hồ Chí Minh – 2012 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Đỗ Thị Kiều Oanh PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Chuyên ngành : Ngôn ngữ học Mã số : 60 22 01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. HUỲNH THỊ HỒNG HẠNH Thành phố Hồ Chí Minh - 2012 LỜI CẢM ƠN ------Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn cô Huỳnh Thị Hồng Hạnh đã dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn. Nhân đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô Tổ Ngôn Ngữ, các thầy cô Khoa Ngữ Văn trường Đại học sư phạm TPHCM. Xin cảm ơn Phòng Sau đại học trường Đại học sư phạm TPHCM. Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã tận tình góp ý, giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này. Tp Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 03 năm 2012 Người viết luận văn Đỗ Thị Kiều Oanh LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi. Các số liệu khảo sát, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng công bố ở các công trình khác. Người viết luận văn Đỗ Thị Kiều Oanh MỤC LỤC MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1 0.1.Lí do chọn đề tài ......................................................................................... 1 0.2.Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 1 0.3.Lịch sử vấn đề ............................................................................................. 2 0.3.1.Về phương ngữ Nam Bộ ...................................................................... 2 0.3.2. Về phương ngữ Nam Bộ trong văn học dân gian ............................... 3 0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 5 0.5.Phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 5 0.6.Tư liệu nghiên cứu ...................................................................................... 5 0.7.Đóng góp của luận văn ............................................................................... 6 0.8.Bố cục của luận văn .................................................................................... 6 CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÍ THUYẾT .................................................................... 7 1.1 Phương ngữ và phương ngữ Nam Bộ ......................................................... 7 1.1.1 Khái niệm phương ngữ ........................................................................ 7 1.1.2 Phân vùng phương ngữ tiếng Việt ....................................................... 8 1.1.3Phương ngữ Nam Bộ ............................................................................ 9 1.1.3.2 Đặc điểm phương ngữ Nam Bộ ........................................................ 9 1.2 Văn học dân gian Nam Bộ ........................................................................ 11 1.3.Văn hóa Nam Bộ ...................................................................................... 13 1.3.1.Văn hóa và các thành tố của văn hóa ................................................. 13 1.3.2 Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ ................................................... 13 1.3.3 Đặc trưng văn hóa Nam Bộ ............................................................... 14 1.3.4 Những tác động của văn hóa đối với ngôn ngữ và văn học dân gian 16 CHƯƠNG 2.TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN NAM BỘ ...................................................................................................................... 19 2.1. Kết quả khảo sát....................................................................................... 19 2.2. Màu sắc địa phương và đặc trưng văn hóa .............................................. 22 2.2.1. Từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượng ........................................................... 23 2.2.2. Từ ngữ chỉ hoạt động, trạng thái, tính chất....................................... 64 2.2.3. Từ ngữ xưng hô................................................................................ 73 CHƯƠNG 3.NHỮNG HÌNH THỨC BIỂU ĐẠT MANG MÀU SẮC NAM BỘ ............................................................................................................................ 79 3.1Cách biểu đạt mang màu sắc bình dân, mộc mạc, dí dỏm ........................ 79 3.2.Cách biểu đạt bằng lối so sánh ................................................................. 89 3.3.Cách biểu đạt bằng những hình ảnh biểu trưng quen thuộc ..................... 92 3.4. Cách biểu đạt bằng các biểu thức ngôn ngữ đặc trưng trong ca dao, dân ca Nam Bộ ........................................................................................................... 98 KẾT LUẬN ...................................................................................................... 107 TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 109 NGUỒN NGỮ LIỆU KHẢO SÁT................................................................. 116 1 MỞ ĐẦU 0.1.Lí do chọn đề tài Về phương ngữ Nam Bộ, từ trước đến nay đã có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu. Xuất phát từ các góc độ, khuynh hướng và phương pháp tiếp cận khác nhau, những bài viết, những công trình đó đã cung cấp cái nhìn mới mẻ, toàn diện hơn về phương ngữ Nam Bộ. Có thể thấy, đây là vấn đề thu hút được đông đảo các nhà ngôn ngữ học - đặc biệt là những nhà nghiên cứu từng được sinh ra và trưởng thành trên mảnh đất Nam Bộ. Thế nhưng, theo chúng tôi, việc khảo sát từ ngữ địa phương trong văn học dân gian Nam Bộ vẫn có thể bàn luận thêm, nghiên cứu sâu hơn và toàn diện hơn. Khác với văn học viết, văn học dân gian là văn học truyền miệng, là sáng tác của tập thể nhân dân lao động. Văn học dân gian phản ánh những gì gần gũi nhất với con người. Từ ngữ được sử dụng trong các tác phẩm văn học dân gian phản ánh lối nói của từng địa phương, mang dấu ấn của từng vùng, từng miền. Nghiên cứu từ ngữ địa phương trên cứ liệu văn học dân gian của một vùng, miền nào đó không chỉ làm sáng tỏ những đặc điểm của từ ngữ vùng, miền ấy mà còn thấy được nếp sống, nếp nghĩ của người dân nơi đó. Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Phương ngữ Nam Bộ trong văn học dân gian” với mong muốn góp phần tìm hiểu thêm nét đặc sắc của phương ngữ Nam Bộ, của văn hóa Nam Bộ biểu hiện qua văn học dân gian; phân tích giá trị biểu đạt, hiệu quả biểu đạt của các yếu tố mang tính địa phương trong văn học dân gian Nam Bộ. 0.2.Mục đích nghiên cứu Thực hiện đề tài: “Phương ngữ Nam Bộ trong văn học dân gian”, người viết hướng đến những mục đích sau: - Khảo sát và phân loại các từ ngữ, các cách diễn đạt mang màu sắc địa phương trong văn học dân gian Nam Bộ - Miêu tả và phân tích các đặc điểm ngữ âm, ngữ nghĩa, giá trị tu từ của các từ ngữ địa phương, các cách diễn đạt mang màu sắc địa phương trong văn học dân gian 2 Nam Bộ. Từ đó góp phần làm rõ vai trò của các yếu tố địa phương trong văn học dân gian Nam Bộ. 0.3.Lịch sử vấn đề 0.3.1.Về phương ngữ Nam Bộ Phương ngữ là vấn đề được các nhà Việt ngữ học quan tâm từ rất sớm. Từ những năm 1958 -1959, loạt bài “Tiếng địa phương” của Bình Nguyên Lộc [39] đăng trên tạp chí Bách khoa nhiều số liền đã sưu tầm và giải thích tiếng địa phương Nam Bộ. Từ đó đến nay, phương ngữ đã được nghiên cứu toàn diện hơn, cả về ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp, chức năng văn hóa - xã hội... Các công trình mang tính chất dẫn luận từ vựng học của Đỗ Hữu Châu [6], Nguyễn Thiện Giáp [18] hay tu từ học của Cù Đình Tú [91] đều có một phần nói về phương ngữ hoặc từ ngữ địa phương. Trong đó đáng chú ý nhất là công trình “Phương ngữ học tiếng Việt” của Hoàng Thị Châu [9], công trình này đề cập đến những vấn đề cơ bản nhất của phương ngữ học và các vùng phương ngữ của tiếng Việt. Về phương ngữ Nam Bộ, ngoài loạt bài của Bình Nguyên Lộc như đã nêu trên, có nhiều công trình, bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành đề cập đến vấn đề này từ nhiều góc độ khác nhau. Trong “Tiếng Việt trên các miền đất nước”, tác giả Hoàng Thị Châu có đề cập đến phương ngữ Nam Bộ. Trong đó, tác giả chú ý đặc biệt đến vấn đề ngữ âm, cụ thể là “dựa vào những phương pháp của ngôn ngữ học và phương ngữ học để miêu tả, phân tích, giới thiệu với bạn đọc những biến thể địa phương của tiếng Việt, lí giải các nguyên nhân xã hội và các quy luật biến đổi ngữ âm đã tạo ra sự đa dạng đó” [8;5-6]. Tác giả cho rằng đây là sự khác biệt đáng tin cậy và thể hiện lịch sử phát triển của tiếng Việt. “Phương ngữ Nam Bộ” [33] của Trần Thị Ngọc Lang là công trình khoa học nghiên cứu tương đối toàn diện về phương ngữ Nam Bộ. Trong công trình này, tác giả đã miêu tả, so sánh rất tỉ mỉ và tinh tế sự khác biệt về từ vựng ngữ nghĩa của phương ngữ Nam Bộ so với phương ngữ Bắc Bộ. Trần Thị Ngọc Lang cũng là tác giả 3 của nhiều bài báo bàn về đặc điểm cấu tạo ngữ nghĩa, đặc điểm ngữ pháp, từ láy… của phương ngữ Nam Bộ [31,32,34,35,36] Ngoài ra, có thể kể đến một số tác giả như : Hoàng Xuân Phương [61], Nguyễn Thanh Nhàn [48], Nguyễn Thanh Lợi [40], Nguyễn Thị Hai [20,21], Lê Trung Hoa [26,27,28] bàn về địa danh Nam Bộ; Cao Xuân Hạo [23], Nguyễn Hoài Nguyên [47] bàn về đặc điểm ngữ âm của phương ngữ Nam Bộ; Hồ Xuân Tuyên [94,95,96,97,98], Huỳnh Công Tín [68,69,70,71,72], Nguyễn Đức Dân [12], Nguyễn Thị Thanh Phượng [62], Nguyễn Kim Thản [76], Mai Thanh Thắng [78,79], Hoàng Vũ [99] bàn về đặc điểm từ vựng ngữ nghĩa của phương ngữ Nam Bộ … 0.3.2. Về phương ngữ Nam Bộ trong văn học dân gian Điểm qua lịch sử nghiên cứu, có thể thấy phương ngữ Nam Bộ đã được nghiên cứu khá toàn diện. Tuy nhiên bàn về phương ngữ Nam Bộ trong văn học dân gian chỉ có một số bài viết của các tác giả Lê Xuân Bột [4], Trần Văn Nam [45], Bùi Mạnh Nhị [49], Trịnh Sâm [66], Nguyễn Văn Nở [51], Nguyễn Thế Truyền [88]. Trong bài viết “Ngôn ngữ của người Nam Bộ trong ca dao – dân ca” [88], tác giả Nguyễn Thế Truyền đã trình bày một cách khá đầy đủ những đặc trưng của phương ngữ Nam Bộ. Tác giả nhận thấy trong ca dao – dân ca Nam Bộ đặc biệt rất hay gặp các từ ngữ địa phương và cách phát âm địa phương. Tác giả đã liệt kê các từ ngữ Nam Bộ xuất hiện trong một số câu ca dao, đồng thời phân tích màu sắc địa phương của các từ ngữ đó. Tác giả cho rằng từ ngữ được phản ánh trong ca dao – dân ca phần lớn đều là những từ quan trọng nhất biểu thị những sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất… rất quen thuộc, gần gũi trong đời sống của người dân địa phương. Trong khuôn khổ một bài báo, tác giả chỉ khai thác màu sắc địa phương Nam Bộ ở một số từ ngữ hạn chế. Tuy nhiên, bài viết đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về ngôn ngữ ca dao – dân ca Nam Bộ. Trong bài “Một số đặc điểm ngôn ngữ ca dao – dân ca Nam Bộ” [49], tác giả Bùi Mạnh Nhị cũng bàn đến từ ngữ địa phương trong ca dao – dân ca Nam Bộ. Tác giả cho rằng văn học dân gian Nam Bộ là một quá trình hội tụ, phát huy những truyền thống của ngôn ngữ ca dao – dân ca dân tộc mà cha ông từ các miền ngoài mang vào, đồng thời đó cũng là kết quả của quá trình sáng tạo liên tục trước những đòi hỏi của 4 cuộc sống mới. Với lập luận đó, tác giả đi đến khẳng định từ ngữ sử dụng trong ca dao – dân ca Nam Bộ ngoài những từ ngữ toàn dân còn có những từ ngữ nảy sinh tại địa phương. Tác giả đã nêu ra những từ ngữ địa phương phản ánh đời sống tình cảm của nhân dân trên sông nước, những từ gọi tên cây trái, những môtíp quen thuộc… tất cả đều gắn chặt với cách phát âm, cách nói, với hình ảnh tự nhiên và đời sống sinh hoạt hằng ngày của người dân Nam Bộ. Từ đó, tác giả nhận thấy ngôn ngữ, cách nói của ca dao – dân ca Nam Bộ thường biểu hiện ở hai cực. Một cực là nhỏ nhẹ, hiền lành, dễ thương…Cực thứ hai là chất xông xáo, phóng túng, trẻ trung. Điều này xuất phát từ hoàn cảnh sống, tâm trạng, tính cách, phong cách sinh hoạt của người dân nơi đây. Người dân Nam Bộ vốn yêu ra yêu, ghét ra ghét cộng với cách nói thẳng thắn, bộc trực nên mức độ đặc tả của ngôn ngữ ca dao – dân ca Nam Bộ rất cao. Bên cạnh đó, do không bị gò bó nhiều vào khuôn mẫu của những ước lệ nên văn học dân gian Nam Bộ có khả năng rộng mở để tạo nên và sử dụng những từ ngữ đầy sáng tạo. Những đóng góp của tác giả bài viết là rất cần thiết cho những ai muốn nghiên cứu, tìm hiểu về sắc thái địa phương trong ngôn ngữ ca dao – dân ca Nam Bộ nói riêng và ngôn ngữ Nam Bộ nói chung. Mở đầu bài viết “Phương ngữ và ca dao – dân ca địa phương” [66], tác giả Trịnh Sâm mong muốn mọi người phải tôn trọng ngôn ngữ địa phương trong quá trình sưu tầm, hiệu đính ca dao – dân ca. Bởi vì, theo tác giả, nếu tìm hiểu ca dao dân ca mà tách rời hoàn cảnh sống có nghĩa là tước bỏ đi một phần tinh hoa vốn có của nó, đồng thời còn đánh mất một tiên chí nhận diện xuất xứ cũng như phân loại ca dao – dân ca. Tác giả đã dẫn một số ví dụ cho thấy sự khác biệt giữa các phương ngữ và giữa phương ngữ với tiếng Việt toàn dân. Trong đó, tác giả có nêu một số đặc điểm của phương ngữ Nam Bộ như hiện tượng vần uân chuyển thành ưa, về thường đọc là dìa, cách phát âm bùn thành bùng, cách đọc vần úc và út giống nhau… Từ đó, tác giả kết luận: Phương ngữ Nam Bộ là hệ thống từ ngữ xù xì, ngồn ngộn, đầy sức sống. Bài viết đã cung cấp những hiểu biết nhất định về phương ngữ, đồng thời còn gợi ý một số vấn đề nghiên cứu thú vị. Nhìn chung, hầu hết các bài viết chủ yếu nói đến từ ngữ địa phương trong ca dao dân ca Nam Bộ, chưa có một công trình nào đề cập đến một cách hệ thống và chi 5 tiết các yếu tố phương ngữ trong văn học dân gian Nam Bộ. Trước tình hình nghiên cứu như trên, chúng tôi mong muốn luận văn này sẽ bàn đến phương ngữ Nam Bộ trong văn học dân gian một cách toàn diện và có hệ thống, trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu của người đi trước. 0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Do đặc điểm của đề tài, trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi không đặt vấn đề tìm hiểu phương ngữ Nam Bộ ở mọi thể loại văn học dân gian mà chỉ giới hạn tìm hiểu phương ngữ Nam bộ trong các thể loại sau: - Truyện cười - Tục ngữ - Ca dao – dân ca 0.5.Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau: - Phương pháp miêu tả: Phương pháp này được sử dụng để miêu tả cấu tạo từ ngữ, các cách biểu đạt mang màu sắc địa phương. - Phương pháp phân tích: Chúng tôi sử dụng phương pháp này để phân tích đặc trưng ngữ nghĩa, giá trị tu từ của các từ ngữ, các cách diễn đạt mang màu sắc địa phương được sử dụng trong văn học dân gian Nam Bộ. - Phương pháp so sánh – đối chiếu: Để làm rõ nét đặc sắc của phương ngữ Nam Bộ, luận văn có đối chiếu phương ngữ Nam Bộ với ngôn ngữ toàn dân để thấy được sự khác biệt, nét riêng của từ ngữ, các cách diễn đạt mang màu sắc địa phương trong văn học dân gian Nam Bộ. Các phương pháp này có tầm quan trọng như nhau và được vận dụng xuyên suốt luận văn. 0.6.Tư liệu nghiên cứu Tài liệu mà chúng tôi sử dụng để khảo sát các yếu tố phương ngữ trong văn học dân gian Nam Bộ là bộ tài liệu sưu tầm điền dã của Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí 6 Minh. Tài liệu đã được Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản. Đó là những tuyển tập do Chu Xuân Diên chủ biên: 0. Văn học dân gian Sóc Trăng (2002); 1. Văn học dân gian Bạc Liêu (2005); Và cuốn Văn học dân gian An Giang (tài liệu sưu tầm điền dã lưu hành nội bộ, 2010). 0.7.Đóng góp của luận văn Việc nghiên cứu đề tài có những ý nghĩa lí luận và thực tiễn như sau: - Đóng góp vào việc tìm hiểu đặc trưng của phương ngữ Nam Bộ thông qua việc tìm hiểu từ ngữ, các cách diễn đạt mang màu sắc địa phương trong văn học dân gian Nam Bộ - Thông qua việc tìm hiểu từ ngữ, cách diễn đạt mang màu sắc địa phương, góp phần làm rõ đặc trưng của văn học dân gian Nam Bộ - Đóng góp vào việc tìm hiểu văn hóa Nam Bộ thông qua việc tìm hiểu từ ngữ, cách diễn đạt mang màu sắc địa phương trong văn học dân gian Nam Bộ - Tập hợp một khối lượng lớn, bao quát hơn về từ ngữ địa phương Nam Bộ, phục vụ cho việc học tập, giảng dạy, nghiên cứu phương ngữ và văn học dân gian Nam Bộ 0.8.Bố cục của luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm các nội dung chính như sau: Chương một trình bày các cơ sở lí thuyết có liên quan đến đề tài: phương ngữ, phương ngữ Nam Bộ, văn học dân gian Nam Bộ, mối quan hệ giữa phương ngữ và văn học, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa. Chương hai trình bày các vấn đề liên quan đến từ địa phương trong văn học dân gian Nam Bộ. Thông qua kết quả khảo sát về từ địa phương được sử dụng trong văn học dân gian Nam Bộ, chúng tôi đi sâu miêu tả đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa, giá trị tu từ và đặc điểm văn hóa của từ địa phương trong văn học dân gian Nam Bộ Chương ba miêu tả, phân tích giá trị tu từ, đặc trưng văn hóa Nam Bộ của các cách diễn đạt mang màu sắc địa phương trong văn học dân gian Nam Bộ. 7 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1 Phương ngữ và phương ngữ Nam Bộ Phương ngữ là vấn đề được các nhà ngôn ngữ học quan tâm từ lâu. Tuy nhiên, cho đến nay khi bàn về phương ngữ vẫn còn những quan điểm chưa thống nhất, đặc biệt là trong các vấn đề như sự phân vùng phương ngữ, vị trí của phương ngữ trong quan hệ với ngôn ngữ toàn dân, phương ngữ và việc chuẩn hóa ngôn ngữ. Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi không đi sâu bàn bạc những vấn đề đó mà chỉ tập trung vào các khái niệm làm cơ sở để tìm hiểu phương ngữ Nam Bộ như: khái niệm phương ngữ, sự phân vùng phương ngữ, đặc trưng của phương ngữ Nam Bộ. 1.1.1 Khái niệm phương ngữ Theo Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Quang, Vương Toàn, “phương ngữ là hình thức ngôn ngữ có hệ thống từ vựng, ngữ pháp và ngữ âm riêng biệt được sử dụng ở một phạm vi lãnh thổ hay xã hội hẹp hơn là ngôn ngữ; là hệ thống kí hiệu và quy tắc kết hợp có nguồn gốc chung với hệ thống khác được coi là ngôn ngữ (cho toàn dân tộc), các phương ngữ (có người gọi là tiếng địa phương, phương ngôn) khác nhau trước hết ở cách phát âm, sau đó là vốn từ vựng” [100;232] . Hoàng Thị Châu định nghĩa phương ngữ một cách ngắn gọn hơn: “Phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác” [8;24] Ở đây, chúng tôi nhận thấy cần phân biệt ngôn ngữ toàn dân và phương ngữ. Phương ngữ là biến thể của ngôn ngữ toàn dân. Tuy nhiên, phương ngữ cũng là một hệ thống hoàn chỉnh riêng của nó chứ không phải là “một cái nhánh tách ra từ thân cây” [8;54] ngôn ngữ toàn dân. Chính vì vậy mà không thể cho rằng ngôn ngữ toàn dân là cái trừu tượng còn phương ngữ là cái cụ thể, “phương ngữ cũng như ngôn ngữ toàn dân đều có mặt trừu tượng và mặt cụ thể” [8;54]. 8 1.1.2 Phân vùng phương ngữ tiếng Việt Phân vùng phương ngữ là vấn đề phức tạp. Có nhiều quan điểm khác nhau bàn về vấn đề này. Có quan điểm cho rằng tiếng Việt không có vùng phương ngữ nào cả, chỉ có một ngôn ngữ Việt mà thôi; có quan điểm cho rằng tiếng Việt có hai, ba, bốn hoặc thậm chí là năm vùng phương ngữ. Chúng tôi sẽ trình bày cụ thể các quan điểm này [ 8;85 - 88] - Người đưa ra quan điểm không chia vùng phương ngữ tiếng Việt là S.C.Thomson. - Các tác giả sau có cùng quan điểm là chia tiếng Việt thành hai vùng phương ngữ: + H. Maspéro, M.V.Gordina và I.S.Bustrov chia phương ngữ Việt thành phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung (tiếng miền Nam giống phương ngữ Bắc). + Hoàng Phê chia phương ngữ Việt thành tiếng miền Bắc (Hà Nội), tiếng miền Nam (TP HCM), khu vực giữa là vùng chuyển tiếp. - Có nhiều nhà nghiên cứu chia tiếng Việt thành ba vùng phương ngữ, trong đó tiêu biểu là Hoàng Thị Châu. Các tác giả này phân chia ranh giới các vùng phương ngữ như sau: phương ngữ Bắc (Bắc Bộ và Thanh Hóa), phương ngữ Trung (từ Nghệ An đến Đà Nẵng), phương ngữ Nam (từ Đà Nẵng trở vào) - Quan điểm chia tiếng Việt thành bốn vùng phương ngữ có những tác giả sau: + Nguyễn Kim Thản chia phương ngữ Việt thành phương ngữ Bắc (Bắc Bộ và một phần Thanh Hóa), phương ngữ Trung Bắc (phía nam Thanh Hóa đến Bình Trị Thiên), phương ngữ Trung Nam (từ Quảng Nam đến Phú Khánh), phương ngữ Nam (từ Thuận Hải trở vào). + Nguyễn Văn Ái chia phương ngữ Việt thành phương ngữ Bắc Bộ (từ các tỉnh biên giới phía Bắc đến Thanh Hóa), phương ngữ Bắc Trung bộ (từ Quảng Nam – Đà Nẵng đến Thuận Hải), phương ngữ Nam Bộ (từ Đồng Nai, Sông Bé đến mũi Cà Mau). - Nguyễn Bạt Tụy chia phương ngữ Việt thành năm vùng phương ngữ: phương ngữ Bắc (Bắc bộ và Thanh Hóa), phương ngữ Trung (từ Nghệ An đến Quảng Trị), 9 phương ngữ Trung giữa (từ Thừa Thiên đến Quảng Ngãi), phương ngữ Trung dưới (từ Bình Định đến Bình Tuy), phương ngữ Nam (từ Bình Tuy trở vào). Trong luận văn này, chúng tôi thống nhất với cách phân chia các vùng phương ngữ tiếng Việt của Nguyễn Văn Ái. Theo đó, vùng phương ngữ Nam Bộ được xác định trùng với vùng địa lí tự nhiên Nam Bộ, tức là từ Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước đến mũi Cà Mau. 1.1.3Phương ngữ Nam Bộ 1.1.3.1Xác định vùng phương ngữ Nam Bộ Vùng phương ngữ Nam bộ được các nhà nghiên cứu quan tâm từ rất sớm. Tuy nhiên, mỗi nhà nghiên cứu lại có một cách xác định khác nhau. Hoàng Phê gọi tiếng Việt xuất hiện ở vùng địa lí từ Thuận Hải trở vào là tiếng miền Nam, nơi có Sài Gòn (TP HCM) là trung tâm [57]; Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Văn Tu gọi là phương ngữ Nam [77;51-69]. Tiếng Việt ở vùng địa lí từ Bình Tuy trở vào được Nguyễn Bạt Tụy gọi là phương ngữ Nam [93]. Tiếng Việt ở vùng địa lí trải dài từ đèo Hải Vân đến cực Nam Tổ quốc, Hoàng Thị Châu gọi là phương ngữ Nam [8;90]. Tiếng Việt ở vùng địa lí từ Quảng Nam trở vào, Cao Xuân Hạo cho là phương ngữ miền Nam [24;120-121]. Từ TK XVII, xuất hiện tiếng Việt ở địa phương Nam Bộ - vùng địa lí từ Đồng Nai, Sông Bé đến mũi Cà Mau. Tiếng Việt ở vùng này được Nguyễn Văn Ái [1;10], Trần Thị Ngọc Lang [33;7], Hồ Lê [38;229-230], Bùi Khánh Thế [82;77], Cao Xuân Hạo [24;120] gọi là phương ngữ Nam Bộ. Như vậy, không gian địa lí của tiếng miền Nam, phương ngữ Nam được các tác giả xác định khá rộng. Không gian địa lí của phương ngữ Nam Bộ được xác định hẹp hơn. Ở đây chúng tôi chọn cách xác định vùng phương ngữ Nam Bộ như sau: Ranh giới phương ngữ Nam bộ trùng với ranh giới địa lí tự nhiên Nam Bộ, tức là từ Bình Dương, Bình Phước đến Cà Mau. 1.1.3.2 Đặc điểm phương ngữ Nam Bộ Bất cứ một phương ngữ nào cũng có những nét đặc trưng về ngữ âm, từ vựng – ngữ nghĩa, ngữ pháp so với các phương ngữ khác. “Một phương ngữ được xác định bằng một tập hợp những đặc trưng ở nhiều mặt: ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng – ngữ 10 nghĩa đối lập với phương ngữ khác” [8;90]. Phương ngữ Nam Bộ cũng không nằm ngoài quy luật trên. Trước hết, Nam Bộ là nơi có điều kiện giao thông thuận tiện. Đồng thời cũng là nơi phát triển kinh tế hàng hóa sớm hơn các vùng khác của đất nước nên phương ngữ Nam Bộ đã có ảnh hưởng trên một vùng dân cư rộng lớn. “Một đặc điểm nổi bật của phương ngữ Nam Bộ là tính thống nhất cao của nó trên một vùng lãnh thổ rộng lớn” [82;77]. Sau đây, chúng tôi sẽ trình bày một số đặc điểm chính của phương ngữ Nam Bộ về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp. - Về ngữ âm: + Thanh điệu: Phương ngữ Nam Bộ chỉ sử dụng năm thanh điệu: ngang, huyền, hỏi, sắc, nặng (Phương ngữ Nam Bộ không phân biệt thanh hỏi và thanh ngã). + Phụ âm đầu: Phương ngữ Nam Bộ chỉ có 19 phụ âm, không có 3 phụ âm cong lư ỡi /ş, + Vần: Trong phương ngữ Nam Bộ, âm đệm /- w-/ hoặc bị lược bỏ (luyến  liến) hoặc được nhấn mạnh thành âm chính (loan  lon). Các nguyên âm đôi /ie, , uo/ khi đi với /- m, -p / cuối thì mất yếu tố sau (tiêm  tim, lượm  lựm). Các âm đơn / / ɔ, đứng trước phụ âm cuối /-p, -m / đều thành /o/ (nom, nơm  nôm). Âm chính /ă/ trong vần “ay” đọc thành “ai” (tay  tai). + Phụ âm cuối: Người Nam Bộ phát âm không phân biệt /-n/ với /-/ (tan – tang), /- t/ với /-k/ (tắc – tắt). - Về từ vựng – ngữ nghĩa: Ngoài những khác biệt về ngữ âm, ở Nam Bộ còn có rất nhiều từ ngữ mang sắc thái địa phương dùng để định danh cây cỏ, cầm thú, hoa trái; công cụ, phương tiện sinh hoạt và lao động; địa hình; từ xưng hô; từ chỉ không gian, thời gian; từ ngữ liên quan đến sông nước; tiếng lóng, từ mượn gốc khác như Khmer, Hoa, Pháp, Anh… Chúng tôi sẽ trình bày cụ thể hơn về đặc điểm từ vựng – ngữ nghĩa của phương ngữ Nam Bộ ở chương sau. 11 - Về ngữ pháp: Giữa ngôn ngữ toàn dân và phương ngữ về cơ bản không khác nhau nhiều. Chính sự thống nhất về ngữ pháp giữa các phương ngữ với nhau và với ngôn ngữ toàn dân nên tiếng Việt mới đảm bảo được tính thống nhất trên toàn quốc. “Khi việc miêu tả chỉ thu hẹp vào ngữ pháp mà thôi thì sự khác nhau giữa phương ngữ với ngôn ngữ toàn dân thường không có gì quan trọng” [8;21]. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là không có trường hợp khác nhau. Trong phương ngữ Nam Bộ, có một số đặc điểm ngữ pháp khác với ngôn ngữ toàn dân. Chính những đặc điểm này tạo nên nét riêng của phương ngữ Nam Bộ. Phần này cũng sẽ được chúng tôi trình bày cụ thể ở những chương sau. 1.1.3.3 Sự tiếp xúc ngôn ngữ ở Nam Bộ Trong một xã hội có nhiều cộng đồng người nói nhiều ngôn ngữ khác nhau cùng sinh sống thì sự tiếp xúc giữa các ngôn ngữ là điều tất yếu. Khi tiếp xúc sẽ có hiện tượng giao thoa, vay mượn thậm chí là đồng hóa một số yếu tố giữa các ngôn ngữ. Trong tiến trình khai phá vùng lãnh thổ phía Nam của Tổ quốc, người Việt đã mang theo mang theo nét văn hóa, vốn ngôn ngữ từ cội nguồn phía Bắc đến với vùng đất mới. Do đó, trong phương ngữ Nam Bộ, dấu vết của tiếng nói cội nguồn vẫn còn. ẳng h Ch bị phát âm lẫn lộn thành /s, z, t/. Ngoài lưu dân từ Bắc Bộ, Trung Bộ, vùng đất Nam Bộ còn là nơi quần cư của các dân tộc anh em khác như: Khmer, Chăm, Hoa…Vậy nên, trong phương ngữ Nam Bộ có các yếu tố vay mượn ngôn ngữ của các dân tộc này là điều dễ hiểu. Khảo sát phương ngữ Nam Bộ, ta sẽ bắt gặp nhiều yếu tố văn hóa thú vị thể hiện qua cách vay mượn ngôn ngữ của người dân Nam Bộ. 1.2 Văn học dân gian Nam Bộ Văn học dân gian Nam Bộ có đầy đủ các loại thể như văn học dân gian các vùng miền khác trên cả nước: thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, câu đố, tục ngữ, ca dao dân ca. Để thực hiện đề tài, luận văn chỉ tập trung khảo sát sự thể hiện của phương ngữ Nam Bộ ở các thể loại truyện cười, tục ngữ, ca dao dân ca. 12 Có thể thấy trong các thể loại mà chúng tôi chọn để khảo sát, ca dao dân ca là bộ phận có số lượng nhiều nhất. Do vậy, chúng tôi thấy cần thiết phải trình bày một số nét về ca dao, dân ca và ca dao, dân ca Nam Bộ. Trong văn học dân gian, ca dao, dân ca là bộ phận được sáng tác bằng các thể thơ dân tộc kết hợp chặt chẽ với các làn điệu âm nhạc để diễn đạt những khía cạnh khác nhau trong cảm nghĩ của con người về quê hương đất nước, lao động sản xuất, tình duyên, gia đình, quan hệ bằng hữu và các vấn đề xã hội khác. Về đại thể, ca dao, dân ca có thể chia thành ba bộ phận: + Thơ ca nghi lễ: Đây là thể loại sáng tác dân gian có nguồn gốc rất cổ, nảy sinh trong quá trình lao động, sinh hoạt, gắn chặt với thế giới quan của người nguyên thủy cũng như ý thức tôn giáo ở các giai đoạn sau. Thơ ca nghi lễ khi diễn xướng sẽ kèm theo các hành động nghi lễ. Loại thơ ca này phản ánh kinh nghiệm lao động, biểu thị những khát vọng, ước mơ của nhân dân cũng như tài nghệ sử dụng tiếng mẹ đẻ. Ở Nam Bộ, loại thơ ca này chưa được sưu tầm nhiều. Trong ngữ liệu khảo sát của chúng tôi chỉ có 3 bài thơ ca nghi lễ nằm trong tuyển tập văn học dân gian Sóc Trăng. + Dân ca lao động: Đây là những bài ca được hò hát trong lao động với điều kiện là tiết tấu, nhịp điệu, sắc thái biểu cảm, tốc độ, cường độ và cách thức của nó phải gắn chặt với các quá trình của một công việc cụ thể nào đó. Hò lao động là hình thức chủ yếu của thể loại này. + Ca dao – dân ca trữ tình: Đây là những bài ca mà nội dung và hình thức diễn xướng của nó không nhằm mục đích nghi lễ và không kèm những động tác có tính chất nghi lễ. Những bài ca này vẫn được hát trong lao động, nhưng nội dung cơ bản của nó là nhằm bộc lộ tâm tư tình cảm của nhân vật trữ tình. Văn học dân gian sưu tầm ở Nam Bộ thống nhất với văn học dân gian ở các miền khác của đất nước. Tuy nhiên, văn học dân gian Nam Bộ là bộ phận sáng tác rất trẻ của dân tộc. Nó gắn liền với quá trình khai khẩn vùng đất Nam Bộ. Vì vậy, những yếu tố đặc trưng ở vùng đất Nam Bộ (điều kiện tự nhiên, văn hóa, con người….) đã ảnh hưởng đến ngôn ngữ văn học dân gian Nam Bộ.Việc tìm hiểu màu sắc địa 13 phương trong văn học dân gian sẽ chỉ ra nét độc đáo, sự đóng góp riêng của từng địa phương. Văn học dân gian là tiếng nói của nhân dân lao động, thế nên bản thân nó chứa đựng những đặc điểm sử dụng ngôn ngữ của nhân dân. Việc tìm hiểu phương ngữ trong văn học dân gian của một vùng miền không chỉ giúp ta nhận thức sâu hơn về ngôn ngữ của vùng miền mà còn giúp ta thấy được nét đặc trưng, cái hay, cái đẹp của văn học dân gian vùng miền ấy. 1.3.Văn hóa Nam Bộ 1.3.1.Văn hóa và các thành tố của văn hóa - Khái niệm văn hóa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội của mình” [84;25]. - Theo Trần Ngọc Thêm [84;28-29], văn hóa gồm bố thành tố sau: văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức cộng đồng, văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên (tận dụng và đối phó với môi trường) và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội. - “Văn hóa vùng là một phạm vi, một khu vực địa lí – văn hóa có đặc điểm và bản sắc riêng” [81;5]. Như vậy, Nam bộ là một vùng văn hóa. 1.3.2 Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ Những khám phá khảo cổ học cho chúng ta biết từ xa xưa, ít nhất là cách nay từ 2500 đến 4000 năm, con người đã có mặt trên vùng đất Nam Bộ. Họ có mặt đầu tiên ở vùng phù sa cổ (tức là vùng Đông Nam Bộ) ngày nay, sau đó mới tiếp tục hành trình xuống vùng phù sa mới (tức là vùng Tây Nam Bộ ngày nay). Chủ nhân đầu tiên của vùng đất Nam Bộ là người Phù Nam, người Chân Lạp. Các nhà nghiên cứu cho biết: “Chủ nhân ban đầu của vùng đất Nam Bộ là người Phù Nam mà sách Tấn thư của Trung Hoa mô tả là “đen và xấu xí, tóc quăn, ở trần, đi đất, tính tình mộc mạc, thẳng thắn, không trộm cắp” với hoạt động nông nghiệp và giao thông đường thủy rất phát triển. Rồi đến TK VI thì Phù Nam nông nghiệp đã bị người Chân Lạp dương tính hơn thôn tính” [81;603]. 14 Từ TK XVII trở đi, Nam Bộ xuất hiện người Việt. Người Việt là những lưu dân từ miền Bắc, miền Trung vào. Đây là những người bần cùng hoặc muốn tránh cuộc phân tranh Trịnh – Nguyễn lúc bấy giờ mà vào Nam. Họ ra đi để kiếm sống và cũng mong được an thân. Mặt khác, có một lớp nông dân nghèo cũng tiến vào Nam theo chính sách đinh điền của nhà Nguyễn. “Trong sự nghiệp 300 năm mở mang, khai phá vùng lãnh thổ phía Nam của đất nước, lớp lớp thế hệ người Việt từ vùng đất sinh tụ lâu đời của mình là vùng châu thổ sông Hồng, sông Mã và dải đất ven biển miền Trung đã nối tiếp nhau đến lập nghiệp ngày càng đông tại địa bàn Nam Bộ ngày nay” [38;3]. Ngoài ra, thời kì này còn có lính tráng, các tội đồ bị triều đình bắt buộc vào Nam lập đồn điền, bảo vệ biên cương phía Nam của đất nước. Những người dân nghèo này chinh phục vùng đất phía Nam bằng bàn tay, bằng khối óc, bằng sự cần cù, chăm chỉ: “Nam Kì được chinh phục không phải bằng thanh gươm, vó ngựa mỗi ngày đi hàng chục dặm mà bằng lưỡi cày, đôi trâu đi từng bước một” [50;60]. TK XVII, XVIII, người Hoa từ các tỉnh Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam (Trung Quốc) dắt díu nhau vào khu vực đồng bằng sông Cửu Long lập nghiệp. Cả người Pháp, Anh, Mã Lai, Ấn Độ cũng có mặt ở Nam Bộ. TK XIX, lưu dân Việt có mặt ngày càng đông ở phía Nam sông Hậu. Họ đã chinh phục vùng đất mới, biến một vùng hoang dại thành vùng đất trù phú, cây trái sum sê. Tóm lại, Nam Bộ là nơi quần cư của nhiều dân tộc anh em: người Việt, người Hoa, người Chăm, người Khmer…Lớp dân cư đông nhất là người Việt. Nơi tập trung đông nhất của họ là những vùng đất dễ làm, có nước ngọt, thuận lợi cho việc trồng lúa nước. Người Khmer là dân tộc đông thứ hai ở Nam Bộ. Họ thường định cư, canh tác trên những vùng đất cao, màu mỡ. Các dân tộc lập làng, dựng nhà cạnh nhau, đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau trong cuộc sống . Tuy nhiên, dân tộc nào theo phong tục của dân tộc đó, tuy có ảnh hưởng lẫn nhau nhưng không nhiều. 1.3.3 Đặc trưng văn hóa Nam Bộ Khi tiến vào vùng đất phía Nam, người Việt đã mang theo mình một nền văn hóa Việt. Trước điều kiện sống mới, con người đã có những cách ứng xử mới cho
- Xem thêm -