Phóng sự thống nhất trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân

  • Số trang: 80 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 27 |
  • Lượt tải: 1
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Quan niệm về đề tài Nguyễn Tuân là một nhà văn đa tài, ông thành công ở nhiều thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự, phê bình văn học và đặc biệt thành công ở thể tuỳ bút. Ở đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu về phóng sự của Nguyễn Tuân để thấy được vị trí, giá trị và những sáng tạo độc đáo của Nguyễn Tuân ở mảng sáng tác này. Qua đề tài này, chúng tôi muốn khẳng định phóng sự không tách rời mà thống nhất trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân; khẳng định hai phóng sự của ông là những thiên phóng sự thực thụ xét trên phương diện nội dung cũng như hình thức nghệ thuật. Do chưa có công trình nghiên cứu mang tính chất chuyên luận nào về phóng sự Nguyễn Tuân nên chúng tôi gặp không ít khó khăn khi thực hiện đề tài này. Tác giả luận văn cũng không hy vọng trong khuôn khổ luận văn này có thể nói được thấu triệt những giá trị cũng như phát hiện được hết những sáng tạo độc đáo của phóng sự Nguyễn Tuân. Rất mong thầy cô và các bạn đồng nghiệp cùng quan tâm để việc nghiên cứu phóng sự Nguyễn Tuân ngày càng hoàn thiện hơn, trả lại đúng vị trí xứng đáng cho phóng sự của tác giả này. 2. Lý do chọn đề tài 2.1. Vài nét về tiểu sử Nguyễn Tuân Nhà văn Nguyễn Tuân sinh ngày 10 tháng 7 năm 1910 tại phố Hàng Bạc- Hà Nội. Quê ông ở làng Mọc, xã Nhân Mục nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Thân sinh ông là cụ Nguyễn An Lan, thường gọi là cụ Tú Lan - một nhà nho tài hoa bất đắc chí và có ảnh hưởng lớn đến cá tính Nguyễn Tuân. Nguyễn Tuân học hết bậc thành chung (tương đương phổ thông cơ sở) thì bị đuổi học vì tham gia bãi khoá phản đối một số giáo viên người Pháp nói xấu người Việt Nam, lúc đó là vào năm 1 1929. Sau đó ông cùng mấy người bạn quá cảnh sang Thái Lan thì bị bắt đưa về Hà Nội rồi bị tù giam ở Thanh Hoá (năm 1930). Năm 1941 ông lại bị bắt và quản thúc ở trại tập trung Vụ Bản - Nho Quan - Ninh Bình vì có quan hệ với một số phần tử chính trị chống đối chính quyền thực dân Pháp. Ông bắt đầu viết báo, viết văn từ những năm 1930, 1931 nhưng mãi đến khoảng 1938, 1939 mới thành danh với tập tuỳ bút Một chuyến đi và tập truyện ngắn Vang bóng một thời. Sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám chủ yếu xoay quanh ba đề tài chính: giang hồ xê dịch (còn gọi là chủ nghĩa xê dịch) - đi không mục đích, đi để thay đổi thực đơn cho giác quan; vang bóng một thời dựng lại những vẻ đẹp thời phong kiến xưa mà giờ chỉ còn vang bóng; đời sống trụy lạc - rượu, thuốc phiện, ả đào. Sau Cách mạng tháng Tám, vốn có tinh thần yêu nước thiết tha, Nguyễn Tuân hăng hái tuyên bố “lột xác” và tham gia tích cực vào hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cũng như công cuộc kiến thiết đất nước. Ông đi nhiều, viết nhiều, ca ngợi vẻ đẹp đất nước con người Việt Nam trong xây dựng và chiến đấu. Nguyễn Tuân là nhà văn có phong cách độc đáo, có nhiều đóng góp cho nền văn học nước nhà. Nhà văn Nguyễn Minh Châu coi ông là một cái định nghĩa rất chuẩn về người nghệ sĩ. Ông cũng là tấm gương lao động nghệ thuật nghiêm túc và đầy khổ hạnh. Ông sáng tác không ngừng nghỉ cho đến khi qua đời - ngày 28 tháng 7 năm 1987. Ông xứng đáng được coi là một cây bút lớn, một nhà văn hoá lớn và được Nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học đợt I (năm 1996). 2.2. Lý do chọn đề tài Trong số nhà văn Việt Nam hiện đại, Nguyễn Tuân là một hiện tượng văn học phức tạp. Sự nghiệp sáng tác của ông đa dạng về thể 2 loại (tiểu thuyết, truyện ngắn, tuỳ bút, bút kí, phóng sự…) và không thuần nhất về quan điểm nghệ thuật. Giới nghiên cứu văn học, cho đến nay, chưa chú ý đến phóng sự của Nguyễn Tuân mà chỉ chủ yếu tập trung vào nghiên cứu những tuỳ bút, truyện ngắn, tiểu thuyết của tác giả này. Như thế không có nghĩa là phóng sự của ông kém cỏi về chất lượng nội dung hay nghệ thuật. Mảng phóng sự vẫn nằm trong sự thống nhất với phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân. Nếu có chăng chỉ là số lượng phóng sự của ông quá ít ỏi, vả lại đặt phóng sự bên các tác phẩm nổi tiếng khác của ông như tuỳ bút, bút ký, truyện ngắn, tiểu thuyết thì nó bị chìm đi. Nếu đặt phóng sự Nguyễn Tuân bên cạnh các phóng sự của Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Tam Lang, Trọng Lang… và xem xét đánh giá một cách công bằng, khách quan chúng ta sẽ thấy phóng sự của Nguyễn Tuân không thua kém về nội dung xã hội cũng như chất lượng nghệ thuật, nếu như không muốn nói là ông có những đóng góp không thể phủ nhận cho thể loại phóng sự Việt Nam giai đoạn 1930- 1945. Đó chính là vấn đề mà chúng tôi, qua đề tài này, muốn làm rõ để chúng ta có cái nhìn đầy đủ và công bằng hơn về sự nghiệp của Nguyễn Tuân. Với những lý do trên, chúng tôi cho rằng nghiên cứu về phóng sự của Nguyễn Tuân có ý nghĩa khoa học và thực tiễn không nhỏ: * Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu phóng sự Nguyễn Tuân góp phần soi sáng, bổ sung thêm một bộ phận không thể bỏ qua trong sự nghiệp sáng tác Nguyễn Tuân, đồng thời giúp hiểu rõ thêm quan điểm và phong cách nghệ thuật của ông. Đây là một nhà văn thống nhất về phong cách nhưng quan điểm nghệ thuật thì rất phức tạp. Vả lại, việc nghiên cứu này còn góp phần nhất định vào việc nghiên cứu, đánh giá thành tựu phóng sự Việt Nam giai đoạn 1930-1945 nói riêng và lịch sử phát triển thể loại phóng sự nói chung ở Việt Nam. Sở dĩ nói như vậy là vì, trong chừng mực nào đó, Nguyễn Tuân đã mở rộng phạm vi phản ánh cho phóng 3 sự, đem đến những khả năng và phương thức phản ánh mới mẻ, độc đáo cho thể loại này. Phóng sự của Nguyễn Tuân cho chúng ta thấy phóng sự không chỉ bó hẹp ở việc phản ánh những hiện thực nhỡn tiền mà còn phản ánh một cách hấp dẫn những bi kịch trong thế giới tinh thần con người; thể loại này vốn đòi hỏi tôn trọng hiện thực khách quan song dưới ngòi bút Nguyễn Tuân cái Tôi chủ quan của người nghệ sĩ vẫn không hề bị yếu tố khách quan lấn lướt… * Ý nghĩa thực tiễn: Từ góc độ thực tiễn, nghiên cứu phóng sự của Nguyễn Tuân giúp cho việc nghiên cứu và giảng dạy Nguyễn Tuân ngày càng toàn diện hơn. Chúng ta thấy được sự phong phú về mặt thể loại cũng như đa dạng về phong cách nghệ thuật cùng những khía cạnh tư tưởng của một người nghệ sĩ tài hoa và đầy cá tính Nguyễn Tuân. Đồng thời qua nghiên cứu phóng sự của ông, chúng ta sẽ thấy được nội dung xã hội độc đáo cùng phong cách riêng của những phóng sự này. Về đại thể, có thể nói đây là những phóng sự về bi kịch tinh thần của xã hội giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 1945 mang đậm chất chủ quan cá nhân của cái Tôi tác giả. Chúng ta có thể thấy phần nào hiện thực xã hội thực dân phong kiến cùng nhỡn quan tinh thần, nhỡn quan xã hội của nhà văn này. 3. Lịch sử vấn đề Nguyễn Tuân là một tác gia văn học lớn, sự nghiệp văn chương của ông được rất nhiều các nhà nghiên cứu văn học quan tâm nghiên cứu. Trước tiên phải kể đến Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh, người đã dày công nghiên cứu về Nguyễn Tuân một cách khá toàn diện và sâu sắc. Ông cung cấp cho độc giả một cái nhìn bao quát về Nguyễn Tuân từ thân thế, sự nghiệp đến quan điểm nghệ thuật, phong cách ngôn từ và thể loại… Tiếp đến là các giáo sư Phan Cự Đệ, Phong Lê, Trương Chính… mỗi người đều có những hướng nghiên cứu riêng và có giá trị khoa học cũng như giá trị thực tiễn sâu sắc. Tuy nhiên, cho đến nay, 4 vẫn chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về phóng sự Nguyễn Tuân. Có chăng chỉ là những nhận xét khái quát, những đánh giá về mặt nào đó trong các công trình nghiên cứu của một vài học giả, chưa đủ để làm nổi bật các đặc điểm phóng sự của Nguyễn Tuân cũng như chưa làm nổi bật được những đóng góp của ông ở lĩnh vực này. Qua khảo sát, chúng tôi thấy phóng sự Nguyễn Tuân được nhắc đến trong một số công trình nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Đăng Mạnh, Vũ Ngọc Phan, Hà Văn Đức…xin dẫn ra đây một số nhận xét về phóng sự Nguyễn Tuân của các học giả này: Vũ Ngọc Phan: “Ngọn đèn dầu lạc và Tàn đèn dầu lạc (Mai Lĩnh- Hà Nội, 1941) chỉ là một thiên phóng sự về thuốc phiện, chia làm hai quyển, mà đáng lý phải mang chung một nhan đề: Ngọn đèn dầu lạc. Đây là tâm trạng, là tình cảnh những người dưới quyền lực Nàng Tiên Nâu. Nào họp nhau để nói xấu người vắng mặt (Ngọn đèn dầu lạc, tr.29), nào tính ích kỷ phô bày một cách thản nhiên giữa một chỗ cực kỳ bẩn thỉu (Ngọn đèn dầu lạc, tr.51), nào sự dối trá, xa lánh đối với cả những người rất thân (Tàn đèn dầu lạc, tr.12), nào những cái vui buồn không chừng, phút đến rồi phút đi (Tàn đèn dầu lạc, tr.45 và 46), rồi là những cách bòn rút của kẻ đã nương nhờ cửa Phật mà vẫn không dứt tình được với ả phù dung. Đó là tất cả những tâm trạng và cảnh huống gây nên bởi ả phiền. Nguyễn Tuân viết thiên phóng sự này khá tài tình, nhưng cái giọng khinh bạc vẫn là cái giọng bao hàm cả mọi việc; người đọc thấy rõ ở đó sự linh hoạt, khác hẳn những thiên tuỳ bút lê thê của ông”. (Vũ Ngọc Phan - Nhà văn hiện đại, tập I, Nxb Khoa học Xã hội, Hà nội, 1989) Tác giả Hà Văn Đức cho rằng: “Hai thiên phóng sự Ngọn đèn dầu lạc và Tàn đèn dầu lạc viết về tình cảnh và tâm trạng của những người nghiện thuốc phiện. Tác giả đã lý giải những hành vi tâm địa 5 thấp hèn như nói xấu nhau, dối trá lừa lọc nhau, ích kỷ đến độ trắng trợn của những kẻ nghiện hút. Nguyễn Tuân miêu tả những cảnh huống và tâm trạng ấy một cách sinh động, với giọng văn tài hoa và khinh bạc vốn có của mình.” (Trích từ chương XXII - Văn học Việt Nam 1900-1945, Nxb Giáo dục, 1997) Phóng sự cũng nằm trong mảng đề tài về đời sống trụy lạc của Nguyễn Tuân, xin dẫn ra đây nhận xét của Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh về đề tài trụy lạc trong sáng tác Nguyễn Tuân, để trên cơ sở ấy chúng ta có thêm căn cứ để đánh giá phóng sự của ông: “Viết về đề tài truỵ lạc, thực ra không chỉ có Nguyễn Tuân. Nhưng Nguyễn Tuân viết không giống một cây bút nào khác. Dĩ nhiên ông không viết như những nhà văn hiện thực phê phán mô tả trụy lạc như là một tệ nạn xã hội. Nhưng ông cũng không viết như những cây bút tự nhiên chủ nghĩa, mượn cớ tả thực để gợi trí tò mò tục tĩu. Đồng thời cũng không thi vị hoá thuốc phiện, gái điếm như nhiều cây bút lãng mạn khác.[…] Điều Nguyễn Tuân muốn nói (LTT) không phải là bản thân sự trụy lạc mà là tâm trạng khủng hoảng cực độ của một thanh niên trí thức bất mãn với xã hội, muốn thoát ra khỏi gọng kìm của nó nhưng tự biết không sao thoát được, do không có lý tưởng cũng có, nhưng trước hết là do yếu hèn, bất lực. Anh ta lao vào hành lạc để tiêu sầu, lấy cái ồn ào của truy hoan để khuấy động một cách giả tạo những ngày tháng trống rỗng của mình.” (Nguyễn Đăng Mạnh - Những bài giảng về tác gia văn học Việt Nam hiện đại- Nxb Đại học Sư phạm, 2005) Nhìn chung đó là những nhận xét đánh giá khái quát xác đáng về mặt này, mặt kia, song chưa đủ để làm nổi bật hết các khía cạnh giá trị của phóng sự Nguyễn Tuân. Thực trạng này không phải là do chất lượng phóng sự của Nguyễn Tuân kém cỏi mà có lẽ là vì phóng sự bị chìm đi bên các tác phẩm nổi tiếng khác của ông. Đồng thời, một phần 6 là do quan điểm nhìn nhận văn học thời kỳ trước đây nặng về chủ nghĩa đề tài nên chúng ta chưa thực sự quan tâm đúng mức tới mảng sáng tác này của ông. 4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài Phạm vi nghiên cứu của đề tài là hai tập phóng sự duy nhất trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân được sáng tác trong giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 1945, đó là: + Ngọn đèn dầu lạc, Nxb Mai Lĩnh, 1939. Tập phóng sự này gồm 10 chương, 94 trang sách (khổ 14,3 x 20,3 cm). + Tàn đèn dầu lạc, Nxb Mai Lĩnh, 1941. Tập phóng sự này gồm 8 chương, 100 trang sách (khổ 14,3 x 20,3 cm). (Văn bản hai tập phóng sự mà chúng tôi sử dụng do nhà văn Vương Trí Nhàn cung cấp. Sách xuất bản khi Mặt trận Dân chủ Đông Dương đã chấm dứt. Chế độ kiểm duyệt sách báo của thực dân rất khắt khe. Nhiều câu văn, đoạn văn không liền mạch là do kiểm duyệt cắt bỏ, có khi cắt bỏ cả một trang, thậm chí cả chương sách). 5. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi kết hợp vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu: phương pháp phân tích tác phẩm, phương pháp phân loại - thống kê, phương pháp tiếp cận hệ thống… Nhưng phương pháp chủ yếu của luận văn này là so sánh văn học. So sánh phóng sự của Nguyễn Tuân với một số phóng sự của các tác giả khác cùng thời (Ngô Tất Tố, Tam Lang, Trọng Lang, Vũ Trọng Phụng…) nhằm khẳng định giá trị không thua kém cùng những sáng tạo độc đáo của phóng sự Nguyễn Tuân. 6. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần chính của luận văn gồm ba chương: 7 - Chương 1: Phóng sự thống nhất trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân. * Nguyễn Tuân bắt đầu nghề viết với tư cách một nhà báo. * Nguyễn Tuân đã từng viết theo cảm hứng hiện thực. * Phóng sự không nằm ngoài đề tài đời sống truỵ lạc của Nguyễn Tuân. - Chương 2: Ngọn đèn dầu lạc và Tàn đèn dầu lạc - những thiên phóng sự thực thụ. * Phóng sự của Nguyễn Tuân phản ánh một tệ nạn xã hội nhức nhối - nạn thuốc phiện. * Tư liệu phóng sự của Nguyễn Tuân phong phú, xác thực. * Nghệ thuật tiếp cận hiện thực trong phóng sự Nguyễn Tuân. - Chương 3 : Nét riêng của phóng sự Nguyễn Tuân. * Phóng sự Nguyễn Tuân thể hiện sự uyên bác hơn đời. * Phát hiện mới về nhân vật “ vang bóng một thời”. * Cảm giác dữ dội, thú vị trong phóng sự Nguyễn Tuân. 8 PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 PHÓNG SỰ THỐNG NHẤT TRONG SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN TUÂN Phóng sự của Nguyễn Tuân tuy số lượng ít ỏi nhưng nó không hề tách rời hay lạc lõng, mà thống nhất trong sự nghiệp sáng tác cũng như phong cách nghệ thuật của ông. Hoạt động nghệ thuật của Nguyễn Tuân rất phong phú và đa dạng. Ông không chỉ là nhà văn nổi tiếng với những thiên tuỳ bút, bút ký, truyện ngắn, tiểu thuyết đặc sắc mà còn là diễn viên kịch, diễn viên điện ảnh và đặc biệt, ông còn là một nhà báo với những thiên phóng sự độc đáo không thua kém gì phóng sự của các nhà phóng sự nổi tiếng cùng thời như Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Trọng Lang, Tam Lang…Có thể nói hai phóng sự Ngọn đèn dầu lạc (1939) và Tàn đèn dầu lạc (1941) của Nguyễn Tuân là những đóng góp không thể phủ nhận hay lãng quên của Nguyễn Tuân cho thể loại phóng sự ở Việt Nam giai đoạn 19301945. Sở dĩ nói phóng sự thống nhất trong sự nghiệp của Nguyễn Tuân bởi vì Nguyễn Tuân bắt đầu bước vào nghề viết với tư cách một nhà báo mà “phóng sự là đứa con đầu của nghề báo” (Vũ Ngọc Phan). Thứ đến là đề tài mà phóng sự của ông đề cập không nằm ngoài đề tài trụy lạc - một trong ba đề tài lớn của Nguyễn Tuân trước cách mạng tháng Tám 1945. Đồng thời phóng sự cũng không nằm ngoài cảm hứng hiện thực (Nguyễn Tuân đã từng viết theo cảm hứng hiện thực, điều này sẽ được nói rõ ở phần sau) cũng như phong cách nghệ thuật của ông. Những điều này càng khẳng định việc nghiên cứu phóng sự của tác giả này là cần thiết, qua đó, có cái nhìn đầy đủ hơn về sự nghiệp sáng tác, tư tưởng nghệ thuật và phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân. 9 1. Nguyễn Tuân bắt đầu sự nghiệp viết văn với tư cách một nhà báo Nguyễn Tuân bắt đầu vào nghề viết từ khoảng đầu những năm ba mươi của thế kỷ XX, sau khi ra tù, với tư cách một nhà báo. Ông vừa soạn những bản tin ngắn cho tờ Trung Bắc tân văn vừa gửi đăng một số bài thơ, truyện ngắn, phóng sự trên các báo Đông Tây, An Nam tạp chí, Tiểu thuyết thứ bảy …với các bút danh : Ngột Lôi Quật, Thanh Hà, Nhất Lang, Ân Ngũ Tuyên, Tuân, Nguyễn Tuân, Tuấn Thừa Sắc v.v…Ông bắt đầu sống với ngòi bút từ năm 1937 và được độc giả chú ý khi tập du ký Một chuyến đi được đăng báo năm 1938 ( xuất bản thành sách năm 1941). Hai phóng sự Ngọn đèn dầu lạc (1939) và Tàn đèn dầu lạc (1941) là những sáng tác có giá trị của Nguyễn Tuân ở quãng đời làm báo của mình. Về sau, vì nhiều lí do, ông không viết phóng sự nữa, chuyển hẳn sang sáng tác văn học và đặc biệt thành công ở thể tuỳ bút- một thể loại rất gần gũi với phóng sự. Vậy tại sao hai phóng sự chỉ xuất hiện đột xuất trong hành trình sáng tác của ông, sau đó, Nguyễn Tuân không viết phóng sự nữa? Hãy bắt đầu từ việc so sánh tỉ lệ phóng sự trong hành trình sáng tác và danh mục tác phẩm của ông để tìm lời giải đáp. * Giai đoạn sáng tác trước Cách mạng tháng Tám 1945: - Một vụ bắt rượu lậu (truyện ngắn), Đông Dương tạp chí, số 29, ngày 27- 11- 1937. - Một chuyến đi (du ký), đăng báo năm 1938, Tân Dân, Hà Nội xuất bản thành sách năm 1941. - Vang bóng một thời ( tập truyện ngắn), đăng báo năm 1939, Tân Dân, Hà Nội xuất bản thành sách năm 1940. - Ngọn đèn dầu lạc (phóng sự), Mai Lĩnh, Hà Nội, 1939. - Thiếu quê hương (tiểu thuyết), đăng báo năm 1940, Anh Hoa, Hà Nội, xuất bản năm 1943. - Xác ngọc lam (truyện ngắn), Tạp chí Thanh Nghị, 1943. 10 - Tàn đèn dầu lạc (phóng sự), Mai Lĩnh, Hà Nội, 1941. - Chiếc lư đồng mắt cua (tuỳ bút), Hàn Thuyên, Hà Nội, 1941. - Tuỳ bút I, Cộng sự, Hà Nội, 1941. - Tuỳ bút II, Lượm lúa vàng, Hà Nội, 1943. - Tóc chị Hoài (tuỳ bút), Lượm lúa vàng, Hà Nội, 1943. - Những đứa con hoang, Giai phẩm, Nxb Đời nay, Hà Nội, 1943. - Vô đề (sau đổi là Lột xác - truyện), Tạp chí Văn mới, 1945. - Nguyễn (tập truyện), Thời đại, Hà Nội, 1945. * Giai đoạn sáng tác sau Cách mạng tháng Tám 1945: - Chùa Đàn (truyện), Quốc văn, Hà Nội, 1945. - Đường vui (tuỳ bút), Hội văn nghệ Việt Nam, 1949. - Tình chiến dịch ( 1950). - Thắng càn (truyện), Văn nghệ, 1953. - Chú Giao làng Seo (sách Kim Đồng), 1953. - Bút ký đi thăm Trung Hoa , Văn nghệ, Hà Nội, 1955. - Tuỳ bút kháng chiến và hoà bình, Văn nghệ ( tập I, 1955; tập II, 1956). - Truyện một cái thuyền đất (sách Kim Đồng), 1958. - Sông Đà (tập tuỳ bút), Nxb Văn học, Hà Nội, 1960. - Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi (bút kí), Hội văn nghệ, Hà Nội, 1972. - Ký, Nxb Văn học, Hà Nội, 1976. - Tuyển tập Nguyễn Tuân (2 tập), Nxb Văn học, Hà Nội, 1981. - Chuyện nghề, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội, 1986. - Cảnh sắc và hương vị đất nước (tuỳ bút), Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội, 1986. 11 - Nguyễn Tuân toàn tập (2000). (Thư mục tác phẩm này được chúng tôi tham khảo trong cuốn: Tôn Thảo Miên (tuyển chọn và giới thiệu)- Nguyễn Tuân- về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, 2003, tr.31,32; Cuốn: Nguyễn Đăng Mạnh - Những bài giảng về tác gia văn học Việt Nam hiện đại, Nxb Đại học Sư phạm, 2005, tr.251) Nếu nhìn vào hành trình sáng tác và danh mục tác phẩm của Nguyễn Tuân, chúng ta thấy cả hai phóng sự của ông đều thuộc giai đoạn sáng tác trước Cách mạng tháng Tám 1945 và chiếm tỉ lệ rất ít ỏi. Chúng ta đều biết phóng sự không xa lạ với nghề báo. Có thể nói, bằng báo chí, phóng sự tìm được con đường nhanh nhất để đến với công chúng và tạo được dư luận rộng rãi, kịp thời mà không phải loại hình nào cũng có được. Báo chí đáp ứng được một trong những yêu cầu có tính đặc trưng của phóng sự- một thể loại phản ánh cuộc sống với yêu cầu hàng đầu là tính thời sự trực tiếp và đáp ứng một vấn đề cấp bách nào đó mà xã hội đang quan tâm. Sở dĩ sau hai phóng sự này, Nguyễn Tuân không viết phóng sự nữa có lẽ là vì ông nhận thấy “những sản phẩm về tinh thần mà căn cứ hẳn vào thời sự, nếu không thành đoảng vị thì là nhạt thếch, một khi nó không còn ở địa hạt thời sự nữa. Có ai nhắc tới một bài báo rất hay của hôm qua, hôm kia hoặc là năm vừa rồi đâu. Ấy, xưa nay những cái gì nảy mầm bén rễ trên thời thượng của một thời khắc đều có những số mệnh yểu như thế.” (chương I TĐDL). Ông chiêm nghiệm về số phận của một bài báo: “Nội tác phẩm trong nghề cầm bút, bạc nhất có nhẽ là những bài báo. Có hay tám vạn nghìn tư, qua tới ngày hôm sau chứ đừng nói chi đến năm sau là đã trở nên vô vị rồi. Ai nhắc tới làm gì.” (chương I - TĐDL). Mà như chúng ta đã biết hầu hết các phóng sự lúc bấy giờ đều đến với độc giả thông qua các trang báo. Có lẽ vì thế mà Nguyễn Tuân quay ra nghề viết văn. Bởi ông quan niệm: “Tôi muốn quay ra nghề viết văn. Thời gian có bao giờ làm già và chết được một cuốn tiểu thuyết hoặc 12 một vở kịch đâu, nếu truyện và kịch có một giá trị văn chương.” (chương I - TĐDL). Thực ra đấy cũng là khát vọng của những người nghệ sĩ chân chính, muốn khẳng định mình bằng những tác phẩm nghệ thuật có giá trị để đời, vượt thời gian. Đây cũng là một khía cạnh tư tưởng đáng trân trọng của Nguyễn Tuân, cho thấy cái cốt cách nghệ sĩ chân chính của ông, nhất là trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ. Mặt khác, một trong những nguyên tắc phản ánh của phóng sự là phải tôn trọng sự thật khách quan, hư cấu và tưởng tượng không phải là thế mạnh của thể loại này, trong khi, phong cách của Nguyễn Tuân là cái tôi chủ quan luôn đậm nét và cảm hứng chủ đạo là cảm hứng lãng mạn chi phối hầu hết các trang viết của ông. Một lý do nữa là sau Cách mạng tháng Tám 1945, Nguyễn Tuân tự nguyện đi theo cách mạng. Cuộc sống cách mạng tuy gian khổ nhưng Nguyễn được làm công dân một nước độc lập tự do, được giải phóng khỏi cái ngột ngạt tù túng cùng những câu thúc của chế độ cũ trước đây. Ông làm lành với xã hội, hoà mình vào cuộc sống của nhân dân. Có lẽ vì thế mà cảm hứng hiện thực phê phán trước đây được thay thế bằng cảm hứng lãng mạn. Ông tập trung ngòi bút của mình cho việc ca ngợi nhân dân, ca ngợi cách mạng trong công cuộc kháng chiến kiến quốc của dân tộc. Phải chăng đó là những lý do mà sau hai phóng sự này, Nguyễn Tuân không viết phóng sự nữa chăng? 2. Nguyễn Tuân đã từng viết theo cảm hứng hiện thực Sở dĩ phải nói điều này bởi vì hai phóng sự của Nguyễn Tuân đề cập đến một hiện thực rất nhỡn tiền ở xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945- đó là nạn thuốc phiện. Đồng thời, ông đã sử dụng bút pháp hiện thực làm chủ đạo khá thành công trong hai tác phẩm này. Nói chung, mọi người đều biết đến Nguyễn Tuân với tư cách một nhà văn lãng mạn với cá tính sáng tạo đặc sắc và độc đáo qua những tập truyện ngắn Vang bóng một thời (1940), tiểu thuyết Thiếu quê hương (1943)… Song thực tế, ông đã từng là nhà văn sáng tác theo 13 bút pháp hiện thực. Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh có những phát hiện thú vị: “Vào khoảng 1937 và đầu 1938, người ta thấy xuất hiện trên tờ Đông Dương tạp chí (do Nguyễn Giang tái bản) một loạt truyện ngắn của Nguyễn Tuân viết theo lối hiện thực trào phúng kiểu “xã hội ba đào ký” của Nguyễn Công Hoan. Một điều thú vị là trong số truyện ngắn này, có những nhân vật ưa thích của Nguyễn Tuân trong Vang bóng một thời sau này (những ông Tú, ông Ấm, ông Khoá…) bị đem ra chế riễu (Đánh mất ví; Đông phương là Đông phương, Tây phương là Tây phương …). Tiếng cười trào phúng của Nguyễn Tuân nói chung, thoải mái, hồn nhiên, đôi khi rất gần với tiếng cười dân gian (Một vụ bắt rượu lậu , Mười năm trời mới gặp cố nhân ). Có những truyện không có ý nghĩa gì sâu sắc lắm, nhưng cũng có nhiều truyện, xét về nội dung hiện thực và tính chiến đấu, không thua kém gì những truyện ngắn hay tiểu phẩm của Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố thời kỳ Mặt trận Dân chủ (Một vụ bắt rượu lậu, Thời sự). Thời sự phê phán bọn làm báo xỏ xiên, bịp bợm. Một vụ bắt rượu lậu đả kích vào bản chất tàn ác và thói nhũng nhiễu đục khoét dân đen của bọn Tây Đoan và bọn quan lại ngày trước. Những truyện ngắn trên không nói gì nhiều lắm về tài năng Nguyễn Tuân, nhưng giúp người đọc hiểu được một mặt của tư tưởng nghệ thuật của ông: ông sẽ không đi tiếp con đường của chủ nghĩa hiện thực phê phán nữa, nhưng cái nhìn hiện thực về mặt xã hội với tinh thần phê phán, sau này vẫn thể hiện trong nhiều tác phẩm của ông dù viết theo xu hướng cảm hứng nào” (Nguyễn Đăng Mạnh - Những bài giảng văn về tác gia văn học Việt Nam hiện đại, Nxb Đại học Sư phạm, 2005, tr.263). Hai phóng sự Ngọn đèn dầu lạc (1939) và Tàn đèn dầu lạc (1941) cũng không nằm ngoài mạch cảm hứng này của Nguyễn Tuân. Bằng vốn sống và sự trải nghiệm của chính bản thân mình những ngày “phóng túng hình hài”, “tự thiêu diệt” mình gần mười năm trong khói thuốc phiện, Nguyễn Tuân đã phơi bày chân thực và sống động nạn thuốc phiện đã trở nên nhức nhối trong xã hội lúc bấy giờ. Thế giới nghiện hiện lên đông đúc với đủ mọi 14 loại người, thuộc nhiều thành phần xã hội khác nhau. Chân dung các nhân vật cũng như đời sống tinh thần của họ, dưới ngòi bút Nguyễn Tuân hiện lên hết sức sinh động. Nói chung, nghiên cứu phóng sự của ông, chúng ta nhận thấy tuy chỉ viết hai tập phóng sự với dung lượng không nhiều, khoảng gần hai trăm trang sách, nhưng với những sáng tạo độc đáo cả trên phương diện nội dung cũng như phương thức phản ánh, Nguyễn Tuân đã đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của thể loại phóng sự Việt Nam giai đoạn 1930- 1945. Chính vì vậy càng không thể bỏ qua những phóng sự của Nguyễn Tuân khi nghiên cứu về nhà văn này. 3. Phóng sự của Nguyễn Tuân không nằm ngoài đề tài đời sống trụy lạc - một trong ba đề tài lớn của ông trước Cách mạng tháng Tám 1945 Nói phóng sự thống nhất trong sự nghiệp sáng tác Nguyễn Tuân, trước hết, là vì đề tài mà phóng sự Nguyễn Tuân đề cập thuộc một trong ba đề tài lớn của ông trước Cách mạng tháng Tám 1945. Đó là đề tài đời sống trụy lạc. Trước Cách mạng tháng Tám 1945, sáng tác của Nguyễn Tuân tập trung vào ba đề tài chính: giang hồ xê dịch, vẻ đẹp vang bóng một thời và đời sống trụy lạc. Đề tài giang hồ xê dịch in đậm dấu ấn trong một loạt tác phẩm: Một chuyến đi (1938), Tuỳ bút I (1941), Tuỳ bút II (1943), Thiếu quê hương (1943)… Nguyễn Tuân thể hiện đề tài này như là một phản ứng trước sự câu thúc, gò bó trong cuộc sống cũng như trong văn chương lúc bấy giờ. Con người có tâm hồn lãng mạn, phóng túng, tự do ấy lao vào giang hồ xê dịch để “thay thực đơn cho giác quan” - ông chủ trương “lấy sự hoàn toàn phát triển giác quan của mình làm lẽ chính cuộc sống”. Ông nâng chủ nghĩa xê dịch lên thành một triết lý sống. Với Nguyễn Tuân, đi là “hình thức tốt đẹp nhất của sự thoát ly”, thoát ly khỏi cái tủn mủn, ngột ngạt của cuộc sống hàng ngày. Quan niệm ấy phảng phất triết lý “hành động để hành động”, hành động cũng là một 15 cách thoát ly của Andre Gide. Nhưng “xê dịch” mãi cũng mệt mỏi chán chường, có lúc ông đã phủ nhận chính cái thuyết lý xê dịch của mình: “Không bao giờ người ta có thể nâng sự xê dịch lên đến thành một lý tưởng được”. Giáo sư Hà Minh Đức cho rằng: “Xét cho cùng thì chủ nghĩa xê dịch của Nguyễn Tuân là một hình thức thoát ly vào không gian, là một cách phản ứng lại cái môi trường xã hội, tù đọng, trì trệ, buồn tẻ, một cách phủ nhận thực tế xã hội thực dân nô lệ tủi nhục, khiến người dân mất nước sống giữa quê hương mà vẫn thấy xa lạ, vẫn cảm thấy “ thiếu quê hương”. Đề tài vẻ đẹp vang bóng một thời cũng là một trong những thành công lớn của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám 1945. Thất vọng trước cuộc sống hiện tại, Nguyễn tìm về với những cái đẹp của quá khứ mà giờ chỉ còn “vang bóng” với hi vọng tìm lại hơi ấm, niềm tin cho cuộc sống hiện tại đang buồn tẻ, tù đọng, trì trệ, tối tăm. Bởi ông quan niệm xã hội hiện đại với mối quan hệ kiểu con buôn, tiền trao cháo múc, không có chỗ cho Cái Đẹp tồn tại, thậm chí, nó giết chết Cái Đẹp. Tiêu biểu cho đề tài này là Tuỳ bút I (1941), Tuỳ bút II (1943) và đậm nét hơn cả là tập truyện ngắn Vang bóng một thời (1940). Ở đó, Nguyễn Tuân làm sống lại những nét đẹp xưa của thời phong kiến với những ông Nghè, ông Cử, ông Tú, ông Ấm … cùng lối sống nhàn tản và những thú chơi phong lưu, cầu kì. Sẽ rất nhầm nếu cho rằng Nguyễn Tuân là người đi theo chủ nghĩa phục cổ. Quay về với quá khứ không phải ông muốn khôi phục lại cái thời phong kiến đã suy tàn mà chỉ là muốn lưu giữ lại những cái Đẹp của một thời đã qua giờ chỉ còn vang bóng, xét cho cùng đó là một khía cạnh của chủ nghĩa lãng mạn lúc bấy giờ. Thực chất nó chính là thái độ bất mãn, phủ nhận, quay lưng lại cái thể chế xã hội thực dân phong kiến đương thời của số đông các nhà văn lãng mạn lúc bấy giờ, trong đó, có Nguyễn Tuân. Thái độ phủ nhận xã hội ấy còn dẫn Nguyễn Tuân tới con đường thoát li tiêu cực, lao vào cuộc sống trụy lạc với bàn đèn thuốc phiện, 16 tiếng hát ả đào như một con người hư hỏng. Sáng tác ở mảng đề tài truỵ lạc này, ngoài tuỳ bút Chiếc lư đồng mắt cua (1941), ông còn có hai tập phóng sự Ngọn đèn dầu lạc (1939) và Tàn đèn dầu lạc (1941). Đây là hai phóng sự duy nhất trong sự nghiệp sáng tác của ông viết về nạn thuốc phiện. Có thể nói các tác phẩm này đã ghi lại tâm trạng của chính Nguyễn Tuân những ngày “phóng túng hình hài”, “tự thiêu diệt mình” trong khói thuốc phiện . Ngày ấy là vào khoảng đầu những năm ba mươi của thế kỷ XX, khi ông vừa ra khỏi nhà lao tỉnh Thanh Hoá với tâm trạng “Ở tù về, tôi chỉ thèm chơi”, một năm giam cầm “đã tạc lên mặt tôi những nét chắc chắn của hoài nghi”. Còn gia đình thì nể sợ một ông con, một ông chồng “đại bất đắc chí”. Đó là lý do khiến ông lao vào cuộc sống trụy lạc như một con người hoàn toàn hư hỏng. Thực ra, viết về đề tài trụy lạc không chỉ có Nguyễn Tuân mà Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Đình Lạp, Thạch Lam ... đều có những phóng sự về đề tài này. Nhưng Nguyễn Tuân viết không giống một cây bút nào khác. Ông không viết như những nhà văn hiện thực phê phán mô tả trụy lạc như là một tệ nạn xã hội với thái độ phê phán trực tiếp, gay gắt quyết liệt, cũng không viết như những cây bút tự nhiên chủ nghĩa, mượn cớ tả thực để gợi trí tò mò tục tĩu. Nguyễn Tuân cũng không thi vị hoá thuốc phiện, gái điếm như nhiều cây bút lãng mạn khác. Hai phóng sự Ngọn đèn dầu lạc, Tàn đèn dầu lạc cùng với tuỳ bút Chiếc lư đồng mắt cua giống như lời thú tội về một quãng đời chơi bời, lêu lổng của chính tác giả, nhưng không hẳn là có sự ăn năn, hối hận sâu sắc vì nhân vật Tôi nhiều phen muốn làm lại cuộc đời nhưng không bao giờ thực hiện được. Nói cách khác, “viết về đề tài trụy lạc nhưng điều Nguyễn Tuân muốn nói không phải là bản thân sự trụy lạc mà là tâm trạng khủng hoảng cực độ của một thanh niên trí thức bất mãn sâu sắc với xã hội, muốn thoát ra khỏi gọng kìm của nó nhưng tự biết không sao thoát được, do không có lý tưởng cũng có, nhưng trước hết là do yếu hèn, bất lực. Anh ta lao vào hành lạc để tiêu sầu, lấy cái ồn ào của truy hoan để khuấy động một cách giả tạo những ngày tháng 17 trống rỗng của mình” (Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh, sđd). Chính đặc điểm này tạo nên sự độc đáo của phóng sự Nguyễn Tuân, đồng thời, trong chừng mực nào đó, cũng làm phong phú cho thể loại phóng sự Việt Nam nói chung, phóng sự giai đoạn 1930- 1945 nói riêng. Nói cách khác, Nguyễn Tuân đã góp vào thể loại phóng sự Việt Nam những thiên phóng sự về bi kịch tinh thần một thời đại. 18 CHƯƠNG 2 NGỌN ĐÈN DẦU LẠC VÀ TÀN ĐÈN DẦU LẠC – NHỮNG THIÊN PHÓNG SỰ THỰC THỤ Nói Ngọn đèn dầu lạc và Tàn đèn dầu lạc là những phóng sự thực thụ của Nguyễn Tuân bởi vì hai tác phẩm này của ông đáp ứng đầy đủ các đặc điểm, yêu cầu, chức năng của thể loại phóng sự. Thực ra, thể loại phóng sự ở nước ta mới xuất hiện vào khoảng đầu những năm ba mươi cùng với sự biến động lớn về kinh tế, chính trị, xã hội cũng như văn hóa tinh thần mà nguyên nhân chính là do công cuộc “khai hóa văn minh” của thực dân Pháp. Tác giả Lê Tràng Kiều cho rằng những người mở đầu cho nghề phóng sự ở nước ta là ba nhà văn họ Vũ: Tam Lang - Vũ Đình Chí, Tiêu Liêu - Vũ Bằng và người thứ ba là Thiên Hư - Vũ Trọng Phụng (Lê Tràng Kiều – Nhà văn tả thực mở đầu cho nghề phóng sự ở nước ta. Tác giả Nguyễn Ngọc Thiện tuyển chọn giới thiệu trong cuốn: Vũ Trọng Phụng về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, 2003, tr.316). Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, phóng sự là thể văn chuyên miêu tả những việc thật có tính thời sự xã hội. Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi có giải thích : “Phóng sự là một thể thuộc loại hình kí. Phóng sự ghi chép kịp thời những vụ, việc nhằm làm sáng tỏ trước công luận một sự kiện, một số vấn đề có liên quan đến hoạt động và số phận của một hoặc nhiều người và có ý nghĩa thời sự đối với một địa phương hay toàn xã hội. Mục đích của phóng sự là cung cấp cho công chúng những tri thức phong phú, đầy đủ, chính xác, để họ có thể nhận thức, đánh giá đúng người và việc mà họ đang quan tâm theo dõi. Vì thế, người viết phóng sự thường sử dụng những biện pháp nghiệp vụ báo chí như điều tra, phỏng vấn, đối thoại, ghi chép tại chỗ… Ngày nay họ còn sử dụng cả những phương tiện máy móc (máy ảnh, máy ghi âm, máy quay phim….) vào công việc này. Việc sử dụng một số các 19 phương tiện biểu đạt của văn học như các biện pháp tu từ, ngôn ngữ giàu hình ảnh, hướng vào thế giới bên trong (ở một mức độ nhất định) của nhân vật… khiến cho phóng sự vốn từ báo chí, có thể trở thành văn học, một số tác phẩm thuộc loại này thường được chấp nhận như là những tác phẩm văn học có giá trị” (tr.256,257). Nghiên cứu phóng sự Nguyễn Tuân chúng ta sẽ thấy nội dung phản ánh trong phóng sự của ông là nạn thuốc phiện đã thâm nhập vào đủ mọi thành phần xã hội, đủ mọi lứa tuổi, huỷ hoại nghiêm trọng thể xác và tinh thần con người, nó đã thực sự trở thành một nỗi nhức nhối đòi hỏi xã hội phải quan tâm giải quyết. Mục đích của tác giả khi phơi bày đủ mọi cảnh huống tâm trạng của các con nghiện là để thức tỉnh họ hoàn lương nếu không muốn trở thành phế nhân, cảnh báo chính quyền đương thời về lối sống sa đoạ đang trở lên báo động, không thể làm ngơ. Cũng như các phương thức biểu đạt trong phóng sự của ông đã đạt đến độ nhuần nhuyễn giữa văn phong báo chí và văn phong nghệ thuật… Tất cả đã chứng tỏ Ngọn đèn dầu lạc (viết tắt là NĐDL) và Tàn đèn dầu lạc (viết tắt là TĐDL) là những thiên phóng sự thực thụ, giá trị của nó không thua kém các phóng sự của các tác giả khác cùng thời. Có khác chăng, các tác giả phóng sự khác viết về những hiện thực nhỡn tiền của đời sống xã hội còn Nguyễn Tuân, thông qua thế giới nghiện, để viết về bi kịch tinh thần của giới trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng tháng Tám 1945. 1. Phóng sự của Nguyễn Tuân phản ánh một tệ nạn xã hội nhức nhối - nạn thuốc phiện Giai đoạn 1930- 1945, phóng sự phát triển rực rỡ cả về số lượng và chất lượng với hàng loạt các tên tuổi như Trọng Lang, Tam Lang, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, Nguyễn Đình Lạp, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân…(phóng sự phát triển mạnh nhất ở giai đoạn 1936- 1939, khi Phong trào Mặt trận Dân chủ thắng thế). Phóng sự thu hút chú ý của độc giả không chỉ bởi những vấn đề thời sự nóng hổi mà 20
- Xem thêm -