Phong cách nghệ thuật thơ huy cận qua lửa thiêng (la)

  • Số trang: 213 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 13 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

1 DẪN LUẬN 1. Lý do chọn đề tài 1.1. Nghiên cứu thơ Huy Cận tức là nghiên cứu một trong những gương mặt thơ lớn của thời đại, một trong những nhà văn hóa có đóng góp đáng kể cho sự nghiệp văn học, văn hóa dân tộc Việt Nam thế kỷ XX. Trên thi đàn Việt Nam vào những năm 1930-1945, từ phong trào Thơ mới đã xuất hiện những tài năng thơ, trong đó có Huy Cận, Xuân Diệu… Nhà phê bình văn học Hoài Thanh qua quyển Thi nhân Việt Nam đã nhận xét bước đầu về phong cách của các nhà thơ trẻ: “Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu.” [128, tr. 37] Dấu ấn phong cách thơ Huy Cận đã bắt đầu từ tập Lửa thiêng (ra đời năm 1940). Âm hưởng của tập thơ đã lan tỏa “một thời đại trong thi ca” (*tên tiểu luận của nhà phê bình Hoài Thanh, đăng trong Thi nhân Việt Nam) từ giữa thế kỷ XX đến nay. Ngày nay, từ thế kỷ XXI, với cái nhìn mới, rộng mở chúng ta càng có cơ hội nghiên cứu thấu đáo hơn phong cách thơ đặc sắc của Huy Cận trong giai đoạn sáng tác trước Cách Mạng Tháng Tám (đặc biệt, nghiên cứu dày công về tập Lửa thiêng). 1.2. Xã hội Việt Nam đang đổi mới, chuyển biến, hội nhập thế giới. Hoạt động văn hóa nói chung đang được rộng mở. Các hoạt động lý luận, phê bình văn học nghệ thuật mới của thế giới cũng được chúng ta nghiên cứu, gạn 2 lọc, tiếp thu trên tinh thần “học xưa vì nay”, “học ngoài vì trong”. Trong đó, có thể kể đến sự gạn lọc, tiếp thu, vận dụng ở lĩnh vực nghiên cứu văn học. Vì vậy, vấn đề nghiên cứu phong cách thơ Huy Cận trên cơ sở lý luận tổng hợp mới có ý nghĩa cấp thiết trong việc góp phần phục vụ sự nghiệp đổi mới, phát triển văn hóa, khoa học, giáo dục nước nhà. Từ lòng ngưỡng mộ, yêu quý thơ ca Huy Cận, đặc biệt là tập thơ Lửa thiêng (với những câu thơ từ lâu ám ảnh sâu sắc trong tâm thức người viết: Một chiếc linh hồn nhỏ: Mang mang thiên cổ sầu); thêm nữa, từ những vấn đề thú vị đặt ra ở trên trong bối cảnh mới, đã tạo động lực cho người viết suy nghĩ, xác định và chọn lựa đề tài nghiên cứu Phong cách nghệ thuật thơ Huy Cận qua Lửa thiêng. 2. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở vận dụng một số đặc điểm lý luận văn học phương Đông truyền thống và lý luận văn học phương Tây hiện đại quen thuộc, luận án cụ thể hóa công việc tìm hiểu, khám phá thêm một số khía cạnh thi pháp thơ, ngôn ngữ thơ đầy tính sáng tạo độc đáo của nhà thơ Huy Cận. Và, cũng nhằm làm nổi bật vấn đề nghiên cứu phong cách nghệ thuật đặc sắc của nhà thơ trong quá trình từ khi tập thơ ra đời, luận án tìm hiểu những ảnh hưởng và âm hưởng của Lửa thiêng trong thời đại, so sánh đôi nét biểu hiện giống, khác nhau giữa thơ Huy Cận và thơ Xuân Diệu với một số nhà thơ cùng thời hoặc xuất hiện ở giai đoạn sau không lâu. 3. Lịch sử vấn đề Tập thơ Lửa thiêng của Huy Cận ra mắt bạn đọc vào tháng 11, năm 1940 (nhà xuất bản Đời Nay của nhóm Tự Lực Văn Đoàn in ấn và phát hành, khoảng 3.000 cuốn). Tập thơ do họa sĩ Tô Ngọc Vân trình bày bìa với lời đề tựa của Xuân Diệu. Nhìn lại chặng đường dài 70 năm từ lúc Lửa thiêng ra đời đến nay, qua khảo sát nhiều bài viết về tập thơ, người viết nhận thấy Xuân 3 Diệu có thể được xếp là người đầu tiên có bài nhận xét, đánh giá, giới thiệu thơ Huy Cận với công chúng một cách bao quát và sớm nhất. Xuân Diệu cảm nhận tinh tế Lửa thiêng - “nỗi thê thiết của ngàn đời”, “lớp sầu dưới đáy hồn nhân thế”. Lửa thiêng mang “hồn xưa” xôn xao, đượm “một tấm lòng thương yêu không biết có tự đời nào, và đoạn thảm, hồi vui cùng nhuốm một màu vĩnh viễn”. Là bạn tri kỷ, tri âm của Huy Cận, ngay từ buổi đầu Lửa thiêng ra đời, ông đã “nghe”, đã “cảm” được “cảm giác không gian” và “cái sầu của vũ trụ” của Huy Cận: “…ta nghe xa vắng quanh mình; ta đứng trên thiên văn đài của linh hồn, nhìn cõi bát ngát; một cái buồn vời vợi dàn ra cho đến hư vô…” Sau Xuân Diệu, hai nhà phê bình văn học Hoài Thanh- Hoài Chân có bài nhận xét Lửa thiêng: “…Huy Cận có lẽ đã sống một cuộc đời rất bình thường, nhưng người luôn lắng nghe mình sống để ghi lấy cái nhịp nhàng lặng lẽ của thế giới bên trong…”, “Người đã gọi dậy cái hồn buồn của Đông Á, người đã khơi lại cái mạch sầu mấy nghìn năm vẫn ngấm ngầm trong cõi đất này”. Hai nhà phê bình cũng cho rằng hồn thơ Huy Cận “trong cuộc viễn du đã có lần nhác thấy cái xa thẳm của thời gian và không gian…”, với “con đường về quá khứ đi càng xa, càng cô tịch, tứ bề càng vắng lặng, mênh mông…” [128, tr. 164-165] Tâm trạng này, chính Chế Lan Viên qua một tứ thơ tương tự cũng đã bộc bạch một cách đau đáu về sự cô đơn trên nẻo đường riêng của thơ ông: Đường về thu trước xa lắm lắm Mà kẻ đi về chỉ một tôi. Theo dõi những diễn biến thơ ca trên thi đàn lúc bấy giờ, Lương An viết trên báo Tràng An, số 12, tháng 3 năm 1941, tỏ ra khá ưu ái khi nhận xét Lửa thiêng: 4 “Tập thơ Lửa thiêng là một tập thơ rất đáng chú ý về tình cảm cũng như về văn pháp. Không cần so sánh cũng đủ nhận thấy đó là một tập thơ hay và tác giả là một thi nhân có đặc tài. Trong cuộc xây đắp thi giới nước nhà, một tập thơ như thế là tất cả sự gắng công, và có lẽ là một công trình văn nghệ đáng chú ý nữa. Lửa thiêng ra đời, được hoan nghênh nhiệt liệt, cái đó không phải nghi ngờ gì nữa. Nhưng phần thưởng đích đáng nhất cho Huy Cận là tác phẩm của chàng sẽ được sống lâu.” Trái với sự ngợi ca của nhiều người dành cho thơ Huy Cận, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại đánh giá Lửa thiêng có phần khe khắt hơn. Ông nhận xét thơ tả cảnh của Huy Cận vẫn còn mang nét chung “cái cảm giác của loài người từ thiên cổ mà thi nhân bao lần ca ngợi”, “...Huy Cận nghệ sĩ ở chỗ đó và cũng thiếu cái đặc sắc của nhà thơ ở chỗ đó: ông đã không đem cái tâm hồn của riêng ông để hòa cùng vũ trụ…” Vũ Ngọc Phan cũng cho rằng thơ tả tình của Huy Cận không có những câu “nồng nàn, tha thiết, nóng nảy như thơ Xuân Diệu”, “không nhớ nhung, đắm đuối như thơ Lưu Trọng Lư”. Lời tình tự của Huy Cận “rất đẹp, rất êm đềm, nhưng thật không phải những lời tha thiết tự tâm can…” [101, tr. 417-419] Trong những thập niên 60, 70, và đặc biệt vào giữa đến cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam bắt đầu có những công trình nghiên cứu mới dành cho trào lưu văn học lãng mạn 1930-1945. Phong trào Thơ mới với tác phẩm của những nhà thơ tên tuổi như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê, Tế Hanh… được phân tích, đánh giá cởi mở hơn. Ngoài những bài viết hoặc tiểu luận nghiên cứu về Huy Cận của Nguyễn Xuân Nam, Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Đăng Mạnh, Mã Giang Lân…, một số chuyên luận của các tác giả Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Lê Đình Kỵ… 5 nghiên cứu sâu về Thơ mới đều đề cập và phân tích tập thơ Lửa thiêng của Huy Cận. Lửa thiêng không tách khỏi quỹ đạo chung của thơ ca lãng mạn giai đoạn này nhưng vẫn có những điểm riêng qua cảm nhận thời đại và quan niệm thẩm mỹ của Huy Cận. Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ nhận xét: “Quan điểm thẩm mỹ của các nhà thơ mới có nhiều điểm gặp gỡ với quan điểm nghệ thuật của các nhà văn lãng mạn phương Tây thế kỷ XIX. Nói chung đó là quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật”. Và, tuy quan điểm mỹ học của các nhà lãng mạn ở nước ta thực ra cũng chẳng có gì mới so với các nhà lãng mạn phương Tây nhưng nó vẫn có những nét riêng, mới, lạ của thơ ca lãng mạn Việt Nam giai đoạn này. Nét riêng này được thể hiện từ quan niệm thẩm mỹ của thơ Thế Lữ với cái tôi nghệ sĩ là “cây đàn muôn điệu”; Xuân Diệu với quan niệm thẩm mỹ hồn thơ là “những khúc nhạc thơm”, “khúc nhạc hường”; Huy Thông đi tìm giấc mộng anh hùng trong lịch sử; Lưu Trọng Lư “hướng cái nhìn vào một thế giới mơ màng”; còn “chàng Huy Cận ngày xưa hay sầu lắm”, lại đi vào vũ trụ trăng sao…” [25, tr. 53] Khảo sát phong trào Thơ mới như hệ quy chiếu từ thực tại xã hội đến quan niệm sáng tác, nhà nghiên cứu Hà Minh Đức nêu lên một số nội dung, một số đề tài được tìm thấy trong thơ mới: “cái tôi” cô đơn; tình yêu mộng tưởng; cảnh đẹp của thiên nhiên, sông núi, làng quê; tình yêu quê hương, đất nước… Và, bóc tách ra lớp vỏ bên ngoài của thơ ca lãng mạn, Hà Minh Đức nhận định cái “mạch ngầm” ý nghĩa trong Thơ mới: “Thơ mới chứa đựng nhiều nỗi niềm, niềm vui gắn bó với từng cuộc đời đến những nỗi buồn riêng thấm thía cô đơn và đau khổ. Trào lưu thi ca này như một tâm hồn trĩu nặng ưu tư và xao động trong tình cảm buồn vui, xót xa. Những tình cảm này gắn liền với từng cuộc đời thơ, nhưng cũng mang theo hơi thở chung của thời đại. Đó là tiếng nói, tâm tình của các tầng lớp tiểu tư sản thành thị trước một thực 6 tại không như mình mong muốn. Chế độ thực dân phong kiến ngày càng xiết chặt xiềng gông lên số phận mỗi con người.” [32, tr. 665-669] “Cái tôi” vốn bé nhỏ và bị gò bó trong cuộc sống hằng ngày, nên luôn cảm thấy thiếu một tầm vóc, thiếu một tiềm lực. Các nhà thơ mới Huy Cận, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Tế Hanh… ít nhiều đều có những tứ thơ nói lên sự khát khao được giải phóng khỏi sự ngột ngạt, bế tắc của xã hội. Cái tôi trong thơ mới là cái tôi bộc lộ, cái tôi cảm xúc đang mở hết các giác quan để nhận biết thế giới xung quanh. Vũ trụ bao la, trời cao, biển rộng vẫn là những đối tượng mà cảm hứng thi ca muốn vươn tới để hòa nhập. Phải chăng vì thế, nói riêng trong Lửa thiêng, Huy Cận đã tìm đến vũ trụ bao la để tạo ra sự cảm hóa, để giải tỏa tâm tình, bộc lộ “cái tôi” riêng biệt của thi nhân? Phân tích riêng thơ Huy Cận với ý nghĩa “ngọn Lửa thiêng trong đời và trong thơ”, Hà Minh Đức mô tả khá rõ nét cuộc hành trình tâm tư của một nhà thơ trong tình yêu, nỗi sầu đời lẫn yêu đời, những khát vọng vũ trụ thanh cao. Và, Hà Minh Đức giải thích nỗi buồn trong thơ Huy Cận: “Thơ Huy Cận buồn, căn bệnh tinh thần của một thế hệ không dễ đổi thay; nhưng nỗi buồn của Lửa thiêng không mang nhiều tính riêng tư, không gắn với dục vọng, đam mê để rồi chán chường, tuyệt vọng. Vẫn có một mạch tình cảm trong trẻo, thiết tha gắn bó ân cần với cuộc sống và nói như cách nói của tác giả sau này, đó là tâm trạng “yêu đời nên đau đời”.” Viết về “Thơ mới - những bước thăng trầm”, nhà nghiên cứu Lê Đình Kỵ cũng dành không ít trang cho phần phân tích tập Lửa thiêng của Huy Cận. Về cái nền chung, Thơ mới nằm trong thời kỳ văn học lãng mạn 1930-1945 bộc lộ sự đổi mới về mặt thi pháp và tư duy thơ một cách tất yếu. Cụ thể qua sáng tác thơ ca, “những đổi mới ấy đã bộc lộ qua tư duy bằng liên tưởng, bằng ấn tượng, cảm giác, bằng âm thanh, nhịp điệu, biến cái trừu tượng thành cụ thể, nối dài cái cụ thể bằng cái trừu tượng, nội tâm hóa ngoại giới, ngoại 7 giới hóa nội tâm… do ảnh hưởng trực tiếp của tư duy thơ thời hiện đại…” [62, tr. 458-461] Trong chuyên luận mang tính lý luận, phê bình này, Lê Đình Kỵ nhận xét “cái màu riêng của hồn thơ Huy Cận là sự “đơn chiếc”, “cô độc” cho đến “chăn chiếu cũng mục cũng nở màu vĩnh viễn”. Huy Cận nói đến thời gian “vạn kỷ”, “vĩnh viễn” tưởng như không phải là nỗi niềm riêng tư của một ai đó, mà chính cuộc sống xã hội bấy giờ đã biến thiên như vậy. Với sự hiểu biết uyên bác về thơ ca của một nhà nghiên cứu lý luận phê bình văn học, Lê Đình Kỵ nêu ý kiến M. Gorky nhận xét thơ Verlaine như một cách so sánh sâu sắc “trường hợp Lửa thiêng” của Huy Cận. Đó là: “những bài thơ luôn luôn buồn bã và thấm thía một nỗi phiền muộn sâu xa của thi sĩ, ta nghe rất rõ tiếng kêu gào của sự thất vọng, nỗi đau đớn của một tâm hồn tinh tế và dịu dàng, tâm hồn đó luôn khao khát ánh sáng, khao khát trong sạch, đi tìm Thượng đế nhưng không thấy, muốn yêu thương con người nhưng không thể được.” [62, tr. 468] Cùng trong thập niên 60, 70, ở Sài Gòn, không kể những quan điểm xuyên tạc “nhà thơ tiền chiến” của một vài tác giả vùng văn học đô thị tạm chiếm, phần nhiều, các tác phẩm như Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ hay Đi vào cõi thơ của Bùi Giáng, Dư vang nghệ thuật của Trần Nhựt Tân… đã luận bàn, phân tích nhiều vấn đề liên quan đến tập Lửa thiêng của Huy Cận. Viết về hồn thơ Huy Cận qua Lửa thiêng, Phạm Thế Ngũ nêu một số nhận xét tương đối bao quát những vấn đề cốt lõi trong thơ Huy Cận: tình yêu thiên nhiên, sự mơ mộng trong tình yêu, nỗi buồn, tính suy tưởng về cuộc đời… Phạm Thế Ngũ nhận xét thơ Huy Cận chất chứa nhiều “tình yêu mãnh liệt nhưng hay giấu”; cùng đem thiên nhiên vào thơ nhưng ở thơ Xuân Diệu “thiên nhiên thường sực nức hương vị tình yêu và ngôn ngữ ái tình”, còn Huy 8 Cận thích nói đến “núi sông, cây cỏ bình thản, lặng lẽ, hàm súc, như tâm hồn tác giả”. Phạm Thế Ngũ nhận định thơ Huy Cận “hay sầu rồi trốn về đường thơ triết, ngẫm nghĩ về sự tẻ nhạt của cuộc đời và suy tưởng về cái chết…”. Điểm đáng chú ý ở đây, Phạm Thế Ngũ nhận xét nỗi buồn của Huy Cận là sự phản ứng của thời đại: “…Thơ Huy Cận đào sâu cái buồn mênh mang ấy đã góp phần bổ túc cho một đề tài muôn thuở, làm phong phú thơ mới, ở một giai đoạn chuyên về đạo tình. Song ta có thể nói, qua năm 1938, ở xã hội Việt Nam, cái vui vẻ trẻ trung người ta, kể cả thanh niên uống đã tới chỗ cạn đắng. cái buồn của Huy Cận đây phải chăng là một phản ứng của thời đại. Người ta nghĩ đến những lời rầu rĩ, bâng khuâng của Á Nam và Tản Đà. Chiếc linh hồn nhỏ là tác giả Lửa thiêng, phải chăng như một cánh chim đầu đàn tiên cảm cơn bão tố sắp tới” [99, tr. 575-579] Có thể nói, những năm này, không khí “triết học hiện đại”, “triết học hiện sinh”… nói chung được giới thiệu tương đối rộng rãi ở các trường đại học vùng đô thị tạm chiếm. Đó là điều dễ hiểu khi một số lý thuyết, triết học của Kant, Bergson, Nietzsche, Heidegger, Husserl, Sartre, Merleau Ponty…, ít nhiều đã được Trần Nhựt Tân vận dụng vào việc nghiên cứu thơ ca theo cách tiếp nhận “đa hệ” của ông. Qua các chương trong tiểu luận Dư vang nghệ thuật [126], ông phân tích quan niệm: “thơ là cái Đẹp”; “mơ về cái Đẹp”; “vũ trụ thi ảnh”; “âm điệu, nhạc tính trong thơ” v.v… Đáng chú ý, trong việc chọn lựa một số tác phẩm thơ ca làm đối tượng nghiên cứu, Trần Nhựt Tân đã đề cập và trích chọn khá nhiều câu thơ trong tập Lửa thiêng của Huy Cận. Lửa thiêng được coi như một tác phẩm thơ ca Việt Nam tiêu biểu nhất, bao trùm được những vấn đề nhà nghiên cứu đã phân tích, gửi gắm. Riêng, trường hợp Bùi Giáng đối với Huy Cận cũng là một “hiện tượng văn học” khá đặc biệt. Nhà thơ Bùi Giáng tự nhận ông chịu ảnh hưởng hồn thơ Huy Cận từ năm 16 tuổi khi học trung học ở Huế. Cách đánh giá của Bùi 9 Giáng về thơ ca nói chung thường thiên về trực cảm, có phần “lập dị” nhưng luôn để lộ kiến thức thật uyên bác về văn học Đông, Tây kim cổ. Ông say mê đọc thơ, thuộc thơ và bộc lộ cảm nhận thơ Huy Cận theo suy nghĩ rất riêng, đầy cảm hứng mênh mang, sâu sắc, mạnh mẽ. Chẳng hạn, với sự thụ cảm, suy luận về thơ Huy Cận, Bùi Giáng “tuyên bố” quả quyết “…Tình yêu và lữ thứ, lữ thứ và không gian, đó là những gì quyết định hết nguồn thơ Lửa thiêng” [34] Bước vào thập niên 90 của thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, sự đổi mới nhiều mặt của đời sống kinh tế, xã hội Việt Nam đã tác động đến tình hình văn chương, học thuật Việt Nam đương đại. Sự vận dụng phương pháp nghiên cứu văn học dựa vào thi pháp học, ngôn ngữ học, phân tâm học… được tìm thấy qua nhiều bài viết và công trình nghiên cứu phong phú có liên quan đến Thơ mới nói chung, hay có “chạm” ít nhiều đến thơ Huy Cận nói riêng. Đội ngũ các nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà thơ này, không phân biệt thế hệ tuổi tác, có thể kể tên: Đỗ Đức Hiểu, Trần Đình Sử, Mã Giang Lân, Trần Khánh Thành, Lý Hoài Thu, Lý Toàn Thắng, Đỗ Lai Thúy, Lê Tiến Dũng, Ngô Văn Phú, Vũ Quần Phương, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Đăng Điệp, Vu Gia, Chu Văn Sơn, Trần Huyền Sâm, Bùi Quang Tuyến, Trần Thiện Khanh, Lê Thị Anh v.v… Tham khảo chuyên luận Thi pháp thơ Huy Cận, người viết tìm thấy công trình nghiên cứu công phu của Trần Khánh Thành về thơ Huy Cận (công trình nghiên cứu này bao quát những tác phẩm từ tập Lửa thiêng đến những tập thơ sáng tác sau Cách Mạng Tháng Tám). Dưới góc độ thi pháp học, ông phân tích quan niệm nghệ thuật, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, các phương thức biểu hiện và cái tôi trữ tình với nhiều đối cực trong thơ Huy Cận. Nhận định Huy Cận không tách rời hình tượng con người cô đơn với nỗi buồn sầu, tình yêu mộng mơ… qua Lửa thiêng, Trần Khánh Thành mô tả và 10 chứng minh “cái tôi trữ tình hài hòa luôn vận động giữa nhiều đối cực xuyên suốt, so sánh với giai đoạn sáng tác thơ của Huy Cận sau này”… Đó là sự thể hiện “niềm khát vọng của nhà thơ là tìm đến cái đẹp hài hòa giữa cuộc đời và vũ trụ, giữa cuộc đời riêng và cuộc đời chung, giữa cảm hứng lãng mạn và cảm hứng hiện thực, giữa cảm xúc tươi tắn và tầm cao trí tuệ…” [132, tr. 5657] Người nghiên cứu sâu về tiến trình thơ ca Việt Nam hiện đại, ngoài những chuyên đề về các nhà thơ, gần đây nhất, nhà nghiên cứu Mã Giang Lân đã trở lại chuyên đề Cấu trúc câu thơ Lửa thiêng của Huy Cận, đăng trên Tạp chí Văn Học. Qua bài viết, Mã Giang Lân bộc lộ rõ sự chú trọng của ông về ngôn ngữ nghệ thuật thơ. Với hướng phân tích này, ông đã phát hiện thêm một số chi tiết nghệ thuật mới mẻ của câu thơ Lửa thiêng và góp thêm một vệt nghiên cứu mới về thơ Huy Cận. [66] Ngoài ra, người viết còn ghi nhận nhiều thông tin từ mảng bài nghiên cứu, đánh giá cuộc đời, sự nghiệp hay hồi ức và kỷ niệm về Huy Cận - một nhà thơ, nhà văn hóa lớn của Việt Nam, sau khi ông qua đời (19-2-2005). Đó là những bài báo, bài nghiên cứu đăng tải trên các báo in, báo điện tử: Nhân Dân, Sài Gòn Giải Phóng, Văn Nghệ, tạp chí Hồn Việt, Sông Hương, Hà Tĩnh, Bình Định… của các nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà thơ: Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Mai Quốc Liên, Hữu Thỉnh, Giang Nam, Trần Phương Trà, Nguyễn Trọng Tạo, Mai Hồng, Trần Đăng Khoa, Trần Mạnh Hảo, Lê Thị Hồng Minh, Ngô Văn Phú, Nguyễn Thụy Kha, Nguyễn Sỹ Đại, Vương Trí Nhàn, Lê Minh Quốc, Nguyễn Thanh Mừng… Mặt khác, người viết cũng tìm hiểu, chọn lọc, tham khảo một số bài viết về thơ Huy Cận của các nhà nghiên cứu Việt Nam ở hải ngoại như Đặng Tiến, Thụy Khuê… Thực tế cho thấy các bài viết này khá chú trọng đến tập thơ Lửa thiêng của Huy Cận (nhất là Đặng Tiến với chuyên đề Huy Cận 11 trong tôi). Nhìn chung, những bài viết của các tác giả ở hải ngoại ít nhiều đều vận dụng lý thuyết thi pháp cấu trúc luận của Roman Jakobson; điều đó cho thấy “dấu vết” nghiên cứu ngữ học bao trùm ảnh hưởng một thời trong giới nghiên cứu văn học ở phương Tây. Phần nghiên cứu giới thiệu thơ Huy Cận trong văn chương Việt Nam ở mảng tiếng Pháp có tập “Marées de la Mer Orientale” (Nước triều Đông), Orphée La Différence xuất bản năm 1994 với lời giới thiệu của nhà Việt Nam học nổi tiếng, Paul Schneider (Pháp). Ngoài phần mở đầu nhận xét chung về thơ ca Việt Nam, Paul Schneider đã giới thiệu phần viết riêng về thơ Huy Cận. Nước triều Đông gồm nhiều bài thơ trong những chặng đường sáng tác của Huy Cận, trong đó có phần trích dịch các bài thơ từ tập Lửa thiêng: Ngậm ngùi (Mélancolie), Đi giữa đường thơm (La route parfumée), Thu rừng (Automne dans la forêt), Tình tự (Confidence d’amante), Áo trắng (La robe blanche), Gánh xiếc (Le cirque), Tràng giang (Fleuve immense). Đặc biệt, lời nhận xét khái quát thơ Huy Cận trong văn học Việt Nam, Paul Schneider đã nêu lên một khía cạnh tương đồng giữa Nguyễn Trãi và Huy Cận: hai nhà thơ đều sáng tác thơ ca trước khi hoạt động kháng chiến. Nguyễn Trãi từng ở Côn Sơn trong thời gian ngắn trước khi đi theo cuộc kháng chiến của Lê Lợi. Ông đã có bài thơ hay Quy Côn Sơn trùng cửu ngẫu tác. Bài thơ biểu hiện sự gặp gỡ giữa con người thơ ca và con người dấn thân, yêu nước. Huy Cận cũng bộc lộ hai khía cạnh thơ ca và hoạt động cách mạng: tập thơ đầu tay Lửa thiêng của ông đã gặt hái thành công vào năm 1940; sau đó, ông đã tham gia phong trào Việt Minh… [190, tr. 7-10] Về bản tiếng Anh, quyển “Vietnamese Literature” (Văn chương Việt Nam), Red River, Nhà xuất bản Ngoại văn xuất bản năm 1979, do Nguyễn Khắc Viện và Hữu Ngọc chủ biên cùng đội ngũ dịch thuật: Mary Cowan, Carolyn Swetland, Đặng Thế Bính, Paddy Parrington, Elizabeth Hodgkin, đã 12 giới thiệu khái quát lịch sử văn chương Việt Nam từ thế kỷ XI đến thế kỷ XX. Trong phần dịch sang bản tiếng Anh, tập Lửa thiêng (Sacred Fire) được giới thiệu hai bài: Nhạc sầu (Music for the dead) và Tràng giang (Vast river). Tóm lại, về lịch sử vấn đề nghiên cứu thơ Huy Cận qua tập Lửa thiêng có thể tính đến hàng trăm bài báo và nhiều chuyên luận dưới nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau theo thời gian và bối cảnh không gian khác nhau. Nhưng, tựu trung, những vấn đề về cảm hứng thời đại, cảm hứng cô đơn của con người với nỗi sầu vũ trụ, nỗi buồn thế kỷ, tình yêu thiên nhiên, tình yêu quê hương, đất nước, yêu tiếng nói của dân tộc, những suy tư về cuộc đời… của Huy Cận, được các tác giả nhận định, phân tích, bàn luận tương đối có nhiều điểm gặp gỡ, trùng hợp. Riêng về vấn đề phong cách thơ Huy Cận có đặt ra trong một số bài viết của Nguyễn Xuân Nam, Nguyễn Văn Long, Hà Minh Đức, Trần Khánh Thành, Mã Giang Lân…, nhưng phần lớn, các tác giả chỉ nêu một cách khái quát hoặc nhận xét rải rác những khía cạnh chung khi khảo sát thơ Huy Cận qua nhiều thời kỳ sáng tác; hoặc có công trình chỉ đề cập vài nét phong cách thơ Huy Cận, chủ yếu qua những tác phẩm đươc nhà thơ sáng tác từ những năm 1960 trở về sau… Cho nên, xét trên góc độ nghiên cứu tổng hợp mới, tương thích cho việc tìm hiểu phong cách thơ Huy Cận nổi bật qua tập thơ Lửa thiêng, người viết nhận thấy vẫn chưa có tác giả nào đề cập chuyên biệt. Tuy vậy, xuất phát từ sự gợi mở của một số công trình nghiên cứu đi trước này, đã tạo tiền đề quý báu, giúp người viết suy nghĩ sâu hơn việc nghiên cứu phong cách thơ Huy Cận. Đó là việc nghiên cứu phong cách thơ với cách nhìn toàn diện hơn trên cơ sở tìm hiểu tư tưởng, triết học, tâm lý học sáng tạo, tư duy nghệ thuật và ngôn ngữ nghệ thuật thơ ông. Với hướng nghiên cứu tổng hợp mới, khi chọn lọc, tiếp thu các phương pháp nghiên cứu văn học từ truyền thống đến hiện đại, người viết mong tìm thêm một cách tiếp cận mới, 13 hỗ trợ cách lý giải đề tài, nhằm mang lại hiệu quả thích ứng, phù hợp vấn đề nghiên cứu. Những cố gắng thực hiện đề tài luận án, ngoài niềm say mê của người viết về thơ ca Huy Cận, còn là ước vọng mong muốn đóng góp thêm một vài ý nghĩa hữu ích cho việc nghiên cứu, cảm thụ, thưởng thức văn chương một cách đa dạng, đa chiều kích trong đời sống văn học hiện nay. 4. Nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận án không chứng minh lại kết luận của các công trình nghiên cứu trước về phong cách thơ Huy Cận đang tham khảo. Dựa trên cách thức tổng hợp mới các phương pháp nghiên cứu về tác giả, tác phẩm, nhiệm vụ luận án lần lượt trình bày trong ba chương, nhằm chứng minh phong cách nghệ thuật thơ Huy Cận qua Lửa thiêng. (Và, phong cách đó vẫn là cơ sở cho chặng đường sáng tác sau này của nhà thơ). 4.2. Đối tượng nghiên cứu Luận án chủ yếu nghiên cứu thơ Huy Cận, đồng thời so sánh với thơ Xuân Diệu cùng một số nhà thơ khác của phong trào Thơ mới. 5. Phạm vi khảo sát Luận án dựa vào thơ Huy Cận (tập Lửa thiêng), thơ Xuân Diệu (tập Thơ thơ, Gửi hương cho gió) và thơ Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Tố Hữu, Nguyễn Xuân Sanh, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Nguyễn Bính, Hồ Dzếnh, cùng một số nhà thơ khác sáng tác trong giai đoạn Thơ mới 1930-1945…; đối chiếu khi cần thiết (nhưng có giới hạn) thơ ca của vài tác giả thuộc nhóm Sáng Tạo. 6. Phương pháp nghiên cứu Đi tìm phương pháp nghiên cứu trong rừng lý thuyết mênh mông, người viết cũng cần nói rõ: chỉ tham khảo, vận dụng vài lý thuyết nghiên cứu, nhằm 14 làm sáng tỏ thêm đề tài luận án, dưới góc độ nghiên cứu lịch sử văn học, hơn là đi sâu vào lý luận văn học. Tuy nhiên, một điều hiển nhiên và khách quan cho thấy: sự vận động không ngừng của ngôn ngữ văn học, của các lý thuyết văn học trong đời sống hiện nay vẫn đang diễn biến và luôn chịu sự tương tác qua lại của xã hội. Nhà nghiên cứu Trịnh Bá Đĩnh đã nhận định trong lời giới thiệu công trình dịch Chủ nghĩa cấu trúc và văn học [28] và gần đây nhất là bài đăng báo Văn Nghệ Về khuynh hướng duy ngữ trong văn học hiện nay đều phân tích những diễn biến văn học trên bình diện lý thuyết. Trịnh Bá Đĩnh phân định: “…hiện nay xu hướng phê bình ngữ học hầu như đang chiếm ưu thế, nhất là trong khu vực phê bình học viện.” Ông mô tả tiến trình của xu hướng được mệnh danh “chủ nghĩa đế quốc ngôn ngữ học”, thế nhưng, xem ra tình hình của xu hướng này ở phương Tây vào cuối thế kỷ XX đã và đang “lắng đọng”! Điều đó cho thấy quy luật vận động của tư duy văn học không bao giờ đứng yên. Ở đoạn kết bài viết, Trịnh Bá Đĩnh nhận định sâu sắc vấn đề: “văn học là một hiện tượng rất phức tạp, một hiện tượng mang tính tổng hợp văn hóa rất cao, một bộ phận không thể tách rời khỏi văn hóa thời đại. Làm nên nó không chỉ có những thành phần của riêng nó như cách tự sự, cách cấu tạo, mà còn có những thành phần khác của văn hóa như tâm lý thời đại, hệ tư tưởng, các nghệ thuật khác. Mà mỗi thời đại lại không tách rời khỏi toàn bộ truyền thống văn hóa quá khứ (trong mỗi thành tố nhỏ nhất của văn học cần nghe được tiếng vọng nhiều thế kỷ đã qua) và cả những mơ ước, dự phóng về tương lai. Văn học phải là sự tổng hợp của mỹ học của lời nói và mỹ học của cái được nói tới. Không phải ngẫu nhiên mà văn học ngay từ khởi thủy cho đến ngày nay vẫn kiên nhẫn kể về tình dục và quyền lực, về cái thiện, cái ác đích thực và giả trang… Điều đó có nghĩa là văn học của chúng ta vẫn rất cần phải tiếp tục kể 15 về những điều trông thấy mà đau đớn lòng, về tình yêu, số phận con người.” [29] Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân qua bài Góp phần tìm hiểu phương pháp cấu trúc [19] cho thấy ý nghĩa “gạn lọc”, tìm cách vận dụng ưu điểm của lý thuyết. Xuất phát từ góc độ ngôn ngữ học- lý luận văn học, ông phân tích những hạn chế của chủ nghĩa cấu trúc và hậu cấu trúc (hay còn gọi giải cấu trúc). Đại thể: chủ nghĩa cấu trúc không chú trọng đến chủ thể sáng tác; quan niệm cực đoan chỉ tập trung phân tích cái cấu trúc khép kín của văn bản tác phẩm… Nhưng đồng thời, ông cũng cho rằng “việc phân tích cấu trúc của tác phẩm văn học là hoàn toàn cần thiết và có ích. Nếu gạt bỏ những điều bất hợp lý trong phương pháp luận của chủ nghĩa cấu trúc và hậu cấu trúc thì chúng ta vẫn có thể vận dụng, phát huy được những thao tác hữu ích trong nghiên cứu văn học.” Một mặt, tìm hiểu tình hình thực tế của hoạt động lý luận phê bình duy ngữ ở phương Tây hiện nay như thế nào là một cách tiếp cận cập nhật của người viết. Có lẽ, cũng không phải là điều ngạc nhiên khi giới nghiên cứu đã bắt gặp những quan niệm “khá phản tỉnh” của các nhà lý luận văn học nổi tiếng như Antoine Compagnon qua quyển Le Démon de la théorie- Con quỷ của lý thuyết (Lê Hồng Sâm dịch là Bản mệnh của lý thuyết), Tzvetan Todorov qua quyển La Littérature en péril (Nền văn chương đang lâm nguy). Đó là những vấn đề “thời sự văn học” được giới nghiên cứu phương Tây quan tâm. Trường hợp tự phản biện và hoài nghi lý thuyết nghiên cứu văn học cấu trúc luận do chính mình giới thiệu và lập nên hệ thống, Todorov đã trình bày mối quan ngại về tình hình tiếp cận và nghiên cứu văn chương hiện tại ở Pháp, nhất là trong phạm vi giảng dạy văn học ở nhà trường. Sau quá trình “trải nghiệm” và “kiểm nghiệm”, ông nhận xét lối phân tích cấu trúc mang lại sự mới mẻ cho văn học nhưng chỉ nên xem là phương tiện hơn là cứu cánh. 16 Todorov cho rằng nếu chỉ dùng một phương pháp thôi, chúng ta sẽ hiểu ý nghĩa của tác phẩm một cách sai lầm. Ông cũng nhấn mạnh ý nghĩa giữa tác phẩm văn học và bối cảnh luôn có mối quan hệ liên quan, đối thoại. [159] Lược thuật sơ nét diễn biến tình hình hoạt động gần đây nhất của các lý thuyết nghiên cứu văn học ở phương Tây, người viết nhằm rút ra kinh nghiệm quý báu: không sa đà vào một lý thuyết nghiên cứu nào một cách cực đoan. “Gạn đục, khơi trong” các lý thuyết được coi như là phương châm vận dụng nghiên cứu của luận án. Chính vì vậy, về phương pháp người viết lựa chọn phương pháp nghiên cứu hợp lý, dung hòa, tổng hợp mới, tìm hiểu các mối liên quan đến sáng tác và cuộc đời tác giả, trên cơ sở thống kê, hệ thống, so sánh và đi sâu vào phân tích văn bản tác phẩm thơ ca. Đó là việc chọn lựa một số phương pháp thích hợp như phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích theo thi pháp học, phong cách học, khảo sát, thống kê, so sánh… Về lý thuyết, luận án tham khảo, vận dụng một số ý kiến bàn luận văn chương trong di sản văn học Việt Nam; tham khảo lý luận văn học trong Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp; tham khảo lý thuyết tưởng tượng, hình thành thi ảnh của nhà triết học kiêm phê bình văn học Pháp, Gaston Bachelard; tham khảo các phương thức cơ bản của thi pháp học- chủ nghĩa cấu trúc của Roman Jakobson, cấu trúc văn bản nghệ thuật của IU. M. Lotman… 7. Những đóng góp mới của luận án 7.1 Ý nghĩa khoa học Nghiên cứu phong cách nghệ thuật thơ Huy Cận qua việc tổng hợp mới, luận án nhằm: (1) góp thêm vài ý kiến chứng minh phong cách thơ độc đáo qua ngôn ngữ thơ và thi ảnh mang tính văn chương - văn hóa - triết học của Huy Cận; (2) góp thêm một hướng tiếp cận mới về nghiên cứu thơ ông trong dòng chảy của đời sống văn học, văn hóa, xã hội đương đại; (3) bổ sung tư 17 liệu qua một số văn bản thơ, đối chiếu những tư liệu bản thảo ban đầu trong tập Lửa thiêng đã được nhà thơ sử dụng qua thao tác chọn lựa hoặc kết hợp trong quá trình sáng tác, đầy ý nghĩa thể hiện tình cảm yêu tiếng Việt của nhà thơ. 7.2 Ý nghĩa thực tiễn Qua nghiên cứu phong cách thơ Huy Cận, luận án mong muốn bổ sung thêm tư liệu cho việc nghiên cứu, giảng dạy thơ Huy Cận ở nhà trường và việc cảm thụ văn chương đa chiều kích trong đời sống văn học hiện nay.. 8. Cấu trúc luận án Ngoài phần dẫn luận, phần kết luận và phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận án bao gồm 3 chương: Chương 1: Những nhân tố hình thành phong cách nghệ thuật thơ Huy Cận Chương 2: Phong cách nghệ thuật thơ Huy Cận thể hiện qua vũ trụ thơ Lửa thiêng Chương 3: Phong cách nghệ thuật thơ Huy Cận thể hiện qua ngôn ngữ thơ Lửa thiêng 18 Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ HÌNH THÀNH PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT THƠ HUY CẬN 1.1. Khái niệm “phong cách” Khái niệm phong cách Le style, c’ est l’ homme (văn chính là người) theo một bài nghiên cứu của Phan Huy Đường đã trích từ bài diễn văn của Buffon bàn về văn phong thế kỷ XVIII của Pháp. Buffon quan niệm phong cách là sự biểu hiện hoàn mỹ vào tác phẩm cái nhân cách, tư tưởng, tình cảm của chủ thể sáng tạo. [169] Theo quan niệm của Hégel, phong cách bao hàm tính chất độc đáo và cả tính võ đoán mang ý nghĩa cảm hứng chủ quan của nghệ sĩ. Khái niệm phong cách được ông khái quát là phương thức biểu hiện, hay có khi là quy luật nghệ thuật của một loại hình nghệ thuật nào đó như phong cách thơ, phong cách nhạc kịch. [42, tập 1, tr. 472-473] Phong cách được hiểu rộng rãi dành cho mọi sáng tác về tư tưởng như khoa học, triết học, lịch sử. Đại thi hào Đức, Goethe, khi bàn đến khái niệm phong cách cũng cho rằng đó là sự thống nhất chủ quan và khách quan trong sáng tác, khi nhà văn vừa vượt lên trên mọi sự mô phỏng đối với tự nhiên vừa vượt lên trên cái tác phong, kiểu cách chủ quan của chính người sáng tác. Ý kiến của Nguyễn Khắc Sính khi viết về phong cách đã liên hệ về trường hợp chính Marx cũng sử dụng khái niệm phong cách- style để đánh giá tác phẩm kinh tế học của Proudhon. Tư tưởng này được Diderot, Flaubert (Pháp), Rauli (Anh) tán thành… [119] Vào những năm đầu thế kỷ XX, Roland Barthes, nhà ngôn ngữ học- phê bình văn học Pháp, một trong những người đại diện lỗi lạc của chủ nghĩa cấu trúc, không dùng khái niệm style khi bàn luận những vấn đề liên quan phong 19 cách. Ông sử dụng khái niệm écriture- lối viết và cho rằng phong cách nhà văn này khác nhà văn kia chính nhờ lối viết. Cách gọi écriture là lối viết riêng của mỗi nhà văn được Barthes diễn giải trong công trình Độ không của lối viết. Ông cho rằng lối viết là cái trung gian giữa ngôn ngữ và văn phong. “… Văn phong là niềm đơn độc khép kín của nhà văn: một cách nói, một từ vựng nảy sinh từ cá thể và quá khứ của anh ta là chiều thẳng đứng cắm vào huyền thoại riêng biệt và bí ẩn của tác giả”. [28, 54] Cũng trong cuốn Độ không của lối viết, Barthes phân biệt trong một tác phẩm văn chương: “ngôn ngữ” chung cho tất cả các nhà văn và “lối viết” do sự suy nghĩ của nhà văn khi sử dụng hình thức mà họ chọn…” [88, tập 2, tr. 57] Tuy vậy, đồng thời với R. Barthes, nhà bác ngữ học Đức, Léo Spitzer định nghĩa văn phong là style. Ông cho rằng mỗi không khí văn hóa sản sinh ra một văn phong khác nhau. Một ý kiến khác của J. Derrida được tìm thấy trong quyển “Các khái niệm và thuật ngữ các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỷ XX” . J. Derrida, người đại diện khuynh hướng giải cấu trúc luận, đã sử dụng khái niệm thuật ngữ écriture “là ngọn nguồn, khởi đầu của ngôn ngữ, tuyệt nhiên không phải là cái tiếng nói đã chuyển tải ngôn từ nói ra”. Ông phê phán những vấn đề còn bất cập của chủ nghĩa cấu trúc và ký hiệu học. [54,19] Thực tế, theo cách hiểu thông thường, người ta cho rằng style – phong cách - ngoài ngôn ngữ còn bao hàm cá tính độc đáo và quan niệm sáng tác của nghệ sĩ trong cách thức diễn đạt; còn écriture – lối viết, thường chú trọng về ngôn ngữ. Phong cách theo nghĩa rộng nhất là lối sống, cách sống, kiểu sống của một con người, là sự phản ảnh của nhân cách của một con người thể hiện thành hành vi, ứng xử của người đó đối với người khác, đối với cộng đồng. 20 Phong cách là nét riêng của nhân cách, do cá tính con người quy định. Mỗi con người là một cá nhân của một cộng đồng, mỗi cá nhân là một thực thể duy nhất, độc nhất, không có bản thứ hai, không có sự lặp lại… Một con người ra đi, không thể nào gặp lại Một vũ trụ riêng tư không lặp lại bao giờ (E. Evtusenko) Tóm lại, thuật ngữ hay khái niệm phong cách được hiểu và sử dụng một cách quen thuộc nhất, rộng rãi và vẫn sử dụng cho đến hiện nay, được chọn từ khái niệm style của Buffon. 1.1.1. Phong cách theo quan niệm lý luận văn học phương Tây Nói đến vấn đề lý luận văn học phương Tây, chủ yếu người viết tham khảo một bộ phận lý luận văn học Liên Xô tương đối được đề cập nhiều trong thời gian trước đây và vài khía cạnh lý thuyết văn học của châu Âu quen thuộc trong thế kỷ XX. Những năm 60, 70 của thế kỷ XX, khảo sát nhiều định nghĩa khác nhau của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học, lý luận văn học, nghệ thuật học, nhà lý luận văn học Liên Xô Khrápchenkô trong quyển Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học đã trình bày khá công phu của nhiều người định nghĩa tiêu biểu về phong cách. [83] Chẳng hạn, theo Đ. Likhachev, phong cách là sự kết hợp trong bản thân nó sự thụ cảm chung về hiện thực vốn có ở nhà văn và phương pháp nghệ thuật được quy định bởi những nhiệm vụ mà nhà văn đặt ra cho mình. Với ý nghĩa đó, khái niệm phong cách có thể được áp dụng vào những loại nghệ thuật khác nhau và giữa chúng có thể có những sự tương ứng đồng đại. Hoặc, theo Ar. Grigorian: Phong cách nghệ thuật không thể vô can với phương pháp, với thế giới quan, với bút pháp, với cá nhân nhà nghệ sĩ, với cách hiểu của nghệ sĩ về thời đại, với vẻ đặc thù dân tộc trong sáng tác của anh ta…
- Xem thêm -