Phát triển xuất khẩu hàng may mặc của công ty tnhh tm dv ngọc khánh

  • Số trang: 76 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 26 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

Đề tài: Phát triển xuất khẩu hàng may mặc của công ty TNHH SX KD TMDV Ngọc Khánh LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay khi quá trình phân công lao động Quốc tế đang diễn ra hết sức sâu sắc thì thương mại Quốc tế trở thành một qui luật tất yếu khách quan và được xem như là một điều kiện tiền đề cho sự phát triển kinh tế của mọi quốc gia. Thực tế cho thấy, không một quốc gia nào có thể tồn tại chứ chưa nói gì đến phát triển nếu tự cô lập mình không quan hệ với kinh tế thế giới. Và thương mại quốc tế trở thành vấn đề sống còn vì nó cho phép thay đổi cơ cấu sản xuất và nâng cao khả năng tiêu dùng của dân cư một quốc gia. Nền kinh tế Việt Nam cũng vậy, đối với mỗi doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Giúp cho mỗi doanh nghiệp giải quyết được vấn đề về công ăn việc làm cho nhân viên, tăng nguồn ngoại tệ để phục vụ cho các hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp đổi mới trang thiết bị, mở rộng quy mô kinh doanh, và giải quyết các vấn đề về lợi nhuận. Góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Tuy nhiên, đối với những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu hàng may mặc thì việc đẩy mạnh sản xuất, mở rộng thị trường, tăng doanh thu lại hết sức khó khăn. Bởi trong thực tế, ngành dệt may của nước ta đã có lịch sử phát triển rất lâu đời, đã trở thành một ngành sản xuất thực sự quan trọng hơn chục năm nay, trong hơn mười năm qua, xuất khẩu dệt may luôn có những phát triển vượt bậc vươn lên trở thành ngành luôn có kim ngạch xuất khẩu cao thứ hai, chỉ sau dầu thô, là ngành có kim ngạch xuất khẩu cao, nhưng lợi nhuận mà ngành dệt may Việt nam có được không cao, phụ thuộc rất nhiều vào nước ngoài từ khâu nguyên liệu đầu vào cho đến khâu tiêu thụ sản phẩm ở nước nhập khẩu. Trong khi đó, nếu Việt Nam có thể xây dựng và phát triển vững mạnh ngành may mặc xuất khẩu thì sẽ góp phần rất lớn vào sự phát triển kinh tế đất nước nói chung và của doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc nói riêng. Vì ngành may mặc cần rất nhiều lao động qua đó giải quyết được công ăn việc làm-giảm thất nghiệp, tăng thu nhập, phát triển ngành này sẽ là cơ sở để nhiều ngành phụ trợ phát triển theo, như ngành dệt, nhuộm, giao thông vận tải, cảng, bảo hiểm… Song song với GVHD: TS. NGUYỄN NGỌC DƯƠNG 1 SVTH: TRẦN THỊ PHƯỢNG HẠNH Đề tài: Phát triển xuất khẩu hàng may mặc của công ty TNHH SX KD TMDV Ngọc Khánh đó, thị trường hàng may mặc luôn luôn phát triển sâu và rộng vì nhu cầu “mặc” là một nhu cầu thiết yếu. Trước thực tế đó, việc đề ra giải pháp để nâng cao kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc về cả số lượng và chất lượng là một yêu cầu vô cùng cấp thiết. Qua đó, em xin chọn đề tài nghiên cứu của khoá luận tốt nghiệp là giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng may mặc, đề tài được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu hoạt động kinh doanh thực tế của công ty TNHH SX TM DV NGỌC KHÁNH. Tên đề tài: “Phát triển xuất khẩu hàng may mặc của công ty TNHH SX KD TMDV Ngọc Khánh” 2. Tình hình nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang chuyển sang gam màu tươi sáng, với niềm tin vào đà phục hồi mạnh ở các nước có nền kinh tế lớn như Mỹ và Nhật Bản, hy vọng về con đường bằng phẳng hơn cho nền kinh tế châu Âu và cả sự lạc quan về triển vọng tăng trưởng nhanh hơn ở các nền kinh tế mới nổi. Nền kinh tế Việt Nam trong năm nay cũng có nhiều khởi sắc, sản xuất kinh doanh đã sôi động trở lại. Bên cạnh đó, Việt Nam đang trong những vòng đàm phán cuối cùng của TPP, nếu Việt Nam trở thành thành viên của TPP sẽ mở ra nhiều cơ hội cho hàng may mặc Việt Nam. 3. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu nhằm tìm ra giải pháp để phát triển hoạt động xuất khẩu của công ty TNHH SX TM DV Ngọc Khánh. Theo đó, em sẽ xây dựng cơ sở lý luận để phát triển hoạt động xuất khẩu. Trên cơ sở lý luận, phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu của công ty, tìm ra những ưu nhược điểm, và tìm ra giải pháp để khắc phục những nhược điểm tồn tại giúp công ty phát triển tốt hơn. Trên cơ sở giải pháp, em xin đưa ra những kiến nghị đối với công ty Ngọc Khánh, Hiệp hội dệt Việt Nam, những cơ quan chức năng có liên quan nhằm thúc đẩy phát triển xuất khẩu hàng may mặc của công ty nói riêng và hàng may mặc Việt Nam nói chung. Hoạt động xuất khẩu phải phát triển cả về số lượng và chất lượng như vậy mới đảm bảo sự phát triển bền vững, lâu dài. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu tình hình phát triển chung của ngành dệt may Việt Nam, đưa ra những thuận lợi, khó khăn cũng như cơ hội và thách thức đối với ngành trong hiện GVHD: TS. NGUYỄN NGỌC DƯƠNG 2 SVTH: TRẦN THỊ PHƯỢNG HẠNH Đề tài: Phát triển xuất khẩu hàng may mặc của công ty TNHH SX KD TMDV Ngọc Khánh tại và định hướng đến năm 2020. Bên cạnh đó, phân tích xu hướng tiêu dùng của một số thị trường nhập khẩu hàng may mặc Việt Nam tiêu biểu, cũng như khái quát xu hướng tiêu dùng của thế giới. Từ sự hiểu biết về thị trường và phân tích thực trạng công ty, xây dựng một hệ thống chỉ tiêu đánh giá phát triển xuất khẩu hàng may mặc. Trên nền tảng kiến thức, thực trạng đề ra giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng may mặc. Để thực hiện được giải pháp, em xin đưa ra hệ thống những kiến nghị đối với công ty, Hiệp hội dệt may và những cơ quan chức năng. 5. Phương pháp nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu bằng cách tổng hợp nhiều phương pháp. Đầu tiên em sử dụng phương pháp sưu tầm, tham khảo và tổng hợp kiến thức về kinh tế ngoại thương, ý kiến của các chuyên gia kinh tế, các bài báo về vấn đề liên quan… Sau đó, em kết hợp các phương pháp phân tích, so sánh, khái quát, đối chiếu giữa lý thuyết và thực tế. Từ đó, em sẽ đề ra giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của công ty TNHH SX TM DV Ngọc Khánh. 6. Dự kiến kết quả nghiên cứu Sau khi nghiên cứu, sẽ xây dựng được hệ thống tiêu chí đánh giá phát triển xuất khẩu hàng may mặc, dựa trên tiêu chí phân tích thực tế hoạt động xuất khẩu công ty TNHH SX TM DV Ngọc Khánh, phân tích SWOT của công ty. Và xây dựng giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của công ty. Do kiến thức, kinh nghiệm còn hạn chế nên bài nghiên cứu có thể sẽ còn tồn tại nhiều thiếu sót. GVHD: TS. NGUYỄN NGỌC DƯƠNG 3 SVTH: TRẦN THỊ PHƯỢNG HẠNH Đề tài: Phát triển xuất khẩu hàng may mặc của công ty TNHH SX KD TMDV Ngọc Khánh CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU 1.1. Khái niệm phát triển xuất khẩu hàng may mặc 1.1.1. Khái niệm phát triển xuất khẩu Theo lý thuyết tăng trưởng và phát triển kinh tế của kinh tế học phát triển thì phát triển kinh tế là khái niệm có nội dung phản ánh rộng hơn so với khái niệm tăng trưởng kinh tế. Nếu như tăng trưởng kinh tế về cơ bản chỉ là sự gia tăng thuần tuý về mặt lượng của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: GNP, GNP/đầu người hay GDP, GDP/đầu người… thì phát triển kinh tế ngoài việc bao hàm quá trình gia tăng đó, còn có một nội hàm phản ánh rộng lớn hơn, sâu sắc hơn, đó là những biến đổi về mặt chất của nền kinh tế – xã hội, mà trước hết là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH và kèm theo đó là việc không ngừng nâng cao mức sống toàn dân, trình độ phát triển văn minh xã hội thể hiện ở hàng loạt tiêu chí như: Thu nhập thực tế, tuổi thọ trung bình, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh, trình độ dân trí, bảo vệ môi trường và khả năng áp dụng các thành tựu khoa học – kỹ thuật vào phát triển kinh tế xã hội. Với nội hàm rộng lớn trên đây, về cơ bản khái niệm phát triển kinh tế đã đáp ứng được các nhu cầu đặt ra cho sự phát triển toàn diện nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội… Căn cứ vào khái niệm phát triển kinh tế vừa chỉ ra trên, ta có thể suy ra phát triển xuất khẩu đó là quá trình biến đổi xuất khẩu về mọi mặt từ mặt lượng đến mặt chất, bao gồm sự gia tăng về quy mô sản lượng và doanh thu xuất khẩu cũng như sự biến đổi về chất lượng sản phẩm, cơ cấu xuất khẩu… theo hướng tối ưu nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả xuất khẩu trong một thời kỳ nhất định. Phát triển xuất khẩu hàm chứa ba nội dung sau: - Sự gia tăng về quy mô: Có thể hiểu đó là việc gia tăng kim ngạch, sản lượng xuất khẩu, nâng cao tốc độ tăng trưởng xuất khẩu. Đây chính là sự mở rộng phát triển xuất khẩu theo chiều rộng hay cũng có thể coi là việc mở rộng quy mô. Tuy nhiên, sự mở rộng quy mô xuất khẩu không phải lúc nào cũng là lựa chọn tối ưu cho ngành hàng mà mở rộng quy mô cần phải phù hợp với tiềm lực và phát huy được lợi thế của ngành hàng. - Sự thay đổi chất lượng xuất khẩu: Đây không chỉ đơn giản là việc nâng cao chất lượng của sản phẩm xuất khẩu, mà nó còn thể hiện ở các khía cạnh khác như: GVHD: TS. NGUYỄN NGỌC DƯƠNG 4 SVTH: TRẦN THỊ PHƯỢNG HẠNH Đề tài: Phát triển xuất khẩu hàng may mặc của công ty TNHH SX KD TMDV Ngọc Khánh Sự thay đổi, chuyển dịch cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, thị trường xuất khẩu, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực thương mại cho xuất khẩu cùng các hoạt động xúc tiến thương mại cho hàng hóa đó, đầu tư và các hoạt động hỗ trợ cho việc xuất khẩu để nâng cao sức cạnh tranh. - Tính tối ưu và hiệu quả trong phát triển xuất khẩu: Đó là việc nâng cao khả năng sử dụng các nguồn lực trong hoạt động xuất khẩu nhằm đạt tới những mục tiêu xác định. Trong đó phải đáp ứng hài hòa các mục tiêu kinh tế- xã hội- môi trường nhằm hướng đến sự phát triển bền vững. 1.1.2. Phát triển xuất khẩu hàng may mặc Phát triển xuất khẩu hàng may mặc đó là quá trình biến đổi xuất khẩu hàng may mặc ở mọi mặt, bao gồm sự gia tăng về quy mô, sản lượng, doanh thu xuất khẩu và sự biến đổi về chất lượng sản phẩm, cơ cấu xuất khẩu… theo hướng tối ưu, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả xuất khẩu hàng may mặc trong một thời kỳ nhất định. Phát triển xuất khẩu hàng may mặc có thể được thực hiện theo hai cách sau: Thứ nhất: Phát triển xuất khẩu hàng may mặc theo chiều rộng. Đó là sự tập trung nguồn lực vào việc nâng cao quy mô, sản lượng hàng may mặc xuất khẩu thể hiện thông qua kim ngạch xuất khẩu gia tăng, thị trường xuất khẩu được mở rộng. Tuy nhiên, sự mở rộng quy mô cần phải phù hợp với tiềm lực và phát huy được lợi thế của ngành hàng. Để thực hiện phát triển theo cách này, doanh nghiệp cần đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, tuyển dụng lao động, mua sắm máy móc nhằm nâng cao năng lực sản xuất, năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh tốc độ xuất khẩu hàng may mặc. Đồng thời, các doanh nghiệp cũng cần chú ý đến việc tìm kiếm và mở rộng thị trường xuất khẩu bằng việc tích cực và chủ động hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Thứ hai: Phát triển theo chiều sâu nghĩa là tạo ra sự thay đổi trong chất lượng của hoạt động xuất khẩu bằng việc nâng cao chất lượng sản phẩm may mặc xuất khẩu, thay đổi phương thức xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu mặt hàng may mặc xuất khẩu, thị trường xuất khẩu, nâng cao năng lực sử dụng nguồn lực…nhằm tạo ra sự phát triển ổn định, liên tục và thu được giá trị gia tăng lớn hơn. Phát triển hàng may mặc theo chiều sâu còn thể hiện ở cách thức phát triển hướng đến sự bền vững bằng cách đáp ứng hài hòa ba mục tiêu cơ bản là kinh tế- xã hội- môi trường. Tức là GVHD: TS. NGUYỄN NGỌC DƯƠNG 5 SVTH: TRẦN THỊ PHƯỢNG HẠNH Đề tài: Phát triển xuất khẩu hàng may mặc của công ty TNHH SX KD TMDV Ngọc Khánh phát triển xuất khẩu hàng may mặc không chỉ đặt ra mục tiêu mở rộng quy mô, tăng trưởng kim ngạch mà còn hướng đến việc giảm tỷ lệ thất nghiệp, cải tạo cuộc sống công nhân, đóng góp vào sự tiến bộ chung cho toàn xã hội, đồng thời không làm suy kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên cho mai sau, không hủy hoại môi trường mà còn góp sức bảo vệ, chống ô nhiễm môi trường. Để thực hiện phát triển xuất khẩu theo chiều sâu, doanh nghiệp cần chú trọng vào khâu nâng cao chất lượng cho sản phẩm và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực thương mại trong hoạt động xuất khẩu, bao gồm nâng cao năng suất lao động, nâng cao năng suất sử dụng vốn trong hoạt động xuất khẩu hàng may mặc. 1.2. Chỉ tiêu đánh giá phát triển xuất khẩu hàng may mặc Đánh giá phát triển xuất khẩu mặt hàng may mặc là một trong những nội dung quan trọng của việc nghiên cứu sự phát triển xuất khẩu mặt hàng này. Chúng ta có thể sử dụng nhiều tiêu chí khác nhau để đánh giá, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu này, em đã xây dựng 2 hệ thống chỉ tiêu đánh giá phát triển xuất khẩu mặt hàng may mặc như sau: 1.2.1. Chỉ tiêu đánh giá phát triển xuất khẩu hàng may mặc theo chiều rộng - Sản lượng xuất khẩu: Đây là chỉ tiêu định lượng phản ánh khối lượng hàng may mặc được xuất khẩu sang thị trường nước ngoài của doanh nghiệp. Sản lượng tiêu thụ thể hiện cho năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Sản lượng xuất khẩu hàng may mặc lớn chứng tỏ quy mô doanh nghiệp lớn, năng lực sản xuất cao. Để đánh giá sự thay đổi sản lượng hàng may mặc xuất khẩu, ta có thể dựa vào hai chỉ tiêu sau: + Mức tăng tuyệt đối của sản lượng xuất khẩu ∆Q = Q1 – Q0 Trong đó: ∆Q là số lượng tăng tuyệt đối của sản lượng xuất khẩu kỳ hiện tại so với kỳ gốc Q1 là sản lượng hàng xuất khẩu ở kỳ hiện tại Q0 là sản lượng hàng xuất khẩu ở kỳ gốc Giá trị của ∆Q càng lớn thể hiện sự tăng lên càng mạnh sản lượng hàng may mặc xuất khẩu. GVHD: TS. NGUYỄN NGỌC DƯƠNG 6 SVTH: TRẦN THỊ PHƯỢNG HẠNH Đề tài: Phát triển xuất khẩu hàng may mặc của công ty TNHH SX KD TMDV Ngọc Khánh + Tốc độ tăng trưởng sản lượng hàng may mặc xuất khẩu g =  Q  100 % Q0 Tốc độ tăng trưởng sản lượng hàng may mặc xuất khẩu nhanh hay chậm thể hiện hiện trạng xuất khẩu ở từng thời kỳ. Nếu tốc độ tăng trưởng giảm sẽ báo hiệu tốc độ phát triển xuất khẩu hàng may mặc đang bị chững lại. Còn g tăng mạnh thể hiện sự bứt phá trong phát triển xuất khẩu hàng may mặc. - Kim ngạch xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc là đại lượng đo lường tổng giá trị của mặt hàng may mặc tham gia xuất khẩu được thống kê theo từng quý hoặc từng năm. Thông qua chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu có thể đánh giá được doanh số xuất khẩu trong một đơn vị thời gian là bao nhiêu, từ đó có thể so sánh được mức độ tăng giảm giá trị xuất khẩu qua các thời kỳ. Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất trong việc đánh giá kết quả hoạt động xuất khẩu của bất kỳ một doanh nghiệp, tổ chức hay quốc gia nào. Công thức tính: M = P x Q Trong đó: M: Kim ngạch từ hoạt động xuất khẩu mặt hàng đó P: Giá bán mặt hàng đó trên thị trường xuất khẩu Q: Số lượng hàng hóa xuất khẩu + Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu: ∆M = Mt – M0 Trong đó ∆M: Sự thay đổi kim ngạch xuất khẩu Mt: Kim ngạch xuất khẩu năm t M0: Kim ngạch xuất khẩu năm gốc + Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu: g(%) = ∆M/M0 x 100% Trong đó g: Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu Các chỉ tiêu M; ∆M và g thể hiện cho sự thay đổi về số lượng hay quy mô của mặt hàng xuất khẩu. Các chỉ tiêu ∆M và g càng lớn thì sự thay đổi trong quy mô xuất khẩu càng cao, chứng tỏ doanh nghiệp ngày một nâng cao được doanh số xuất khẩu. 1.2.2. Chỉ tiêu đánh giá phát triển xuất khẩu hàng may mặc theo chiều sâu - Sự thay đổi về chất lượng hàng may mặc xuất khẩu GVHD: TS. NGUYỄN NGỌC DƯƠNG 7 SVTH: TRẦN THỊ PHƯỢNG HẠNH Đề tài: Phát triển xuất khẩu hàng may mặc của công ty TNHH SX KD TMDV Ngọc Khánh Phát triển xuất khẩu hàng may mặc không thể tách rời việc nâng cao chất lượng sản phẩm, bởi đây là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của sản phẩm trên thị trường. Chất lượng hàng may mặc không ngừng được nâng cao sẽ có tác dụng tích cực trong việc nâng cao giá trị và giá trị sử dụng cho sản phẩm, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh bằng cách tạo ra nhiều yếu tố vô hình như thương hiệu, uy tín. Điều này thực sự rất quan trọng trong việc nâng tầm giá trị doanh nghiệp, tạo lập tên tuổi và thương hiệu thu hút khách hàng. - Sự chuyển dịch cơ cấu mặt hàng may mặc xuất khẩu Mục đích của sự chuyển dịch cơ cấu hàng may mặc xuất khẩu là điều chỉnh sự phát triển xuất khẩu theo hướng bền vững, hiệu quả hơn. Thực tế hiện nay, xu hướng phổ biến của các nước là thay thế xuất khẩu các mặt hàng may mặc gia công đơn giản, giá trị gia tăng thấp bằng những sản phẩm đẹp hơn, thời trang hơn, tinh xảo hơn, đòi hỏi nhiều chất xám và sáng tạo với giá trị gia tăng cao. Sự chuyển dịch cơ cấu mặt hàng xuất khẩu được biểu hiện qua sự thay đổi tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng đó trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Công thức tính: Trong đó R (A) = M (A)/ M x 100% R(A): Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng A M(A): Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng A M: Tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng - Sự chuyển dịch cơ cấu thị trường xuất khẩu Phản ánh tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc sang một thị trường cụ thể trên tổng kim ngạch xuất khẩu. Mục đích nhằm khai thác hiệu quả hơn các thị trường tiêu thụ, tránh sự phát triển không đồng đều gây ra tình trạng mất cân bằng trong xuất khẩu. - Sự chuyển dịch phương thức xuất khẩu Cơ cấu phương thức xuất khẩu phản ánh tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu bằng phương thức nào đó trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Hiện nay xuất khẩu hàng may mặc gồm các phương thức xuất khẩu chủ yếu sau: Chiếm tỷ trọng lớn nhất là gia công xuất khẩu, tiếp đến xuất khẩu trực tiếp, xuất khẩu gián tiếp, xuất khẩu tại chỗ… Mục đích của sự chuyển dịch phương thức xuất khẩu là nâng cao hiệu quả, tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm lớn hơn. Tuy nhiên thay đổi phương thức xuất GVHD: TS. NGUYỄN NGỌC DƯƠNG 8 SVTH: TRẦN THỊ PHƯỢNG HẠNH Đề tài: Phát triển xuất khẩu hàng may mặc của công ty TNHH SX KD TMDV Ngọc Khánh khẩu cần phải phù hợp với điều kiện thực tế và yêu cầu bên đặt hàng. Không thể nóng vội gây lãng phí trong việc đầu tư công nghệ sản xuất mới. - Sự chuyển dịch cơ cấu các thành phần kinh tế tham gia xuất khẩu Đó là việc thay đổi cơ cấu các thành phần kinh tế tham gia xuất khẩu hàng may mặc theo hướng hợp lý, hiệu quả hơn. Bằng việc đa dạng hóa các thành phần kinh tế tham gia xuất khẩu hàng may mặc như các tổ chức doanh nghiệp, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp Nhà nước… sẽ tạo ra một môi trường cạnh tranh hơn, qua đó thúc đẩy năng lực và hiệu quả sử dụng vốn, tạo ra động lực cho phát triển xuất khẩu hàng may mặc. - Lợi nhuận xuất khẩu Phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động xuất khẩu Công thức tính : P = TR - TC Trong đó P: Lợi nhuận từ hoạt động xuất khẩu TR: Tổng doanh thu từ hoạt động xuất khẩu TC: Tổng chi phí bỏ ra cho hoạt động xuất khẩu - Hiệu quả sử dụng nguồn lực thương mại: Đo lường mức độ sử dụng nguồn lực trong việc đạt tới những mục tiêu xác định trước. H NL  Công thức tính: TR TC NL Trong đó: HNL là hiệu quả sử dụng nguồn lực TCNL là chi phí sử dụng nguồn lực đó Nguồn lực sử dụng cho hoạt động xuất khẩu hàng may mặc bao gồm rất nhiều loại khác nhau. Trong đó quan trọng nhất là nguồn lực con người, nguồn lực tài chính, nguồn lực công nghệ… Cụ thể: Hiệu quả sử dụng vốn = Lợi nhuận/vốn kinh doanh Hiệu quả sử dụng lao động = Lợi nhuận/tổng số lao động Năng suất lao động = Doanh thu / Tổng số lao động 1.3. Giải pháp phát triển xuất khẩu hàng may mặc 1.3.1. Phát triển xuất khẩu hàng may mặc theo chiều rộng Mục tiêu của đẩy mạnh phát triển xuất khẩu theo chiều rộng là tăng sản lượng tiêu thụ hàng may mặc. Khi tăng sản lượng sẽ góp phần tăng doanh thu, sử GVHD: TS. NGUYỄN NGỌC DƯƠNG 9 SVTH: TRẦN THỊ PHƯỢNG HẠNH Đề tài: Phát triển xuất khẩu hàng may mặc của công ty TNHH SX KD TMDV Ngọc Khánh dụng được lợi thế từ hiệu ứng quy mô-khi sản xuất với số lượng càng lớn càng tiết kiệm được chi phí cố định, tăng năng lực sản xuất dẫn đến tăng lợi nhuận. Doanh nghiệp muốn tăng được sản lượng tiêu thụ thì phải mở rộng thị trường bằng cách thâm nhập thêm thị trường mới hoặc phát triển thị trường cũ qua chính sách phân phối, chiêu thị, đa dạng hoá hình thức xuất khẩu. 1.3.1.1. Lựa chọn thị trường xuất khẩu Các công ty sản xuất – xuất nhập khẩu sẽ phải trả lời câu hỏi: + Tỷ lệ mà nó sẽ mở rộng hoạt động quốc tế là bao nhiêu? + Quốc gia nào sẽ xâm nhập? + Phân đoạn thị trường nào phải cung ứng? + Phân bổ nguồn lực và nỗ lực như thế nào cho tốt? * Những căn cứ lựa chọn: - Về chính trị: + Thể chế chính trị của các quốc gia đó có thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu của công ty không? + Sự ổn định hay bất ổn định về mặt chính trị của quốc gia đó. - Về điều kiện tự nhiên - Về dân số - Các biến số kinh tế: GDP, GNP - Trình độ phát triển công nghệ kỹ thuật - Nhóm căn cứ vào quy chế tiền tệ: + Hình thức bảo hộ mậu dịch + Tình hình tiền tệ, lạm phát, diễn biến của tỷ giá hối đoái - Căn cứ thương mại: + Quy mô và tính năng động thị trường + Sự cạnh tranh quốc tế + Tham gia các liên kết kinh tế + Các yếu tố văn hóa, thói quen tiêu dùng tôn giáo 1.3.1.2. Xúc tiến thương mại Xúc tiến thương mại là một lĩnh vực hoạt động đặc thù và có chủ định của công ty kinh doanh nhằm định hướng vào việc chào hàng, chiêu khách và xác định mối quan hệ thuận lợi nhất giữa công ty và tập khách hàng tiềm năng trọng GVHD: TS. NGUYỄN NGỌC DƯƠNG 10 SVTH: TRẦN THỊ PHƯỢNG HẠNH Đề tài: Phát triển xuất khẩu hàng may mặc của công ty TNHH SX KD TMDV Ngọc Khánh điểm. * Các quyết định về xúc tiến: Các quyết định xúc tiến có quan hệ lẫn nhau và gồm các hình thức sau: - Bán hàng cá nhân: người bán hàng truyền đạt một cách trực diện đến khách hàng tiềm năng. - Quảng cáo: đó là các thông điệp bán hàng qua các phương tiện thông ti đại chúng với điều kiện người làm quảng cáo phải trả tiền. - Xúc tiến bán: đó là tất cả các hoạt động bán hàng mang tính chất bổ xung và củng cố việc bán hàng cá nhân và quảng cáo. Các hoạt động này thị trường không định kỳ và có thời gian tồn tại tương đối ngắn. Các hình thức xúc tiến:  Catalog cho nước ngoài  Hàng mẫu  Xuất bản phẩm về công ty hay tổ chức  Triển lãm và hội chợ  Các tài liệu khác liên quan - Quan hệ công chúng: là một quan hệ kinh doanh đặc thù nhằm đánh giá thái độ của một nhóm liên quan nhận biết được các yếu tố ảnh hưởng đến lợi ích của nhóm này nhằm hướng được sự hiểu biết và tin tưởng của họ đối với hoạt động kinh doanh của công ty. 1.3.1.3. Phân phối sản phẩm Để kết nối giữa công ty với khách hàng của mình trên thị trường quốc tế, công ty cần nghiên cứu để đưa ra những chiến lược phân phối cho phù hợp với nguồn lực của mình. * Chiến lược phân phối nước ngoài: Đây là một kế hoạch mục tiêu nhằm đạt được mục tiêu phân phối giữa các quốc gia của công ty ở thị trường nước ngoài. Đối với chiến lược này, chỉ quan tâm đến lựa chọn đánh giá và kiểm soát các thành viên kênh. * Chiến lược phân phối quốc tế: Là một kế hoạch mục tiêu nhằm đạt được mục tiêu phân phối giữa các quốc gia của công ty. Công ty cần lựa chọn và quản lý các thành viên kênh, đồng thời ra quyết định về nguồn cung cấp, dự trữ và vận chuyển cùng với hệ thống kiểm soát hậu cần nhằm hỗ trợ đạt được các mục tiêu của công ty. GVHD: TS. NGUYỄN NGỌC DƯƠNG 11 SVTH: TRẦN THỊ PHƯỢNG HẠNH Đề tài: Phát triển xuất khẩu hàng may mặc của công ty TNHH SX KD TMDV Ngọc Khánh * Chiến lược phân phối toàn cầu: Là một kế hoạch mục tiêu nhằm đạt được đồng thời các mục tiêu phân phối trên thị trường toàn cầu và trên thị trường nước ngoài của công ty. Công ty cần phải có những quyết định về nguồn cung cấp, dự trữ, vận chuyển cũng như kênh địa phương cho từng thị trường. Ngoài ra công ty cần phát triển hệ thống phân phối đan chéo quốc gia và một tập hợp các hệ thống phân phối nước ngoài để hỗ trợ đồng thời việc giành được mục tiêu của công ty. Tùy theo khả năng của mình mà công ty cần lựa chọn một hoặc một số chiến lược phù hợp và thiết lập một quy trình phân phối chung theo các bước sau: - Thiết lập chính sách phân phối xuất khẩu - Thiết lập các mục tiêu của kênh phân phối và các hạn chế của kênh phân phối - Xác lập hệ thống các kênh phân phối thế vị - Đánh giá kênh phân phối xuất khẩu - Lựa chọn các thành viên kênh - Quản trị các mối quan hệ kênh 1.3.2. Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng may mặc theo chiều sâu 1.3.2.1. Nâng cao chất lượng sản phẩm Sản phẩm xuất khẩu là những sản phẩm mà khách hàng hay người tiêu dùng mua ở thị trường nước ngoài để tiêu dùng nhằm thỏa mãn về vật chất hoặc tinh thần. Sự cạnh tranh, phát triển kỹ thuật, những nhu cầu mới của khách hàng là những điều bức xúc đòi hỏi doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện về sản phẩm của mình. Doanh nghiệp có thể đạt được bằng cách mua lại bằng sáng chế, giấy phép, triển khai mặt hàng mới, cải tiến mặt hàng cũ. - Kế hoạch hóa và phát triển sản phẩm xuất khẩu có các hình thức: + Giữ nguyên cách phổ biến có nghĩa là khi sản xuất hàng hóa cho thị trường nước ngoài không có sự thay đổi nào. Việc giữ nguyên cách phổ biến có sức hấp dẫn vì nó không đòi hỏi chi phí thêm, không đòi hỏi trang bị lại sản xuất hay thay đổi biện pháp kích thích. Nhưng xét về lâu dài, đó có thể là hình thức tốn kém. + Cải tiến hay thay đổi sản phẩm hiện tại: cho phù hợp với những điều kiện hay sở thích của địa phương. Công ty có thể gia tăng hiệu quả sử dụng sản phẩm, thay đổi hình dáng, màu sắc của bao bì, tăng thêm các dịch vụ bổ trợ GVHD: TS. NGUYỄN NGỌC DƯƠNG 12 SVTH: TRẦN THỊ PHƯỢNG HẠNH Đề tài: Phát triển xuất khẩu hàng may mặc của công ty TNHH SX KD TMDV Ngọc Khánh trước, trong và sau khi bán để tăng tính thích ứng, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm. - Quyết đinh bao bì: bao bì có thể là cách rẻ nhất, nhanh nhất và dễ nhất để thích ứng một sản phẩm vào một thị trường. Bao bì là nhằm bảo vệ và khuếch trương sản phẩm. Khi thiết kế bao bì phải chú ý đến thị hiếu thẩm mỹ và phải thuận tiện cho việc vận chuyển và sử dụng. - Quyết định nhãn mác: chức năng quan trọng nhất của nhãn mác là để nhận biết sản phẩm và người sở hữu nhãn hiệu đó. Do vậy, nhãn mác phải phù hợp với từng loại sản phẩm, rõ ràng, dễ gây ấn tượng và phải tạo sự khác biệt với các nhãn mác của sản phẩm khác nhưng tuân thủ theo pháp luật, phù hợp với quan niệm và thị hiếu của khách hàng. 1.3.2.2. Chính sách giá xuất khẩu Đây là một trong những quyết định khó khăn nhất. Việc định giá xuất khẩu thường đối mặt với một số vấn đề như sau: * Mối quan hệ giữa giá xuất nhập khẩu và giá nội địa - Giá xuất nhập khẩu cao hơn giá nội địa: mối quan hệ này được xác định trên cơ sở chi phí ban đầu cho việc tổ chức xâm nhập thị trường nước ngoài tăng lên đáng kể, chi phí phân phối, bán hàng có thể cao hơn so với thị trường nội địa do sự phức tạp của hệ thống phân phối, thủ tục và chiết khấu thương mại cao. - Định giá xuất khẩu ngang bằng với giá trong nước: phù hợp với công ty lần đầu tiên tham gia xuất khẩu, chưa nắm đầy đủ các điều kiện ở thị trường nước ngoài. - Định giá xuất khẩu thấp hơn giá trong nước: định giá xuất khẩu trong điều kiện giao hàng FOB thấp hơn giá trong nước xuất phát từ những lý do sau: + Mức thu nhập thấp ở một số thị trường nước ngoài có thể đòi hỏi công ty định giá thấp hơn để đạt được mục tiêu khối lượng. + Sự cạnh tranh ở thị trường nước ngoài quyết liệt buộc công ty phải định giá thấp. + Công ty nhận thấy rằng thậm chí xuất khẩu với giá FOB thấp hơn giá nội địa nhưng do các chi phí vận tải, thuế và các chi phí khác phát sinh cao nên sản phẩm được bán ở nước ngoài với giá cao hơn. + Công ty có thể cho rằng những chi phí xuất khẩu thực tế thấp vì GVHD: TS. NGUYỄN NGỌC DƯƠNG 13 SVTH: TRẦN THỊ PHƯỢNG HẠNH Đề tài: Phát triển xuất khẩu hàng may mặc của công ty TNHH SX KD TMDV Ngọc Khánh những chi phí nghiên cứu và phát triển điều hành và một số chi phí khác được hạch toán vào sản phẩm được bán ở thị trường trong nước. * Những quyết định giá xuất khẩu Tìm ra những mức giá ở thị trường nước ngoài hợp lý là một nhiệm vụ rất quan trọng. Hơn nữa các công ty xuất khẩu cần phải định hướng thị trường trong những quyết định giá và điều kiện thanh toán, điều kiện giao hàng. Dưới đây ta xem xét những quyết định liên quan đến giá cả và những điều kiện bán cho những nhà nhập khẩu: - Quyết định về đồng tiền tính giá - Định giá xuất khẩu thích ứng với điều kiện cơ sở giao hàng tương ứng - Định giá xuất khẩu thích ứng với phương thức thanh toán 1.3.2.3. Lựa chọn hình thức xuất khẩu Phương thức xuất khẩu được coi là phương thức xâm nhập thị trường quốc tế phổ biến và đơn giản nhất từ trước tới nay. Xuất khẩu là phương thức đầu tiên được các công ty kinh doanh quốc tế lựa chọn để tiến hành xâm nhập thị trường quốc tế. Xuất khẩu có thể được tổ chức theo nhiều cách thức khác nhau phụ thuộc vào số lượng và loại hình trung gian thương mại. * Xuất khẩu gián tiếp Là phương thức sử dụng các đại lý xuất khẩu hoặc các công ty thương mại quốc tế hoặc bán hàng cho chi nhánh của các tổ chức nước ngoài đặt ở trong nước. Với việc sử dụng phương thức xuất khẩu này, các công ty sẽ không phải đối mặt với nhiều rủi ro trong kinh doanh, đặc biệt khi các tổ chức nước ngoài sở hữu hoàn toàn về hàng hóa thì rủi ro hầu như là không có. Có thể xem đây là hình thức bán hàng trong nước. Loại hình xuất khẩu này là phù hợp với các công ty mà mục tiêu mở rộng ra thị trường nước ngoài và nguồn lực cho việc xâm nhập thị trường quốc tế là hạn chế. Và tất nhiên, lợi nhuận thu về là không nhiều do công ty phải chia sẻ cho nhà xuất khẩu trung gian một khoản phí khá lớn. Tuy nhiên, việc sử dụng loại hình xuất khẩu này công ty sẽ gặp một số rủi ro cụ thể như: Thứ nhất, công ty sẽ hạn chế về việc kiểm soát được toàn bộ cách thức GVHD: TS. NGUYỄN NGỌC DƯƠNG 14 SVTH: TRẦN THỊ PHƯỢNG HẠNH Đề tài: Phát triển xuất khẩu hàng may mặc của công ty TNHH SX KD TMDV Ngọc Khánh hàng hóa và dịch vụ được bán ở thị trường nước ngoài, sản phẩm có thể được bán qua những kênh phân phối không thích hợp với dịch vụ và nỗ lực hạn chế xúc tiến không hiệu quả, không đúng với mục tiêu mong đợi của công ty. Rất có thể ảnh hưởng lớn đến uy tín và hình ảnh của công ty trên thị trường nước ngoài làm mất những cơ hội hiếm có để mở rộng thị trường. Thứ hai, đó là khả năng xác lập mối liên hệ trực tiếp với thị trường quốc tế của công ty là hạn chế. Thông tin thị trường giữa doanh nghiệp sản xuất và người tiêu dùng là bị ngăn cách một cách gián tiếp qua trung gian thương mại, thông tin có thể không còn chính xác hoặc sai sự thật. Đồng thời, công ty sẽ rất khó khăn trong nắm bắt thị hiếu tiêu dùng luôn thay đổi ở nước ngoài. Từ đó việc tạo ra sản phẩm nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu tiêu dùng của khách hàng là khó khăn. Thứ ba, khả năng bị mất thương hiệu là rất cao nếu công ty không tìm cách đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu độc quyền sản phẩm của công ty. Việc sử dụng kênh phân phối gián tiếp không hẳn đã là bước đầu tiên có hiệu quả để tiến hành mở rộng thị trường quốc tế. Do đó, đòi hỏi phải cân nhắc cẩn thận cho những chiến lược phát triển lâu dài và tăng trưởng ở thị trường quốc tế. * Hợp tác xuất khẩu Phương thức này thích hợp cho các công ty hạn chế nguồn lực hoặc khối lượng bán không đủ lớn để thiết lập một bộ phận xuất khẩu mà lại muốn kiểm soát được thị trường quốc tế ở mức độ nào đó. Trong trường hợp này công ty thỏa thuận với một công ty khác để phối hợp các hoạt động nghiên cứu, xúc tiến thương mại, vận tải, phân phối, tiêu thụ và các hoạt động khác liên quan đến thị trường xuất khẩu. Việc sử dụng phương thức này cho phép công ty có thể xâm nhập được thị trường quốc tế mà vẫn có thể kiểm soát được phần nào các hoạt động phân phối bán hàng, xúc tiến thương mại nguồn thông tin thị trường là cập nhật hơn phương thức xuất khẩu gián tiếp do có sự ràng buộc về trách nhiệm giữa hai bên được nêu rõ trong hợp đồng thỏa thuận. Tất nhiên, lợi nhuận thu về lúc này vẫn chưa là tối đa hóa do bị phân chia với đối tác. * Xuất khẩu trực tiếp Khi mà khối lượng xuất khẩu đủ lớn và công ty muốn tập trung nguồn lực của mình vào phát triển thị trường quốc tế thì việc thiết lập tổ chức (chi nhánh, bộ phận) xuất khẩu là thích hợp. Tổ chức xuất khẩu này có thể bố trí ở trong nước GVHD: TS. NGUYỄN NGỌC DƯƠNG 15 SVTH: TRẦN THỊ PHƯỢNG HẠNH Đề tài: Phát triển xuất khẩu hàng may mặc của công ty TNHH SX KD TMDV Ngọc Khánh hoặc ở thị trường nước ngoài. Trong trường hợp này, tổ chức xuất khẩu có thể đảm nhiệm tất cả các chức năng xuất khẩu, từ việc xác định thị trường tiềm năng, phân đoạn thị trường, thu xếp thủ tục chứng từ xuất khẩu, vận tải cho đến hoạch định triển khai kế hoạch giá, xúc tiến, phân phối sản phẩm cho thị trường quốc tế. Xuất khẩu trực tiếp thường đòi hỏi chi phí cao hơn và ràng buộc nguồn lực lớn để phát triển thị trường. Tuy nhiên, công ty đã đạt được nỗ lực bán hàng và xúc tiến hiệu quả hơn, cho phép công ty duy trì và kiểm soát được ở mức độ cao tất cả các điều kiện mà trong đó sản phẩm được bán ở thị trường quốc tế. Mặt khác, xuất khẩu trực tiếp còn cho phép công ty có sự liên hệ trực tiếp với thị trường, nắm bắt được phản ứng của thị trường để tìm ra những cơ hội mới và xu hướng mới của thị trường, quản lý các hoạt động, nắm bắt, hiểu biết các đối thủ cạnh tranh để điều chỉnh những kế hoạch thích ứng. 1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển xuất khẩu hàng may mặc 1.4.1. Nhân tố thị trường 1.4.1.1. Một số thị trường nhập khẩu hàng may mặc của Việt Nam EU, Mỹ, Nhật Bản là những nền kinh tế lớn trên thế giới, được mệnh danh là những “xã hội tiêu dùng”. Với mức thu nhập của người dân cao nên tiềm năng khi xuất khẩu hàng hóa vào các thị trường này là rất lớn. Tuy nhiên, do khác nhau về yếu tố địa lý, văn hóa, phong tục, tập quán,… mỗi thị trường lại có những đặc điểm tiêu dùng riêng của mình mà nhà xuất khẩu muốn bán hàng thành công cần phải nắm vững. Dưới đây là đặc điểm của từng thị trường: - Liên minh Châu Âu (EU) Liên minh châu Âu (EU) là khối thị trường chung, khối liên kết kinh tế khu vực lớn nhất trên thế giới với 27 quốc gia thành viên, tổng diện tích khoảng 4 triệu km2, dân số gần 500 triệu người nên nhu cầu về hàng hóa rất đa dạng và phong phú. Bên cạnh đó, các nước thành viên đều nằm trong khu vực Tây và Bắc Âu nên cũng có những nét tương đồng về kinh tế và văn hóa. Trình độ phát triển kinh tế của những nước này khá đồng đều nên người dân EU có một số điểm chung về sở thích thói quen tiêu dùng. Nhìn chung EU là một thị trường lớn nhưng khó GVHD: TS. NGUYỄN NGỌC DƯƠNG 16 SVTH: TRẦN THỊ PHƯỢNG HẠNH Đề tài: Phát triển xuất khẩu hàng may mặc của công ty TNHH SX KD TMDV Ngọc Khánh tính, người tiêu dùng EU có thị hiếu thay đổi nhanh, yêu cầu cao về chất lượng hàng hóa, vệ sinh môi trường, nhãn mác, bao bì... Các doanh nghiệp nước ngoài muốn thâm nhập được thị trường EU phải có khả năng cạnh tranh cao và trình độ kinh doanh chuyên nghiệp. Đối với mặt hàng dệt may, khách hàng EU rất quan tâm đến chất lượng và thời trang, do đó yếu tố này có khi lại quan trọng hơn yếu tố về giá cả. EU là nơi hội tụ của những kinh đô thời trang thế giới nên họ đòi hỏi khắt khe về kiểu dáng và mẫu mốt. Sản phẩm dệt may tiêu thụ ở thị trường này mang tính thời trang cao, luôn thay đổi mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc, chất liệu để đáp ứng được tâm lý thích đổi mới, độc đáo và gây ấn tượng của người tiêu dùng. Người tiêu dùng EU có sở thích và thói quen sử dụng hàng của những hãng nổi tiếng thế giới vì họ cho rằng những nhãn hiệu này gắn liền với chất lượng và uy tín lâu đời nên sử dụng những mặt hàng này có thể yên tâm về chất lượng và an toàn cho người sử dụng. Do mức sống cao nên người dân EU yêu cầu khắt khe về chất lượng và độ an toàn của sản phẩm dệt may. Vì thế cạnh tranh về giá không hẳn là biện pháp tối ưu khi xâm nhập thị trường EU. Người dân EU cũng đòi hỏi sản phẩm dệt may phải an toàn cho người sử dụng không gây dị ứng, tạo cảm giác khó chịu cho người mặc, không có một số hoá chất mà hiệp hội dệt may Châu Âu cấm sử dụng. Thị trường Châu Âu còn sử dụng những tiêu chuẩn đánh giá chất lượng rất khắt khe như: tiêu chuẩn ISO 9000 và ISO 14000. Một điều cần lưu ý nữa là mức độ mua sắm của người dân EU, trong 10 năm qua, người tiêu dùng EU thường chờ 5-6 tháng mới mua sản phẩm may mặc mới vào hai vụ đông, hè. Tuy nhiên, hiện nay họ có xu hướng muốn mua sản phẩm mới nhanh hơn. Như vậy, thay cho hai mùa thời trang trước đây thì nay ở EU có tới 5-6 mùa thời trang gồm trước vụ, chính vụ và sau vụ cho mỗi vụ đông, hè. Khi chỉ có hai mùa thời trang, các nhà nhập khẩu EU thường đặt mua (chẳng hạn) 10.000 sản phẩm cho mỗi lô hàng nhưng nay họ chỉ đặt mua 3.000 sản phẩm mỗi lần. Điều này tạo bất lợi cho các nhà cung cấp vì muốn thu được nhiều lợi nhuận nhờ sản xuất hàng số lượng lớn. Theo đó, các nhà sản xuất phải tìm hiểu những dự báo về thời trang ở EU, gồm kiểu dáng, chất liệu, thiết kế 1 năm trước khi tung ra sản phẩm và chuẩn bị mua nguyên liệu đầu vào để đáp ứng kịp thời nhu cầu của các nhà nhập khẩu EU. Một điều cần lưu ý nữa khi xuất hàng sang EU là bên cạnh các tiêu chuẩn GVHD: TS. NGUYỄN NGỌC DƯƠNG 17 SVTH: TRẦN THỊ PHƯỢNG HẠNH Đề tài: Phát triển xuất khẩu hàng may mặc của công ty TNHH SX KD TMDV Ngọc Khánh kỹ thuật của khối thống nhất đưa ra, thì mỗi nước cũng có những quy định riêng của mình mà khi xuất hàng vào từng nước cần phải chú ý đến. Ví dụ như Thông tư 91/173/EC của EU quy định hạn chế việc sử dụng Pentaclophenol (chất sử dụng tránh sự phát triển của nấm và thối rữa do vi khuẩn) trong các sản phẩm nhất định. Tuy nhiên, một số nước EU như Đức, Hà Lan, Nauy, Đan Mạch đã đưa ra luật bổ sung nghiêm ngặt hơn là cấm bán các sản phẩm có chứa Pentaclophenol. Ngoài ra, còn có các luật riêng như luật của Đức về crom và hữu cơ thiếc trong sản phẩm quần áo, luật Đan Mạch về giới hạn chì, luật Nauy về thủy ngân và parafin… - Hoa Kỳ (Mỹ) Mỹ là thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất trên thế giới do dân số Mỹ tương đối đông, nhu cầu tiêu dùng tương đối lớn mà sản xuất dệt may nội địa không đáp ứng được do khó cạnh tranh với hàng dệt may nhập khẩu từ các nước đang phát triển, có mức giá thành rẻ do chi phí nhân công thấp. Thị trường Mỹ là một thị trường lớn và tương đối dễ tính. Phải thấy rằng người dân Mỹ chuộng mua sắm vì họ cho rằng càng mua sắm nhiều càng kích thích sản xuất và dịch vụ phát triển, tức là nền kinh tế sẽ tăng trưởng. Đối với mặt hàng dệt may, nhìn chung người dân Mỹ thích sự giản tiện, hiện đại nhưng hợp mốt và càng độc đáo khác biệt thì sẽ càng được tiêu thụ mạnh. Thị hiếu của người tiêu dùng Mỹ cũng khá đa dạng, do trên đất Mỹ có nhiều nền văn hóa khác nhau đang cùng tồn tại, từ châu Âu cho đến châu Á. Người tiêu dùng Mỹ lại khá dễ tính, so sánh thị trường Mỹ với thị trường châu Âu, ta có thể thấy sự khác biệt rõ nhất trong tiêu chí chọn mua hàng hóa là người dân Mỹ thường quan tâm tới giá cả trong khi người châu Âu lại quan tâm tới chất lượng. Bởi cùng một số đồ vật nhưng thời gian sử dụng của người Mỹ có thể chỉ bằng một nửa thời gian sử dụng của người tiêu dùng các nước phát triển khác. Vì sự thay đổi liên tục đó, yếu tố giá cả mới là yếu tố quan trọng. Về chất liệu, cotton luôn được ưa chuộng tại Hoa Kì, với số lượng nhập khẩu quần áo chất liệu cotton luôn chiếm khoảng 60% trong tổng số hàng dệt may nhập khẩu. - Nhật Bản Là một nước có nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới và nhập khẩu dệt may hàng đầu, Nhật Bản có sức ảnh hưởng lớn đến nhu cầu hàng hoá và dịch vụ của thế GVHD: TS. NGUYỄN NGỌC DƯƠNG 18 SVTH: TRẦN THỊ PHƯỢNG HẠNH Đề tài: Phát triển xuất khẩu hàng may mặc của công ty TNHH SX KD TMDV Ngọc Khánh giới. Cụ thể hơn, Nhật như là một nhà tiêu thụ quần áo chủ chốt và tầm ảnh hưởng của xu hướng thời trang tại quốc gia này không thể phủ nhận. Nhật Bản chỉ đứng sau Mỹ về chi tiêu cho quần áo và nhu cầu về bông. Một vài thập kỷ gần đây, hàng nhập khẩu luôn chiếm phần lớn trong tổng doanh số bán lẻ và tiêu dùng hàng may mặc tại Nhật. Nhập khẩu quần áo tăng trung bình 7,5% mỗi năm trong 2 thập kỷ qua. Tuy nhiên đây cũng là một thị trường khó tính với những đòi hỏi khắt khe cả về chất lượng và giá cả. Theo Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO), thị hiếu tiêu dùng của người Nhật bắt nguồn từ truyền thống văn hóa và điều kiện kinh tế. Nhìn chung họ có trình độ thẩm mỹ cao, tinh tế do có cơ hội được tiếp cận với nhiều loại hàng hóa dịch vụ trong và ngoài nước. Đối với hàng dệt may, thị trường tiêu dùng Nhật là một thị trường phát triển. Yếu tố giá cả không phải là yếu tố quyết định thành công của nhà xuất khẩu nước ngoài. Quan trọng hơn, các nhà xuất khẩu và các nhà sản xuất phải tạo dựng được tiếng tăm và uy tín sản phẩm của mình thì mới có cơ hội lâu dài. Sản phẩm nào đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng về chất liệu, trình độ kỹ thuật, tay nghề thì sẽ có ưu thế cạnh tranh. Khác với xuất khẩu sang châu Âu thường là các lô hàng lớn, xuất khẩu sang Nhật bản thường là các lô hàng nhỏ, chủng loại đa dạng, vòng đời sản phẩm ngắn. Rất nhiều sản phẩm được cấp giấy chứng nhận chất lượng ở nước xuất khẩu nhưng lại không đạt yêu cầu khắt khe khi vào thị trường Nhật. Tiêu chuẩn chất lượng Châu Âu và Mỹ đều chú ý vào hình thức bên ngoài mà không đi sâu vào chi tiết bên trong, chủ yếu liên quan đến tay nghề công nhân. Nhưng người tiêu dùng Nhật lại luôn có xu hướng đòi hỏi sự hoàn hảo trong toàn bộ sản phẩm họ mua. Họ chú ý đến cả những khuyết tật nhỏ nhất trên sản phẩm như vết xước, rạn, ngay cả khi những tỳ vết này là đặc điểm cố hữu trên nguyên liệu sử dụng. 1.4.1.2. Rào cản kỹ thuật áp dụng đối với hàng may mặc Ngày nay, xu hướng tự do hóa thương mại ngày càng phát triển, một tất yếu khách quan là khi các nước ngày càng giảm sử dụng các hàng rào thuế quan trong quan hệ thương mại quốc tế thì các hàng rào phi thuế ngày càng được gia tăng áp dụng để bảo hộ nền sản xuất trong nước. Trong các hàng rào phi thuế quan, hệ thống hàng rào kỹ thuật được xem là một trong những nhóm biện pháp hữu hiệu nhất để ngăn chặn hàng xuất khẩu. Nhìn chung, hầu hết các thị trường GVHD: TS. NGUYỄN NGỌC DƯƠNG 19 SVTH: TRẦN THỊ PHƯỢNG HẠNH Đề tài: Phát triển xuất khẩu hàng may mặc của công ty TNHH SX KD TMDV Ngọc Khánh nhập khẩu hàng may mặc lớn của ta đều áp dụng những biện pháp như sau: - Các biện pháp bảo vệ sự an toàn và sức khỏe của con người: Bao gồm những tiêu chuẩn được đặt ra để bảo vệ an toàn và sức khoẻ của cá nhân như các tiêu chuẩn về thiết bị điện, hoặc các quy định về sử dụng các vật liệu chậm cháy, các quy định về chất lượng sản phẩm (ví dụ: yêu cầu không sử dụng các nguyên liệu gây nguy hiểm để sản xuất sản phẩm, ghi nhãn chính xác về hàm lượng, trọng lượng và con số đo lường chính xác v.v...). - Các biện pháp bảo vệ sự sống, sức khỏe của động vật và thực vật, các biện pháp để bảo vệ các loài sinh vật quý hiếm, hoặc để bảo vệ các loài cây quý hiếm. Đặc biệt, ở một số nước phát triển, việc buôn bán các sản phẩm từ một số động vật cũng có những quy định cụ thể, như việc sử dụng da của một số loài động vật quý hiếm để sản xuất ra các loại áo choàng, túi xách… - Các biện pháp bảo vệ môi trường: Bao gồm, việc sử dụng các loại thuốc nhuộm, hóa chất trong may mặc và công nghệ xử lý rác thải và nước thải công nghiệp. Các nước công nghiệp tiên tiến cũng ngày càng quan tâm đến các vấn đề về môi trường, liên quan đến phế thải và yêu cầu cần tái chế, điều này dẫn đến việc tăng chi phí của các nhà sản xuất. - Các qui định để bảo vệ công chúng, người tiêu dùng hoặc để cung cấp dữ liệu phục vụ cho việc kiểm soát chất lượng, như các thông số ghi trên nhãn mác sản phẩm, các quy định về chất lượng của sản phẩm khi đưa ra thị trường. - Các biện pháp bảo vệ an ninh quốc phòng 1.4.2. Năng lực cạnh tranh của hàng may mặc Việt Nam Năng lực cạnh tranh của ngành hàng may mặc chính là thước đo nội lực của ngành được thể hiện thông qua năng lực của đội ngũ lao động, trình độ công nghệ, cơ sở vật chất hạ tầng, mạng lưới phân phối, năng lực tài chính.. Có thể thấy năng lực cạnh tranh của ngành hàng may mặc nước ta vừa mạnh lại vừa yếu. Đó chính là vì sự phát triển không đồng đều giữa các nguồn lực trong ngành - Điểm mạnh + Ngành dệt may nước ta có lợi thế rất lớn về lao động: Đó là chúng ta có một nguồn lao động dồi dào, khéo léo, cần cù, chịu khó trong khi tiền gia công sản phẩm lại rẻ, chi phí nhân công thấp. Điều này làm cho chi phí sản xuất thấp, giá thành sản phẩm rất cạnh tranh. GVHD: TS. NGUYỄN NGỌC DƯƠNG 20 SVTH: TRẦN THỊ PHƯỢNG HẠNH
- Xem thêm -