Phát triển quan hệ thương mại Việt - Nga sau khi Việt Nam gia nhập WTO

  • Số trang: 104 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 21 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Lời mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài Lịch sử quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga đã trải qua hơn một nửa thế kỷ. Tình hữu nghị giữa nhân dân Nga và nhân dân Việt Nam được hình thành từ những năm tháng khó khăn khi Việt Nam còn đang đấu tranh giành độc lập tự do. Ngày hôm nay chúng ta có thể tự hào nói rằng, trong những chiến thắng và thành quả lao động vinh quang của nhân dân Việt Nam có sự đóng góp không nhỏ của nước Nga anh em. 55 năm trước, Liên Xô là một trong những nước đầu tiên trên thế giới công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, đặt nền móng cho tình hữu nghị bền chặt và quan hệ hợp tác tốt đẹp giữa hai nước sau này. Lịch sử cho thấy mối quan hệ giữa Việt Nam với Liên Xô trước đây, và với Liên bang Nga ngày nay luôn nồng ấm, tin cậy, vượt qua mọi thử thách của thời gian và biến động của lịch sử. Khi hai nước thực hiện cải cách, cải tổ, chuyển đổi cơ chế kinh tế, nhất là sau khi Liên Xô tan rã năm 1991, quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga trong hầu hết các lĩnh vực đều bị chững lại và suy giảm đáng kể. Tuy nhiên, sự đổi mới kinh tế ở hai nước, đặc biệt từ khi Tổng thống Putin lên nắm quyền và sự kiện Việt Nam gia nhập WTO, đã làm cho quan hệ giữa hai nước chuyển sang một thời kỳ mới, từng bước được phục hồi. Nền kinh tế Liên bang Nga thoát ra khỏi khủng hoảng và bắt đầu phát triển tương đối ổn định, bên cạnh đó, Việt Nam cũng trở thành một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong khu vực và trên thế giới. Điều này đã tạo cơ sở vững chắc cho việc khôi phục và phát triển quan hệ hợp tác thương mại giữa hai nước trong giai đoạn hiện nay. Có thể khẳng định rằng, Liên Bang Nga vẫn là một thị trường rộng lớn có nhiều tiềm năng để Việt Nam có thể đẩy mạnh xuất nhập khẩu, phát huy được các lợi thế so sánh của mình. Mặt khác, đây cũng là thị trường truyền thống của Việt Nam nên có nhiều thuận lợi hơn là khi xâm nhập vào các thị ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- trường mới. Chính vì lẽ đó, nghiên cứu về kinh tế Liên bang Nga và nhìn nhận lại quan hệ hợp tác thương mại giữa Việt Nam và Liên bang Nga cũng như xem xét triển vọng của nó trong tương lai, tìm ra các phương hướng, biện pháp nhằm tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ, đưa quan hệ thương mại Việt Nga đi vào chiều sâu có hiệu quả hơn, tương xứng với tiềm năng to lớn của hai nước là một vấn đề hết sức thiết thực, có ý nghĩa cấp bách, mang tầm chiến lược lâu dài. Đây cũng là lý do em chọn đề tài “Phát triển quan hệ thương mại Việt - Nga sau khi Việt Nam gia nhập WTO”. 2. Mục tiêu chính của đề tài - Tìm hiểu về tình hình phát triển kinh tế Liên bang Nga trong thời gian gần đây. - Đánh giá thực trạng quan hệ thương mại Việt - Nga trong thời gian qua. - Nhận định và đánh giá triển vọng phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Liên bang Nga khi Việt Nam gia nhập WTO. 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tình hình phát triển kinh tế, xuất nhập khẩu, các chính sách thương mại của của Nga, đánh giá những thuận lợi, khó khăn, dự báo triển vọng phát triển quan hệ thương mại giữa hai nước khi Việt Nam gia nhập WTO. Về thời gian nghiên cứu, đề tài tập trung vào quan hệ thương mại Việt – Nga trong giai đoạn 1991 – 2006, đặc biệt là giai đoạn 2000 - 2006 và những triển vọng phát triển quan hệ thương mại giữa hai nước khi Việt Nam gia nhập WTO. 4. Phương pháp nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở áp dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích, thống kê, tham khảo qua tài liệu sách báo, Internet… ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 5. Nội dung khóa luận Khoá luận gồm 3 chương: Chương 1: Tổng quan về thương mại quốc tế và sự thay đổi trong thương mại quốc tế của Việt Nam khi Việt Nam gia nhập WTO Chương 2: Thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam - Liên bang Nga Chương 3: Một số giải pháp phát triển quan hệ thương mại Việt - Nga sau khi Việt Nam gia nhập WTO Do trình độ hiểu biết còn hạn chế cho nên khoá luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo. Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo, những người đã giảng dạy và truyền thụ những kiến thức quý báu cho em có hiểu biết sâu rộng về nghiệp vụ chuyên môn của mình. Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn cô giáo, ThS Nguyễn Tuyết Nhung đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu, thu thập tài liệu và hoàn thành khoá luận này. ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Chương 1 Tổng quan về thương mại quốc tế và sự thay đổi trong quan hệ thương mại quốc tế của Việt Nam khi Việt Nam gia nhập WTO I. Một số vấn đề chung về thương mại quốc tế 1. Khái niệm thương mại quốc tế Thương mại quốc tế là một trong những hình thức quan hệ kinh tế quốc tế xuất hiện sớm nhất trong lịch sử phát triển của kinh tế thế giới. Thương mại quốc tế có một lịch sử hàng ngàn năm. Ngay từ khi loài người thoát khỏi cảnh bộ lạc, bầy đàn thì đã xuất hiện nhu cầu trao đổi những vật phẩm giữa các cộng đồng người, giữa các lãnh địa, và nhà nước ra đời. Trong nhiều nghiên cứu khảo cổ ở các vùng khác nhau trên thế giới, người ta đã thấy những sản phẩm đặc trưng ở vùng này, quốc gia này xuất hiện ở các vùng khác, quốc gia khác. ở Việt Nam cũng vậy, người ta đã phát hiện những sản phẩm sứ Chu Đậu (Hải Dương), lụa (Hà Đông)... xuất hiện từ rất sớm ở nước ngoài. Ngay từ hàng ngàn năm trước, người ta đã thấy những đội thương thuyền hùng mạnh của nhiều quốc gia, con đường tơ lụa lịch sử vắt ngang từ á sang Âu là những minh chứng sinh động cho sự phát triển trao đổi hàng hóa quốc tế. Ngày nay thương mại quốc tế là xu hướng tất yếu và mang tính toàn cầu, là điều kiện để phát triển của mỗi quốc gia. Có rất nhiều hàng hóa hiện nay là sản phẩm quốc tế được tạo bởi những chi tiết được sản xuất từ rất nhiều quốc gia khác nhau nhằm làm giảm chi phí sản xuất kinh doanh. ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Có nhiều khái niệm khác nhau về thương mại quốc tế. Song, xét về đặc trưng thì thương mại quốc tế là việc mua bán, phân phối hàng hoá và dịch vụ qua biên giới quốc gia. Cách hiểu này được sử dụng nhiều nhất khi nhìn vào các chức năng của thương mại, tức là vai trò của thương mại như chiếc cầu sản xuất. Nói một cách cụ thể hơn, thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các thương nhân trong và ngoài nước thông qua buôn bán nhằm mục đích kinh tế tối đa. Thương mại quốc tế đem lại nhiều lợi ích cho các quốc gia khi tham gia nhưng đồng thời cũng mang lại không ít trở ngại, đặc biệt đối với những quốc gia đang và chậm phát triển. Không phải ngẫu nhiên mà thương mại quốc tế ra đời và ngày càng phát triển. Nhờ có phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất, trong xã hội mới bắt đầu xuất hiện nhu cầu trao đổi hàng hóa giữa các chủ sở hữu. Sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển theo chiều hướng đa dạng hóa thì phạm vi chật hẹp của thị trường quốc gia là một lực cản không nhỏ đến sự phát triển của lực lượng sản xuất. Chính vì vậy, việc hàng hóa, dịch vụ vượt qua đường biên giới quốc gia để thâm nhập vào những thị trường hấp dẫn khác là một điều tất yếu. Phân công lao động quốc tế và chuyên môn hóa quốc tế về sản xuất hàng hóa là nền tảng cơ sở hình thành thương mại quốc tế được thực hiện dưới hai hình thức sau đây: - Tự phát: Đây là đặc trưng của thời kỳ mà kinh tế chưa phát triển. Nó nằm trong giai đoạn đầu của nền sản xuất xã hội, khi mà quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất còn mang tính hiện vật, tự cung tự cấp. Phân công lao động quốc tế một cách tự phát tức là cá nhân, tổ chức vì những lợi ích của riêng mình tiến hành tham gia vào chuyên môn hóa sản xuất kinh doanh quốc tế trên cơ sở những quy luật kinh tế thị trường điều tiết. Sản xuất ở đây không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn nhằm thỏa mãn nhu cầu của thị trường quốc tế. ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- - Tự giác: Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất của mỗi quốc gia thì nhu cầu mở rộng thị trường ngày càng trở nên cấp bách. Đồng thời, trình độ quản lý kinh tế càng được nâng lên, đủ khả năng quản lý và điều hành nền kinh tế phức tạp hơn. Phân công lao động quốc tế một cách tự giác thông qua những hiệp định, hiệp ước kinh tế, thương mại giữa các quốc gia ngày càng phát triển, đặc biệt hiện nay trên thế giới đã và đang hình thành một số thị trường chung của khu vực. Ví dụ như: Thị trường chung của Liên minh Châu Âu (European Union - EU); Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (Association of Southeast Asian Nations - ASIAN), Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình Dương (Asia Pacific Economic Cooperation - APEC)... Phân công lao động quốc tế một cách tự giác giúp chính phủ các nước điều tiết một cách có hiệu quả nền kinh tế trên cơ sở xác định thế mạnh của từng quốc gia nhằm tận dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên sẵn có, sức người sức của của nước mình. Chúng ta biết rằng, đứng trên giác độ tự nhiên cũng như các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tôn giáo... thì sự tồn tại của Trái Đất được xem như một tổng thể thống nhất. Mỗi phần của Trái Đất nằm ở một vị trí nhất định với những điều kiện đất đai, khí hậu khác nhau thuận lợi cho phát triển một hoặc một số ngành kinh tế nhất định. Đồng thời sự phát triển không đồng đều giữa các khu vực khác nhau trên Trái Đất về trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật và tiềm lực kinh tế cũng là nguyên nhân dẫn đến phân công lao động và chuyên môn hóa quốc tế. Thực tế cho thấy, thương mại quốc tế ngày càng đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Thương mại quốc tế rất cần thiết cho mọi quốc gia để hợp tác phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân. Xu hướng chung trên thế giới là các quốc gia đều chuyển từ đối đầu sang đối thoại, vì mục đích hòa bình và hợp tác, phát triển kinh tế. Theo các đánh giá gần đây, hiện nay thương mại quốc tế có xu hướng toàn cầu hóa, cạnh tranh ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- giữa các quốc gia, các tập đoàn, các doanh nghiệp ngày càng gay gắt và ngày càng phụ thuộc nặng nề vào sự phát triển của khoa học công nghệ. Nhận thức rõ bản chất của những lợi ích của thương mại điện tử và nguyên nhân phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế là điều quan trọng và cần thiết đối với việc hoạch định chính sách ngoại thương cho mỗi quốc gia nói chung. 2. Lợi ích kinh tế của các quốc gia khi tham gia vào thương mại quốc tế Thực tế đã chứng minh rằng, nhiều quốc gia với nền kinh tế “đóng” đã sản xuất không hiệu quả và buộc phải chuyển sang cơ chế quản lý kinh tế mới. Mọi quốc gia không thể đầy đủ, ấm no nếu như không phát triển quan hệ hợp tác kinh tế và thương mại quốc tế. Thương mại quốc tế đóng vai trò thúc đẩy hợp lý hóa cơ sở sản xuất trên phạm vi các khu vực, các quốc gia dựa trên những điều kiện nguồn lực sẵn có về điều kiện tự nhiên, kinh tế, kỹ thuật, chính trị và xã hội. Tác động của thương mại quốc tế đối với mỗi quốc gia thể hiện ở một số mặt sau đây: - Cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hiếm hoi: Nghĩa là các quốc gia sẽ tập trung vào sản xuất những hàng hóa mà mình có lợi thế tuyệt đối và tương đối. Như vậy, năng suất lao động sẽ cao hơn nhờ tận dụng những điều kiện tự nhiên thuận lợi, trình độ lành nghề của lao động, trình độ quản lý điều hành của lãnh đạo, lợi thế kinh tế nhờ quy mô... Từ đó, chi phí sản xuất thấp hơn hoặc với chi phí sản xuất không thay đổi sẽ tạo ra nhiều của cải cho xã hội hơn và sản xuất sẽ có hiệu quả hơn. Đây là lợi ích quan trọng nhất của các quốc gia khi tham gia vào thương mại quốc tế. - Bù đắp sự thiếu hụt của các yếu tố sản xuất: Người ta xem xét các yếu tố đất đai, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động của con người, vốn và công nghệ kỹ thuật là cần thiết, không thể thiếu được với bất cứ một quá trình sản xuất xã hội nào. ở các nước phát triển có quá nhiều vốn và công nghệ nhưng ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- lại thiếu các yếu tố sức lao động và và tài nguyên thiên nhiên. Ngược lại, ở các nước đang phát triển lại dư thừa các yếu tố sức lao động và tài nguyên thiên nhiên nhưng lại thiếu các yếu tố vốn và công nghệ. Việc trao đổi trong thương mại quốc tế thúc đẩy mối quan hệ kinh tế quốc tế phát triển, kéo theo sự di chuyển các yếu tố trên giữa các quốc gia nhằm bù đắp sự thiếu hụt này. Sự bù đắp nói trên, một mặt nhằm duy trì nền sản xuất xã hội, mặt khác còn làm đa dạng hóa các sản phẩm, tối ưu hóa các chi phí cho quá trình sản xuất và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng đa dạng của xã hội. - Mở rộng khả năng sản xuất của mỗi quốc gia thông qua thị trường quốc tế rộng lớn: Thị trường trong nước là thị trường ban đầu mà hầu hết các doanh nghiệp nước đó hướng tới. Với các điều kiện về môi trường kinh doanh trong nước đã trở nên quen thuộc, các doanh nghiệp có thể tiến hành kinh doanh dễ dàng hơn so với tham gia vào thị trường quốc tế. Hoạt động kinh doanh trong nước giúp doanh nghiệp tích lũy được vốn sản xuất, đây là yếu tố quyết định việc mở rộng quy mô kinh doanh của doanh nghiệp. Và thị trường quốc tế có thể đáp ứng nhu cầu mở rộng đó. Có thể nói, thương mại quốc tế là một trong những phương tiện để thúc đẩy quy mô sản xuất trong nước phát triển nhằm hướng tới một thị trường quốc tế rộng lớn. - Phát triển nguồn vốn cho nền sản xuất trong nước: việc tăng cường xuất khẩu tạo ra nguồn cung cấp tài chính cho nhập khẩu sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển. Đây là điều kiện vật chất quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bên cạnh đó, xuất khẩu có tác dụng kích thích nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, qua đó kích thích lực lượng sản xuất phát triển. Để đáp ứng nhu cầu cao của thị trường thế giới về quy cách phẩm chất sản phẩm, một mặt phải đổi mới máy móc, thiết bị công nghệ, mặt khác, người lao động phải được năng cao tay nghề và trình độ chuyên môn, còn người quản lý phải không ngừng nâng cao hiểu biết và trình độ quản lý của mình. ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- - Đa dạng hóa tiêu dùng của xã hội: Tiêu dùng là mục đích của sản xuất. Tiêu dùng với tư cách là một yếu tố của quá trình tái sản xuất xã hội, nó chịu sự tác động quyết định của sản xuất nhưng đồng thời cũng ảnh hưởng mạnh mẽ tới sản xuất. Ngày nay, sự phát triển của thương mại quốc tế đã làm cho tình trạng tiêu dùng xã hội có nhiều biến đổi quan trọng. Sự thay đổi đó đặt ra những yêu cầu cao hơn cả về số lượng và chất lượng, kiểu dáng và mẫu mã hàng hóa tiêu dùng trong nước. Ngoài ra, hàng hóa từ bên ngoài xâm nhập vào thị trường nội địa thông qua hoạt động nhập khẩu làm cho chủng loại hàng hóa trở nên đa dạng, phong phú, người tiêu dùng có thêm nhiều sự lựa chọn hơn. Đặc biệt, những mặt hàng trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất với chi phí cao thì việc nhập khẩu sẽ góp phần bổ sung sự thiếu hụt cho nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu và mức sống ngày càng cao của nhân dân. Không chỉ có người tiêu dùng mới có quyền lựa chọn mà các nhà sản xuất cũng có quyền lựa chọn những nguồn nguyên liệu rẻ hơn, chất lượng tốt hơn để làm ra những sản phẩm có chất lượng ngày càng cao hơn. - Nâng cao uy tín và vị thế quốc gia trên thị trường quốc tế: Khi tham gia vào thương mại quốc tế, không chỉ mối quan hệ kinh tế quốc tế của một quốc gia được phát triển như: xuất khẩu hàng hóa, nhập khẩu hàng hòa, du lịch, đầu tư, tài chính... mà các mối quan hệ phi kinh tế như: chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục... cũng được hợp tác phát triển. Đến lượt nó, một mặt đây là các nhân tố thúc đẩy quan hệ kinh tế quốc tế phát triển hơn một bước do có sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước, mặt khác làm rõ hơn vai trò của quốc gia đó trong tất cả các quan hệ quốc tế. Từ đó sẽ nâng cao được hình ảnh của quốc gia trên thị trường quốc tế. II. Cơ hội và thách thức TRONG QUAN Hệ THƯƠNG MạI QuốC Tế khi Việt Nam gia nhập WTO 1. Vài nét về WTO 1.1. Lịch sử hình thành WTO ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Tiền thân của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch GATT (The General Agreement On Tariff and Trade - GATT). GATT được thành lập năm 1947 với 23 nước tham gia như là những nước sáng lập viên, cùng nhau xây dựng các Hiệp định về thuế quan và thương mại. Các Hiệp định của GATT bắt đầu có hiệu lực từ tháng 11/1948 và đến hết năm 1994, GATT đã trải qua 8 vòng đàm phán thương mại. Ngày 15/4/1994 tại Marrakesh (Maroc) các nước thành viên của GATT đã ký hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới. Như vậy WTO đi vào hoạt động từ ngày 1/1/1995 là một tổ chức hoạt động độc lập với Liên hợp quốc. 1.2. Mục tiêu của WTO WTO kế thừa các mục tiêu của GATT đã đề ra, tức là quan hệ giữa các nước thành viên trong thương mại về kinh tế sẽ được tiến hành nhằm: - Nâng cao mức sống của người dân các nước thành viên. - Bảo đảm tạo đầy đủ việc làm, đảm bảo tăng trưởng vững chắc thu nhập và nhu cầu thực tế. - Mở rộng sản xuất và trao đổi hàng hóa. 1.3. Chức năng của WTO Theo Hiệp định Marrakesh thành lập WTO, tổ chức này có 5 chức năng cơ bản như sau: - Tạo thuận lợi cho việc thực thi, quản lý và tiến hành các mục tiêu của Hiệp định này và các Hiệp định Thương mại đa biên khác, cũng như các hiệp định nhiều bên. - Tạo ra diễn đàn đàm phán giữa các nước thành viên về quan hệ thương mại giữa các nước, về vấn đề được đề cập đến trong các Hiệp định WTO và thực thi kết quả các cuộc đàm phán đó. ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- - Giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên trên cơ sở Quy định và Thủ tục giải quyết tranh chấp. - Thực hiện rà soát chính sách thương mại thông qua cơ chế rà soát chính sách thương mại. - Nhằm đạt được một sự nhất quán hơn nữa trong việc hoạch định chính sách toàn cầu, khi thích hợp WTO sẽ phối hợp với IMF, WB và các cơ quan của tổ chức này. ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 1.4. Nguyên tắc cơ bản của WTO WTO hoạt động dựa trên một bộ các luật lệ và nguyên tắc tương đối phức tạp, bao gồm trên 60 hiệp định, phụ lục, quyết định và giải thích khác nhau điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực thương mại quốc tế. Tuy vậy, tất cả các văn bản đó đều được xây dựng trên cơ sở 5 nguyên tắc cơ bản của WTO: 1.4.1. Thương mại không có sự phân biệt đối xử Nguyên tắc này được cụ thể hóa trong các quy định về chế độ Đãi ngộ Tối huệ quốc và Đãi ngộ quốc gia: - Đãi ngộ Tối huệ quốc (MFN) Đãi ngộ Tối huệ quốc là một nguyên tắc cơ bản của WTO được nêu trong Điều I - Hiệp định GATT, Điều II - Hiệp định TRIPS. Theo nguyên tắc MFN, WTO yêu cầu một nước thành viên phải áp dụng thuế quan và các quy định khác đối với hàng hóa nhập khẩu từ các nước thành viên khác (hoặc hàng hóa xuất khẩu tới các nước thành viên khác nhau) một cách bình đẳng, không phân biệt đối xử. Điều đó có nghĩa là nếu một nước thành viên dành cho sản phẩm từ bất kỳ nước thành viên nào mức thuế quan hoặc bất kỳ một ưu đãi nào khác thì cũng phải dành mức thuế quan hoặc ưu đãi đó cho sản phẩm tương tự của tất cả các quốc gia thành viên khác một cách ngay lập tức và vô điều kiện. WTO cũng cho phép các nước thành viên được duy trì một số ngoại lệ của nguyên tắc này. - Đãi ngộ Quốc gia (NT) Trong khi nguyên tắc MFN yêu cầu một nước thành viên không được phép áp dụng phân biệt đối xử giữa các thành viên thì nguyên tắc NT yêu cầu một nước phải đối xử bình đẳng và công bằng giữa hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa tương tự sản xuất trong nước. Nguyên tắc này quy định rằng, bất kỳ một sản phẩm nhập khẩu nào, sau khi đã qua biên giới (đã trả xong thuế hải quan và các chi phí khác tại cửa khẩu) sẽ được hưởng đối xử không kém ưu đãi hơn sản phẩm tương tự sản xuất trong nước. ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Nguyên tắc MFN và NT lúc đầu chỉ được áp dụng trong lĩnh vực thương mại hàng hóa, sau khi WTO ra đời thì nó được mở rộng cả sang thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại và các lĩnh vực khác, tuy vậy mức độ áp dụng của quy tắc này trong các lĩnh vực là khác nhau. Là những cấu thành cơ bản của nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa các thành viên Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO), tuy nhiên, trong các quy định của WTO, yêu cầu này được áp dụng ở mức độ khác nhau tùy theo từng lĩnh vực: + Trong thương mại hàng hóa: MFN và NT được áp dụng tương đối toàn diện và triệt để; + Trong thương mại dịch vụ: MFN và NT cũng được áp dụng với những lĩnh vực mà một thành viên đã cam kết mở cửa thị trường, với những lĩnh vực dịch vụ còn duy trì hạn chế thì việc dành MFN và NT tùy thuộc vào kết quả đàm phán các cam kết cụ thể; + Trong lĩnh vực đầu tư: WTO chưa có một hiệp định đầu tư đa biên, mới đạt được hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại và quy chế MFN và NT chỉ giới hạn ở hiệp định này. Tuy nhiên, trong luật pháp đầu tư nước ngoài của các nước, quy chế MFN và NT được áp dụng phổ biến trên nhiều lĩnh vực; + Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ: các đãi ngộ quốc gia trên đã được thể chế hóa cụ thể và phổ biến trong các công ước quốc tế liên quan đến sở hữu trí tuệ. 1.4.2. Chỉ bảo hộ bằng thuế quan Trong WTO, việc bảo hộ các ngành công nghiệp nội địa không bị ngăn cấm. Tuy nhiên, WTO đưa ra một nguyên tắc là các nước chỉ được thực hiện bảo hộ chủ yếu thông qua thuế quan chứ không được sử dụng các biện pháp thương mại khác. Mục tiêu của nguyên tắc này là để đảm bảo sự minh bạch của việc bảo hộ và giảm thiểu những tác dụng bóp méo thương mại phát sinh. ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 1.4.3. Tạo dựng một nền tảng ổn định cho thương mại Một nguyên tắc cơ bản của WTO là các nước thành viên có nghĩa vụ đảm bảo tính ổn định cho thương mại quốc tế thông qua việc các nước ràng buộc thuế quan của mình. Các nước chỉ có thể tăng thuế quan sau khi đã tiến hành đàm phán lại và đã đền bù thỏa đáng cho lợi ích các bên bị thiệt hại do việc tăng thuế đó. Để đảm bảo nguyên tắc này các nước thành viên WTO còn có nghĩa vụ phải minh bạch hóa các quy định thương mại của mình, phải thông báo mọi biện pháp đang sử dụng và ràng buộc chúng (tức là cam kết sẽ không thay đổi theo chiều hướng bất lợi cho thương mại, nếu thay đổi được phải thông báo, tham vấn và bù trừ hợp lý). Tính dự báo được nhằm giúp các nhà kinh doanh nắm rõ tình hình hiện tại cũng như xác định được cơ hội của họ trong tương lai. Nguyên tắc này giúp cho môi trường kinh doanh có tính ổn định và lành mạnh. 1.4.4. Tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng WTO là một hệ thống các nguyên tắc nhằm thúc đẩy cạnh tranh tự do, công bằng và không bị bóp méo. Tất cả các hiệp định của WTO như về nông nghiệp, dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ... đều nhằm mục tiêu tạo một môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng hơn giữa các quốc gia. 1.4.5. Hạn chế số lượng hàng nhập khẩu Theo quy định của WTO, các nước sẽ loại bỏ được tất cả các hạn chế số lượng đối với hàng nhập khẩu. Tuy nhiên WTO cũng cho phép các nước thành viên được áp dụng hạn chế nhập khẩu trong một số trường hợp ngoại lệ như: - Nước nhập khẩu gặp phải khó khăn về cán cân thanh toán; - Có căng thẳng về ngoại hối (do nhu cầu nhập khẩu vì mục tiêu phát triển tăng mạnh hoặc do các nước này thiết lập hoặc mở rộng sản xuất trong ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- nước). Khi các nước áp dụng các ngoại lệ này, các hạn chế số lượng phải được áp dụng trên cơ sở không có sự phân biệt đối xử. ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 1.5. Bộ máy tổ chức của WTO Cơ quan quyền lực cao nhất của WTO là Hội nghị Bộ trưởng, nhóm họp ít nhất hai năm một lần. Giữa hai kỳ hội nghị, Đại hội đồng (bao gồm đại diện có thẩm quyền của tất cả các thành viên) có chức năng thường trực và báo cáo lên Hội nghị Bộ trưởng. Đại Hội đồng đồng thời đóng vai trò là một “cơ quan giải quyết tranh chấp” và “cơ quan rà soát chính sách” của WTO. Dưới Đại hội đồng là Hội đồng về thương mại hàng hóa, Hội đồng về thương mại dịch vụ và Hội đồng về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ. Giữa hai kỳ hội nghị, Đại hội đồng (bao gồm đại diện có thẩm quyền của tất cả các thành viên) có chức năng thường trực và báo cáo lên Hội nghị Bộ trưởng. Đại Hội đồng đồng thời đóng vai trò là một “cơ quan giải quyết tranh chấp” và “cơ quan rà soát chính sách” của WTO. Dưới Đại hội đồng là Hội đồng về thương mại hàng hóa, Hội đồng về thương mại dịch vụ và Hội đồng về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ. Các hội đồng trên chịu trách nhiệm điều hành việc thực thi hiệp định WTO về từng lĩnh vực thương mại tương ứng. Tham gia các Hội đồng là đại diện của các thành viên. - Hội đồng hàng hóa điều hành công việc của 11 ủy ban và cơ quan giám sát hàng dệt. - Hội đồng dịch vụ gồm các ủy ban về dịch vụ tài chính và ủy ban về các cam kết cụ thể. Ngoài ra còn có các nhóm công tác chuyên trách một số lĩnh vực. - Phần lớn các quyết định của WTO đều được thông qua trên cơ sở đồng thuận. Trong một số trường hợp nhất định, khi không đạt được sự đồng thuận, các thành viên có thể tiến hành bỏ phiếu. Khác với nhiều tổ chức khác, mỗi thành viên WTO chỉ có quyền bỏ một phiếu và các phiếu bầu của các thành viên có giá trị ngang nhau. ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 2. Cơ hội và thách thức trong quan hệ thương mại quốc tế khi Việt Nam gia nhập WTO 2.1. Cơ hội 2.1.1. Khắc phục tình trạng bị phân biệt đối xử trong thương mại quốc tế Tiến trình hội nhập WTO của Việt Nam thời gian qua cho thấy, việc tham gia vào tổ chức này đã tạo cho Việt Nam một vị thế mới trong quan hệ thương mại quốc tế, được hưởng những ưu đãi thương mại, khắc phục được tình trạng bị phân biệt đối xử ở một số thị trường trọng yếu. Với tư cách là nước thành viên WTO, Việt Nam được hưởng các ưu đãi trong thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư mà các nước thành viên giành cho nhau thông qua Chế độ đãi ngộ Tối huệ quốc (MFN), Chế độ Đãi ngộ quốc gia (NT), tránh được tình trạng bị phân biệt đối xử, gây bất lợi trong quan hệ thương mại quốc tế. Với tư cách là một nước đang phát triển ở trình độ phát triển thấp, Việt Nam còn được hưởng những ưu đãi riêng về miễn trừ, ân hạn trong việc thực hiện các nghĩa vụ thành viên cũng như trong việc tiếp cận thị trường để bán các xản phẩm của mình. Việt Nam có thể sử dụng các cơ chế giải quyết các tranh chấp của WTO để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình trong trường hợp có tranh chấp thương mại với các nước thành viên, đặc biệt khi nước thành viên đó là cường quốc về kinh tế. Việc tham gia thể chế hợp tác kinh tế quốc tế sẽ tạo cơ hội thuận lợi để ta tham gia xây dựng những luật chơi chung, ngăn ngừa tình trạng bị phân biệt đối xử, chèn ép trong thương mại quốc tế, góp tiếng nói chung đấu tranh bảo vệ lợi ích của các nước đang phát triển. Đặc biệt, tiến trình này sẽ tạo cơ hội cho các nước nhỏ, các nước chậm phát triển có cơ hội đối thoại chính sách với các nước phát triển hơn, hoặc phối hợp quan điểm với các nước khác trên các diễn đàn quốc tế nhằm giải tỏa các rào cản thương mại, đấu tranh đòi đối xử công bằng trong thương mại. ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 2.1.2. Có cơ hội mở rộng thị trường, tăng cường xuất khẩu Hội nhập thị trường sâu và rộng hơn góp phần nâng cao khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam. Tham gia WTO, Việt Nam được tham gia vào một hệ thống thương mại rộng mở, tự do và bình đẳng, có cơ hội tiếp cận thị trường trên 150 quốc gia với những hàng rào thương mại ngày càng được hạ thấp, được hưởng các cam kết ưu đãi, mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ, đầu tư mà các nước thành viên dành cho nhau thông qua kết quả các vòng đàm phán tự do hóa thương mại, mở cửa thị trường. Hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện để chúng ta tranh thủ những ưu đãi về thương mại, đầu tư và các lĩnh vực khác được áp dụng trong nội bộ mỗi tổ chức, góp phần mở rộng thị trường cho hàng hóa Việt Nam, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát huy lợi thế so sánh quốc gia, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ Việt Nam. Đặc biệt, Tổ chức thương mại thế giới WTO cũng như các tổ chức kinh tế khu vực khác đều có những chính sách ưu đãi với các nước phát triển và các nước đang trong thời kỳ chuyển đổi, cho phép các nước này được hưởng các miễn trừ trong việc thực hiện các nghĩa vụ giảm thuế, phi thuế và các nghĩa vụ khác. Các nước đang phát triển sẽ được hưởng những đối xử ưu đãi về mức độ cam kết mở cửa và về thời hạn thực hiện các nghĩa vụ hoặc các điều kiện ưu đãi hơn trong việc tiếp cận thị trường để bán các sản phẩm của mình. Theo quy định của WTO, các nước phát triển phải hạn chế sử dụng hàng rào mới đối với xuất khẩu ban đầu và các loại xuất khẩu có tầm quan trọng đặc biệt từ các nước kém phát triển hơn. Trong nhiều trường hợp, các nước đang phát triển cũng được miễn trừ nghĩa vụ có đi có lại trong quan hệ thương mại với các nước đang phát triển. Việc mở cửa hội nhập sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hàng xuất khẩu của Việt Nam thâm nhập vào thị trường các nước khu vực và trên thế giới. Trong WTO đã thực hiện nhiều vòng đàm phán để tự do hóa thương mại, mức độ rủi ro mà các thành viên đạt được cho tới ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- nay khá sâu rộng, khi gia nhập, theo nguyên tắc tối huệ quốc, Việt Nam sẽ được tiếp cận mức độ tự do hóa này mà không phải đàm phán hiệp định song phương với từng nước. Hàng hóa của ta vì vậy sẽ có cơ hội lớn hơn và bình đẳng hơn trong việc thâm nhập và mở rộng thị trường quốc tế. Như vậy, việc gia nhập vào WTO tạo được môi trường thông thoáng cho phát triển kinh tế, mở rộng thị trường về mọi mặt, đặc biệt là cho hoạt động xuất khẩu của Việt Nam với những mặt hàng có ưu thế như: gạo, cà phê, hàng dệt may, giày dép, thủ công mỹ nghệ... 2.1.3. Tăng thu hút đầu tư và sự chuyển giao kỹ thuật, công nghệ cao từ các nước Với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện công khai minh bạch các thiết chế quản lý theo quy định của Tổ chức thương mại thế giới, môi trường kinh doanh của nước ta ngày càng trở nên hấp dẫn các nhà đầu tư trong nước cũng như các nhà đầu tư nước ngoài. Đây là tiền đề quan trọng để không những phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế trong nước mà còn góp phần thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài, qua đó tiếp nhận vốn, công nghệ sản xuất và công nghệ quản lý, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra công ăn việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Mặt khác, việc lưu thông ngày càng tự do hơn hàng hóa, dịch vụ, vốn, nhân công... giữa nước ta với các nước khác cho phép nhiều doanh nghiệp và cá nhân Việt Nam thâm nhập và mở rộng thị trường làm ăn ở nước ngoài, đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh tại các thị trường đó nhằm thu hiệu quả lớn hơn. Thực tế những năm gần đây, ngày càng có nhiều doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ở các nước với tổng số vốn lên tới hàng trăm triệu USD. Cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng hơn, đầu tư của Việt Nam sang các nước sẽ tăng mạnh trong những năm tới. ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài từ lâu đã trở thành động lực tăng trưởng sản xuất công nghiệp của Việt Nam. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần quan trọng vào việc chuyển giao công nghệ, đầu tư nghiên cứu và phát triển ở Việt Nam trong những năm qua. Sự xuất hiện của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có tác động tích cực như: tăng mức độ cạnh tranh trên thị trường, giúp các doanh nghiệp và các nhà quản lý trong nước học hỏi thêm về cách thức quản lý sản xuất, tiếp thị sản phẩm và phục vụ khách hàng. 2.1.4. Nâng cao khả năng cạnh tranh và tính hiệu quả trong nền kinh tế Hội nhập WTO thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đầu tư của ta để nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế là yêu cầu sống còn của đất nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Để đáp ứng yêu cầu đó, chúng ta phải tiến hành chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tập trung nhiều hơn vào những ngành kinh tế cho phép phát huy lợi thế của ta. Ngoài ra, tự do hóa thương mại trong bối cảnh hội nhập vào xu thế toàn cầu hóa kinh tế sẽ tạo điều kiện cho hàng hóa của các nước có thể dễ dàng thâm nhập vào thị trường của các nước khác, nhất là các quốc gia là thành viên của WTO. Điều này gây sức ép đối với doanh nghiệp Việt Nam và các doanh nghiệp nước ngoài khi thâm nhập vào thị trường Việt Nam, các doanh nghiệp phải chấp nhận mức độ cạnh tranh khốc liệt, làm cho họ trở nên năng động hơn trong việc tạo ra sản phẩm mới, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm và cải tiến dịch vụ chăm sóc khách hàng... Cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp trong nước sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam hoàn thiện hơn, chỉ có các doanh nghiệp thực sự đủ mạnh, hoạt động hiệu quả mới có thể đứng vững trên thị trường, còn các doanh nghiệp yếu kém tất yếu sẽ bị loại bỏ. Mặt khác, do tính cạnh tranh gay gắt, các doanh nghiệp sẽ tìm cho mình ngành nghề, quy mô kinh doanh và mặt
- Xem thêm -