Phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh thái bình

  • Số trang: 123 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 405 |
  • Lượt tải: 14
dangvantuan

Đã đăng 43027 tài liệu

Mô tả:

Mục lục Trang Danh mục các ký hiệu viết tắt i Danh mục các bảng ii Danh mục các biểu đồ iii MỞ ĐẦU 1 Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệp bền vững 6 1.1. Khái luận chung về phát triển nông nghiệp bền vững 6 1.1.1. Những khái niệm cơ bản 6 1.1.2. Tiêu chí phát triển bền vững trong nông nghiệp 11 1.1.3. Điều kiện phát triển nông nghiệp bền vững 15 Kinh nghiệm một số địa phương trong phát triển nông nghiệp bền vững 19 1.2.1. Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh 19 1.2.2. Kinh nghiệm của tỉnh An Giang 21 1.2.3. Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Thái Bình 23 1.2. Chương 2: Thực trạng phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình 26 2.1. Giới thiệu khái quát về tình hình kinh tế, xã hội ở tỉnh Thái Bình 26 2.1.1. Điều kiện tự nhiên và xã hội 26 2.1.2. Tiềm năng cho phát triển nông nghiệp bền vững của tỉnh Thái Bình 27 2.1.3. Đặc điểm dân cư và các nguồn lực xã hội khác 30 2.2. Thực trạng phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình trong những năm qua 2.2.1 Tình hình phát triển kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Thái Bình 2.2.2. Tình hình giải quyết các vấn đề xã hội khu vực nông nghiệp nông thôn tỉnh Thái Bình 2.2.3.Vấn đề môi trường trong phát triển nông nghiệp 2.3. Đánh giá chung về thực trạng phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình 2.3.1 Thành công 31 32 51 57 60 60 2.3.2. Những hạn chế 66 2.3.3. Một số vấn đề đặt ra 72 Chương 3: Quan điểm, giải pháp tiếp tục phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình 3.1. Bối cảnh mới ảnh hưởng đến phát triển bền vững nông nghiệp ở tỉnh Thái Bình 75 75 3.1.1. Bối cảnh quốc tế 75 3.1.2. Bối cảnh trong nước 77 3.1.3. Bối cảnh của tỉnh Thái Bình 79 3.2. Các quan điểm phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình 81 3.3. Giải pháp phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình 84 3.3.1. Nhóm giải pháp về cải thiện môi trường kinh tế vĩ mô 84 3.3.2. Nhóm giải pháp về các nguồn lực cơ bản 89 3.3.3. Nhóm giải pháp về nâng cao vai trò quản lý của nhà nước 106 KẾT LUẬN 113 TÀI LIỆU THAM KHẢO 115 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT STT Viết tắt Nguyên nghĩa 1 BCH Ban chấp hành 2 CTQG Chính trị quốc gia 3 CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa 4 CDCCKT Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 5 KT – XH Kinh tế - xã hội 6 Nxb Nhà xuất bản 7 PTBV Phát triển bền vững 8 PTNN Phát triển nông nghiệp 9 PTNNBV Phát triển nông nghiệp bền vững 10 UBND Ủy ban nhân dân i DANH MỤC CÁC BẢNG STT Tên Nội dung 1 Bảng 2.1 Chỉ tiêu GDP toàn Tỉnh (theo giá so sánh 1994) 2 Bảng 2.2 Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp tỉnh Thái Bình (2006 – 2010) 3 4 5 6 Bảng 2.3 Bảng 2.4 Bảng 2.5 Bảng 2.6 Tình hình sau khi giao đất cho hộ nông dân Cơ cấu lao động theo ngành ở tỉnh Thái Bình (20012010) Tổng hợp diện tích, sản lượng, năng suất, giá trị sản xuất cây lương thực Chỉ tiêu GDP bình quân đầu người của cả nước và các tỉnh đồng bằng sông Hồng ii Trang 34 39 44 52 61 70 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ STT Tên Nội dung 1 Biểu 2.1 Giá trị sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2006 - 2010 36 2 Biểu 2.2 Cơ cấu GDP phân theo khu vực kinh tế 62 3 Biểu 2.3 Diện tích, sản lượng giá sản xuất ngành chăn nuôi, 63 nuôi trồng thủy sản (2006-2010) iii Trang MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Nông nghiệp là ngành sản xuất cơ bản của xã hội đáp ứng những sản phẩm thiết yếu cho đời sống xã hội, cung cấp nguyên liệu đầu vào cho các ngành khác trong nền kinh tế như: Sản xuất hàng hóa tiêu dùng, máy móc và các vật tư nông nghiệp, là nguồn cung cấp lao động cho khu vực công nghiệp và tạo ra một lượng vốn thặng dư để đầu tư cho sự nghiệp phát triển của đất nước. Tuy nhiên, năng xuất và hiệu quả sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng nhiều bởi điều kiện tự nhiên, đặc biệt trước những diễn biến bất thường của hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu; những biến động của thị trường, của xã hội... Do đó, vấn đề phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững được đề cập như là một trong những vấn đề vừa cơ bản, vừa bức thiết có ảnh hưởng trực tiếp tới tình hình kinh tế - xã hội của đất nước. Trong những năm qua, Thái Bình với 90% dân cư sống ở nông thôn và 58,49% lao động nông nghiệp, đã đạt được những thành tích quan trọng trong việc sản xuất nông nghiệp như giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập, tăng giá trị sản xuất nông nghiệp góp phần nâng cao đời sống nhân dân, làm thay đổi diện mạo nông thôn, phát triển kinh tế, xã hội... Tuy nhiên, nếu xem xét ở góc độ bền vững thì phát triển nông nghiệp của tỉnh Thái Bình đang có nhiều vấn đề bức xúc đặt ra. Đó là trong thời gian qua, nông nghiệp Thái Bình phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, đặc biệt quá trình phát triển còn theo chiều rộng. Cây lúa vẫn đóng vai trò chủ yếu trong cây trồng trên địa bàn. Một số cây thiếu tính bền vững, chưa hình thành được vùng nguyên liệu tập trung, chuyên canh và giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích còn thấp trong khi các yếu tố đầu vào của sản xuất nông nghiệp như thủy lợi, phân bón, thuốc trừ sâu tăng giá còn đầu ra sản phẩm lại quá bấp bênh ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của dân cư nông nghiệp, tạo sự phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu rộng giữa thành thị và nông thôn. Thủy sản phát triển chưa toàn diện. Ruộng đất bị chia nhỏ, manh mún không phù hợp với yêu cầu sản xuất hàng hóa lớn tập trung. Ngành tiểu thủ công 1 nghiệp ở nông thôn sản xuất nhỏ lẻ, chưa tạo được sản phẩm hàng hóa, năng lực canh tranh trên thị trường yếu. Sản xuất nông nghiệp đã và đang có dấu hiệu gây tác động tiêu cực đến môi trường như làm giảm đa dạng sinh học, suy thoái tài nguyên, gây khan hiếm và ô nhiễm nguồn nước, tăng chi phí sản xuất, chưa có bước đột phá phát triển nông nghiệp, chưa thật sự chú ý phát triển theo chiều sâu, chưa chú ý đến vấn đề môi trường cũng như vấn đề xã hội trong nông nghiệp và nông thôn. Đứng trước những khó khăn và thách thức đó thì việc xây dựng một nền nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng. Điều này cũng đã được khẳng định trong mục tiêu định hướng phát triển nông nghiệp của Tỉnh trong giai đoạn 2011 - 2015: “Xây dựng nền nông nghiệp toàn diện đa dạng theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, hiện đại bền vững, thân thiện với môi trường, gắn phát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới và nâng cao đời sống của nhân dân”. Vì những lý do trên nên đề tài “Phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình” được chọn làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình. 2. Tình hình nghiên cứu Phát triển bền vững nói chung và phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững nói riêng là một vấn đề khoa học được đề cập ở những khía cạnh khác nhau, qua tìm hiểu tác giả thấy có một số công trình khoa học nổi bật sau: - Phát triển bền vững ở Việt Nam – thành tựu, cơ hội, thách thức và triển vọng của Nguyễn Quang Thái và Ngô Thắng Lợi (2007), Nxb Lao động – xã hội. Đề tài đã đề cập đến phát triển bền vững nói chung ở Việt Nam chưa nêu cụ thể về phát triển nông nghiệp bền vững ở một địa phương nhất định. - Công nghiệp hóa từ nông nghiệp, lý luận thực tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt Nam của tác giả Đặng Kim Sơn (2007), Nxb Nông nghiệp. Trong công trình của tác giả Đặng Kim Sơn thì phát triển nông nghiệp được tiếp cận từ lý thuyết phát triển nông nghiệp, kinh nghiệm của một số nước và triển vọng của Việt Nam chưa đi sâu phân tích ở góc độ phát triển bền vững nông nghiệp. 2 - Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam - Con đường và bước đi của Nguyễn Kế Tuấn (2006), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội thì phát triển nông nghiệp bền vững được tác giả tiếp cận chủ yếu dưới góc độ đánh giá tác động của việc phát triển nền nông nghiệp bền vững đối với nền kinh tế. - Nông nghiệp Việt Nam trong phát triển bền vững (2004), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, do Nguyễn Từ chủ biên. Đây là cuốn sách có nhiều bài viết có giá trị bàn về vị trí và vai trò của ngành nông nghiệp trong sự phát triển kinh tế bền vững chung của đất nước. - Đề tài “phát triển nông nghiệp hàng hóa ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp” (2010), Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đặng Thị Tố Tâm lại nghiên cứu sâu về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất lớn, sản xuất hàng hóa. Ngoài ra có nhiều công trình nghiên cứu nhưng chỉ ở dạng những bài báo đăng trên các báo, tạp chí, những báo cáo trong các hội thảo khoa học. Các công trình nghiên cứu, các bài viết, tham luận trên đều đề cập đến phát triển nông nghiệp bền vững ở các góc độ khác nhau. Đồng thời nêu lên các quan điểm và kiến nghị các giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững nhằm góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, đi sâu vào từng địa phương cụ thể vấn đề phát triển nông nghiệp, phát triển nông nghiệp bền vững còn ít được đề cập đến. Đối với tỉnh Thái Bình, nghiên cứu phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững trong thời kỳ đổi mới đất nước chưa có một công trình nào đề cập đầy đủ, toàn diện và hệ thống. Do vậy, đây là một đề tài độc lập, đề cập một cách đầy đủ hệ thống về phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình. Các công trình, tài liệu trên là cơ sở để tác giả kế thừa có chọn lọc trong quá trình làm luận văn, đồng thời trên cơ sở các tư liệu, tài liệu về phát triển nông nghiệp của tỉnh Thái Bình để làm rõ sự phát triển nông nghiệp bền vững ở tỉnh Thái Bình. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu - Mục đích của luận văn: 3 Trên cơ sở hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệp bền vững, luận văn đi sâu nghiên cứu thực trạng tình hình phát triển nông nghiệp ở tỉnh Thái Bình và đưa ra các giải pháp để phát triển nông nghiệp của địa phương theo hướng bền vững trong thời gian tới. - Nhiệm vụ của luận văn: Để thực hiện được mục tiêu này, luận văn có nhiệm vụ sau: + Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về phát triển bền vững, phát triển bền vững nông nghiệp từ góc độ lý luận và thực tiễn. + Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển nông nghiệp bền vững ở một số địa phương. + Phân tích thực trạng phát triển nông nghiệp bền vững ở tỉnh Thái Bình và những vấn đề đặt ra. + Đề xuất định hướng và giải pháp phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở Thái Bình trong thời gian tới. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Luận văn lấy đối tượng nghiên cứu là ngành sản xuất nông nghiệp và các yếu tố có liên quan đến phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình. - Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình dưới góc độ kinh tế chính trị. - Phạm vi thời gian: Nghiên cứu sản xuất nông nghiệp Thái Bình từ năm 2000 đến nay và đề xuất các giải pháp đến năm 2020. - Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu sản xuất nông nghiệp theo nghĩa hẹp trên địa bàn tỉnh Thái Bình. 5. Phương pháp nghiên cứu Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm phương pháp nghiên cứu cơ bản; đồng thời trong từng nội dung cụ thể luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp lôgic – lịch sử; phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương 4 pháp so sánh…để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chủ đề đề tài. 6. Những đóng góp mới của luận văn - Hệ thống hoá được những vấn đề lý luận về phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững trong bối cảnh mới của đất nước và thế giới. - Khái quát kinh nghiệm phát triển nền nông nghiệp theo hướng bền vững của một số tỉnh. Trên cơ sở đó, luận văn rút ra bài học kinh nghiệm cho tỉnh Thái Bình. - Phân tích thực trạng về việc phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình chỉ ra những mặt đạt được, những mặt hạn chế cũng như nguyên nhân của những hạn chế đó. - Đánh giá vai trò của nền nông nghiệp theo hướng bền vững đối với quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và nâng cao chất lượng cuộc sống cho dân cư nông thôn. - Đưa ra các quan điểm, các giải pháp để phát triển nền nông nghiệp bền vững ở tỉnh Thái Bình trong thời gian tới. 7. Bố cục của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệp bền vững Chương 2: Thực trạng phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình thời gian qua. Chương 3: Quan điểm, giải pháp tiếp tục phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình 5 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG 1.1. Khái luận chung về phát triển nông nghiệp bền vững 1.1.1. Những khái niệm cơ bản 1.1.1.1. Phát triển bền vững Phát triển bền vững xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường từ những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, khi cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã bùng nổ, chất lượng cuộc sống của xã hội loài người đã có bước tiến rõ rệt do khoa học công nghệ và năng suất lao động mang lại. Của cải được nhân loại tạo ra ngày càng nhiều và phong phú về chủng loại đã phần nào thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người, đã đưa đến sự phát triên nhanh của nền văn minh nhân loại. Song cũng chính từ sự phát triển ấy đã làm nảy sinh một số vấn đề ngày càng nổi cộm như tăng trưởng dân số quá nhanh, tiêu dùng một cách quá mức về của cải, tài nguyên, năng lượng, thiên tai, bão, lũ, ô nhiễm và sự cố môi trường ngày càng gia tăng đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội, gây trở ngại đối với sự phát triển kinh tế và làm giảm sút chất lượng cuộc sống của con người. Đứng trước áp lực của thực tế khắc nghiệt, con người không còn cách lựa chọn nào khác là phải xem xét lại những hành vi ứng xử của minh với thiên nhiên, phương sách phát triển KT - XH và tiến trình phát triển của mình. Cách lựa chọn duy nhất đó là con đường phát triển có sự kết hợp cả về kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường; đó chính là con đường đảm bảo tái sản xuất xã hội bền vững, hay nói cách khác đó chính là sự phát triển bền vững. Phát triển bền vững, cho đến nay có nhiều quan niệm khác nhau, sau đây là một số quan niệm bàn về phát triển bền vững. Ủy ban quốc tế về phát triển và môi trường (1987) đã đưa ra định nghĩa: “Phát triển bền vững là một quá trình của sự thay đổi, trong đó việc khai thác và sử dụng tài nguyên, hướng đầu tư, hướng phát triển của công nghệ và kỹ thuật và sự 6 thay đổi về tổ chức là thống nhất, làm tăng khả năng đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai của con người”. Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển tổ chức ở Rio de Jenerio (Braxin) năm 1992 đã đưa ra khái niệm vắn tắt về phát triển bền vững và được sử dụng một cách chính thức trên quy mô quốc tế đó là: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhanh đáp ứng những yêu cầu hiện tại mà không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”. Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về PTBV tổ chức ở Johannesburg (cộng hòa Nam Phi) năm 2002 đã bổ sung và hoàn chỉnh khái niệm về phát triển bền vững: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển gồm: Phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu và đời sống con người hiện tại, nhưng không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Như vậy, PTBV là sự phát triển trong mối liên hệ gắn kết chặt chẽ thực hiện ba nhóm mục tiêu lớn: Mục tiêu kinh tế, mục tiêu xã hội, mục tiêu môi trường. Trong đó sự phát triển kinh tế là nguồn gốc, là động lực; sự phát triển xã hội là mục tiêu và sự phát triển môi trường là điều kiện của phát triển bền vững. Theo đó, PTBV gồm ba nội dung cơ bản đó là: Bền vững về kinh tế: Đòi hỏi phải kết hợp hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa - xã hội, cân đối tốc độ tăng trưởng kinh tế với việc sử dụng các điều kiện nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, khoa học và công nghệ, đặc biệt chú trọng phát triển công nghệ sạch. Bền vững về xã hội: Là phải xây dựng một xã hội trong đó nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định phải đi đôi với dân chủ công bằng và tiến bộ xã hội, trong đó giáo dục – đào tạo, y tế và phúc lợi xã hội phải được chăm lo đầy đủ và toàn diện cho mọi đối tượng trong xã hội. Bền vững về tài nguyên và môi trường: Là các dạng tài nguyên thiên nhiên tái tạo được phải sử dụng trong phạm vi chịu tải của chúng nhằm khôi phục được cả về số lượng và chất lượng các dạng tài nguyên không tái tạo phải được sử dụng tiết 7 kiệm và hợp lý nhất. Môi trường tự nhiên (không khí, đất, nước, cảnh quan thiên nhiên…) nhìn chung không bị các hoạt động của con người làm ô nhiễm, suy thoái và tổn hại. Các nguồn phế thải từ công nghiệp và sinh hoạt được xử lý, tái chế kịp thời, vệ sinh môi trường được bảo đảm, con người được sống trong môi trường sạch. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về PTBV đã được kết tinh và phản ánh đầy đủ nhất trong Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam: “Mục tiêu tổng quát của PTBV là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa của con người và tự nhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa được ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường”. Từ những cơ sở lý luận nên trên, tác giả cho rằng: Phát triển bền vững có nội dung lớn và phong phú, không chỉ hàm nghĩa phát triển kinh tế bền vững mà còn bao hàm nội dung phát triển xã hội bền vững và gắn kết chặt chẽ với bảo vệ môi trường sinh thái. Trong mỗi nội dung có thành tố riêng nhưng chúng luôn thống nhất biện chứng và quan hệ hữu cơ với nhau tạo lên sự phát triển bền vững. Như vậy, việc quán triệt và nhận thức đúng đắn nội hàm của PTBV là phương pháp luận tốt khi thực hiện PTNNBV phù hợp với điều kiện hoàn cảnh hiện nay. 1.1.1.2. Phát triển nông nghiệp Nền nông nghiệp của mỗi quốc gia cũng đều phải trải qua giai đoạn phát triển từ thấp đến cao, gắn liền với sự tiến hóa của loài người và sự gia tăng dân số. Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, nền nông nghiệp chủ yếu là săn bắt, hái lượm. Khi loài người tích lũy được kinh nghiệm, công cụ sản xuất ra đời, nền nông nghiệp được phát triển sang trồng trọt và chăn nuôi theo hướng du canh hay du mục. Canh tác du canh, du cư gắn liền với nền canh tác đốt rẫy. Sau đó, do sức ép về dân số và đất đai, nông nghiệp du canh, du cư vẫn tồn tại đến ngày nay ở một số vùng do một số cộng đồng đồng bào dân tộc ít người thực hiện. Từ nền nông nghiệp truyền thống sang nông 8 nghiệp hiện đại, nông nghiệp tự cung và tự cấp sang nông nghiệp hàng hóa là những xu hướng cơ bản của sự phát triển nông nghiệp trong một thế kỷ qua ở các nước. Thuật ngữ phát triển nông nghiệp được dùng nhiều trong đời sống kinh tế xã hội. Phát triển nông nghiệp thể hiện quá trình thay đổi của nền nông nghiệp ở giai đoạn này so với giai đoạn trước đó và thường đạt ở trình độ cao hơn cả về số lượng và chất lượng. Nền nông nghiệp phát triển là một nền sản xuất vật chất không những có nhiều hơn về đầu ra (sản phẩm và dịch vụ) đa dạng hơn về tổ chức và thể chế, thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của xã hội về nông nghiệp. Như vậy, phát triển nông nghiệp là một quá trình không phải trong trạng thái tĩnh. Quá trình thay đổi của nền nông nghiệp chỉ sự tác động của quy luật thị trường, chính sách can thiệp vào nền nông nghiệp của chính phủ, nhận thức và ứng xử của người sản xuất và người tiêu dùng về các sản phẩm và dịch vụ tạo ra trong lĩnh vực công nghiệp. Nền nông nghiệp phát triển là kết quả của quá trình phát triển nông nghiệp. 1.1.1.3. Phát triển nông nghiệp bền vững Phát triển nông nghiệp bền vững là nội dung trọng yếu của chiến lược phá triển KT - XH của mọi quốc gia. Phát triển nông nghiệp bền vững là tiền đề đảm bảo các mục tiêu phát triển KT - XH, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người. Tuy nhiên vào nửa cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, trong quá trình PTNN loài người đã phải đương đầu với những thách thức có tính toàn cầu và ở từng quốc gia với mức độ nghiêm trọng khác nhau như: Sự nghèo đói, sự suy giảm về tài nguyên thiên nhiên và môi trường, áp lực dân số, sử dụng quá mức các chất hóa học…Trước những thách thức nói trên, PTNNBV mới bắt đầu được quan tâm trong hai thập kỷ cuối của thế kỷ XX với nhiều quan niệm khác nhau: Theo tổ chức lương thực và Nông nghiệp (FAO, 1992) định nghĩa: Phát triển nông nghiệp bền vững là quá trình quản lý và duy trì sự thay đổi về tổ chức, kỹ thuật ngày càng tăng của con người về nông phẩm và dịch vụ vừa đáp ứng nhu cầu của mai sau. Sự phát triển của nền nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản) sẽ đảm bảo không tổn hại đến môi trường, không giảm cấp tài 9 nguyên, sẽ phù hợp về kỹ thuật và công nghệ, có hiệu quả về kinh tế và được chấp nhận về phương diện xã hội. Định nghĩa này đã đề cập đến những vấn đề cốt lõi của PTNNBV trên cả ba phương diện là sự phát triển hài hòa ba nhóm mục tiêu: Kinh tế, xã hội và môi trường đồng thời chỉ rõ cách thức thực hiện để hướng đến phát triển nông nghiệp bền vững. Theo Ban cố vấn kỹ thuật thuộc nhóm chuyên gia quốc tế về nghiên cứu nông nghiệp của Liên Hợp Quốc (TAC/CGIRC) định nghĩa: Nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp phải bao hàm sự quản lý thành công tài nguyên thiên nhiên nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người đồng thời cải tiến chất lượng môi trường và gìn giữ được tài nguyên thiên nhiên [38, tr.12]. Quan niệm này thiên về giải pháp quản lý để PTNNBV, còn trên phương diện xây dựng nền nông nghiệp bền vững thì chưa được đề cập đầy đủ. Tổ chức về môi trường sinh thái thế giới (WCED) đưa ra định nghĩa: Nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp thỏa mãn được các nhu cầu của thế hệ hiện nay mà không làm giảm khả năng ấy đối với các thế hệ mai sau. Định nghĩa trên chỉ đề cập khái quát tới vấn đề PTNNBV nói chung chưa đi sâu vào từng khía cạnh cụ thể. Ở nước ta, vấn đề PTNNBV là một trong những nội dung được đề cập ở quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tương chính phủ về “Định hướng phát triển ở Việt Nam” Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam chỉ rõ: “Phát triển nông nghiệp bền vững là quá trình sản xuất ngày càng nhiều hàng hóa theo yêu cầu của thị trường, phải đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm, bảo tồn và phát triển được các nguồn tài nguyên như đất, nước, không khí, rừng và đa dạng sinh học [34, tr.10]. Các định nghĩa trên đã đề cập đến những giác độ khác nhau, rất lý thú và sâu sắc về phát triển nông nghiệp bền vững. Rõ ràng là các mục tiêu đặt ra của một nền nông nghiệp bền vững rất tuyệt vời và xứng đáng. Tuy nhiên để làm tốt các mục tiêu đó không phải là chuyện dễ dàng. Ngay cả những nước phát triển ở châu Mỹ, châu Âu cũng cần phấn đấu để dần có được một nền nông nghiệp bền vững như các mục tiêu đề ra ở trên. Các mục tiêu này nhằm đến một sự bền vững cho cả 10 thế giới và phải có bước đi thích hợp để đảm bảo cho cuộc sống hiện tại của mọi dân cư trên trái đất. Không thế vì một mục tiêu cứng nhắc nào mà quên đi các mục tiêu khác, nhất là sự sinh tồn của cả cộng đồng. Bên cạnh đó, nông nghiệp chỉ là một phần của xã hội, muốn có sự bền vững trong nông nghiệp thì xã hội như là một tổng thể, cần phải có các nguồn tài nguyên của nó như không khí, nước, đất, năng lượng và tất cả những thứ khác theo cách bền vững hơn .Với cách tiếp cận trên, tác giả luận văn có thể đưa ra quan niệm về PTNNBV ở tỉnh Thái Bình như sau: Phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình là quá trình Đảng bộ, chính quyền, các cơ quan, ban ngành chức năng, các thành phần kinh tế và nhân dân nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan, đường lối của Đảng, chính sách phát triển kinh tế của Nhà nước vào thực tiễn nền nông nghiệp Thái Bình nhằm đảm bảo nông nghiệp tăng trưởng nhanh, bền vững và ổn định, phân phối công bằng sản phẩm và tài nguyên nông nghiệp, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, làm tăng sự công bằng giữa các thế hệ và hoàn thiện chất lượng cuộc sống. Với quan niệm trên có thể hiểu PTNN theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình là việc Đảng bộ, chính quyền, các cơ quan ban ngành chức năng và nhân dân Tỉnh sử dụng các công cụ, chính sách, biện pháp tác động vào quá trình sản xuất nông nghiệp nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế liên tục, ổn định đạt hiệu quả cao, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho nhân dân góp phần xóa đói, giảm nghèo, giải quyết các vấn đễ xã hội, xây dựng nông thôn mới có đời sống vật chất và tinh thần ngày càng cao; gắn với việc bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống. Như vậy, PTNN theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình là sự kết hợp hài hòa của ba mặt. Bảo đảm phát triển kinh tế cao và ổn định gắn với giải quyết có hiệu quả các vấn đề về mặt xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái. 1.1.2. Tiêu chí phát triển bền vững trong nông nghiệp Phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững là nội dung quan trọng trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Để xác định chính xác tiêu chí phát triển bền vững trong nông nghiệp cần phải căn cứ vào nội dung CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về “ Đẩy mạnh CNH, HĐH nông 11 nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 -2010”, vào chiến lược phát triển KT - XH (2006 2010) của Đại hội X; chiến lược phát triển KT - XH (2011 - 2020) của Đại hội XI và căn cứ vào định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) cũng như đặc điểm riêng có của từng địa phương. Vận dụng vào điều kiện thực tế ở tỉnh Thái Bình, tiêu chí phát triển bền vững trong nông nghiệp được xác định cụ thể như sau: 1.1.2.1. Tiêu chí bền vững về kinh tế nông nghiệp Một là, bảo đảm nhịp độ tăng trưởng liên tục, ổn định và hiệu quả. Tăng trưởng là mục tiêu theo đuổi của tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân. Bất cứ một ngành nào, một lĩnh vực nào nếu không có sự tăng trưởng sẽ gây trở ngại đối với tiến trình phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế, nhất là những nước thuần nông như nước ta nói chung và tỉnh Thái Bình nói riêng; đồng thời tăng trưởng kinh tế phải gắn với phát triển KT - XH trong đó xác lập được sự cân đối giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế với việc sử dụng các nguồn lực con người, tài nguyên thiên nhiên, khoa học, công nghệ, đặc biệt chú trọng phát triển công nghệ thân thiện với môi trường. Hai là, áp dụng cơ giới hóa, ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất, chế biến nông sản, nhất là công nghệ sinh học. Đối với nền nông nghiệp truyền thống, năng suất lao động thấp, không ổn định, đôi khi còn ảnh hưởng nhiều của các yếu tố thời tiết, thiên tai. Mặt khác, năng suất và hiệu quả sản xuất nông nghiệp chưa cao, chi phí đầu vào lớn. Việc tiếp tục duy trì nền nông nghiệp truyền thống sẽ đẩy lùi sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Đồng thời, với phương thức canh tác thủ công, độc canh, khai thác, sử dụng bừa bãi tài nguyên đất, tài nguyên nước môi trướng sẽ bị tàn phá nghiêm trọng, điều đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của người lao động trong nông nghiệp và dân cư nông thôn. Vì vậy để phát triển bền vững về kinh tế nông nghiệp cần áp dụng cơ giới hóa, ứng dụng khoa học cộng nghệ vào sản sản xuất, chế biến nông sản, nhất là công nghệ sinh học. Ba là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế 12 Hiện nay nước ta đang đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH đất nước, mà một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Đây là một ngành sản xuất có vai trò hết sức quan trọng, nó không chỉ giúp đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, cung cấp nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp, sản xuất hàng hóa nông sản xuất khẩu, cân bằng và đảm bảo môi trường sinh thái mà sản xuất nông nghiệp còn là ngành chiếm đa số lao động của đất nước. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một đòi hỏi tất yếu để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Sự chuyển dịch phải đảm bảo theo tăng giá trị sản xuất ở những sản phẩm có giá trị, hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với việc khai thác tiềm năng lợi thế của vùng. Bốn là, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực Những nguồn lực cơ bản trong sản xuất nông nghiệp đó là đất nông nghiệp, lực lượng lao động (cả về chất lượng và số lượng) tham gia sản xuất nông nghiệp và các nguồn vốn (tài chính) được huy động đầu tư vào sản xuất. Sử dụng hiệu quả các nguồn lực nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân. 1.1.2.2. Tiêu chí bền vững về xã hội Tuyên bố tại Hội nghị Rio de Ranerio đã khẳng định: Xóa bỏ đói nghèo là yêu cầu không thể thiếu của phát triển bền vững (kinh tế, xã hội và môi trường). Do vậy tiêu chí bền vững về xã hội trong khu vực nông thôn cần giải quyết như xóa đói giảm nghèo, giải quyết công ăn việc làm và thực hiện công bằng xã hội, giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo…Trên thực tế hiện nay, tình trạng nghèo đói tồn tại chủ yếu ở vùng nông thôn, chiếm phần lớn trong số những người thuộc diện nghèo đói là những người tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp. Đối với nền nông nghiệp truyền thống lạc hậu, tốc độ tăng trưởng thấp rất khó có thể giải quyết được vấn đề nghèo đói. Trong khi đó, việc phát triển một nền nông nghiệp theo hướng bền vững sẽ đảm bảo được các mục tiêu tăng trưởng ổn định và hiệu quả. Thực hiện các mục tiêu trên sẽ là cơ sở giải quyết vấn đề thất nghiệp, tạo ra nhiều cơ hội về công ăn việc làm, ổn định đời sống cho người lao động từng bước nâng cao thu nhập và chất lượng đời sống cho nhân dân trong khu vực nông thôn. Khi các mục 13 tiêu trên được thực hiện sẽ là cơ sở, tiền đề vật chất góp phần thúc đẩy nhanh quá trình xóa đói giảm nghèo. Tiêu chí phát triển bền vững về xã hội trong nông nghiệp phải tạo điều kiện cho mọi người, nhất là những người trong hoàn cảnh khó khăn đều có cơ hội tiếp cận công bằng các dịch vụ cơ bản về giáo dục, y tế, thông tin…mang tính an sinh xã hội luôn giữ một vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện công bằng xã hội ở nước ta hiện nay. 1.1.2.3. Tiêu chí bền vững về môi trường trong nông nghiệp Trong tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân thì nông nghiệp là ngành liên quan trực tiếp tới các điều kiện tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái. Bằng hoạt động lao động của mình con người tác động đến các yếu tố tự nhiên trong đất để nuôi dưỡng cây trồng, gia súc, từ đó tạo ra các sản phẩm cần thiết cho xã hội. Vì vậy bảo vệ nguồn tài nguyên đất, nước…là một nhiệm vụ cấp bách, nó không chỉ đáp ứng yêu cầu trước mắt mà còn tạo nền tảng vững chắc cho sự nghiệp bảo vệ tài nguyên và môi trường trong tương lai và lâu dài, vì đó là sự sống còn của chính chúng ta và thế hệ tương lai. Do đó phát triển bền vững về môi trường nông nghiệp phải gắn với bảo vệ đất, sử dụng tiết kiệm đất và sử dụng các nguồn nước, sử dụng tiết kiệm nguồn nước. Hoạt động sản xuất nông nghiệp phải giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó với sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học. Để thực hiện được các tiêu chí trên cần tập trung vào ba nội dung sau: Thứ nhất, khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên hiện có để thỏa mãn nhu cầu con người. Do đó trong khai thác tài nguyên thiên nhiên vào sản xuất nông nghiệp phải có quy hoạch, kế hoạch khoa học. Thứ hai, giữ gìn và bảo tồn chất lượng tài nguyên thiên nhiên cho các thế hệ mai sau. Do đó ngay trong hiện tại, việc khái thác và sử dụng các nguồn tài nguyên ngoài việc thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ hiện tại phải tinh đến lợi ích của thế hệ tương lai. 14 Thư ba, ngăn chặn ô nhiễm, lạm dụng hóa chất trong sản xuất nông nghiệp. Trên cơ sở đẩy mạng việc ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào sản xuất nhằm tạo ra những sản phẩm sạch, có chất lượng cao. Như vậy, những tiêu chí nêu trên là cơ sở cho việc đánh giá toàn diện sự phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững. Tuy nhiên, trong quá trình xem xét, đánh giá cần có quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển để vận dụng những tiêu chí này cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển, từng trường hợp cụ thể với những yêu cầu khác nhau, ở những địa phương khác nhau, khu vực và từng vùng khác nhau. 1.1.3. Điều kiện phát triển nông nghiệp bền vững 1.1.3.1. Môi trường kinh tế vĩ mô Các hoạt động kinh tế bao giờ cũng diễn ra trong môi trường vĩ mô nhất định. Môi trường vĩ mô càng thuận lợi, các hoạt động kinh tế càng hiệu quả và càng được mở rộng. Bởi vậy để phát triển bền vững phải tạo lập môi trường vĩ mô thuận lợi cho phát triển nông nghiệp như ổn định hệ thống chính trị, xã hội, tạo lập môi trường pháp lý, bảo vệ được lợi ích chính đáng của nông dân, xây dựng môi trường văn hóa giáo dục phù hợp với yêu cầu phát triển KT - XH; củng cố, mở rộng quan hệ hữu nghị với các nước. Hệ thống chính trị ở nông thôn đó là chủ thể trực tiếp lãnh đạo, đưa PTNNBV vào cuộc sống. Cho nên hệ thống chính trị ở cơ sở là cực kỳ quan trọng. Vai trò hệ thống chính trị ở nông thôn thể hiện trực tiếp ở chỗ tổ chức cho nhân dân thực hiện các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước về xây dựng nông nghiệp phát triển bền vững vào thực tiễn cuộc sống. Các chủ trương, đường lối, chính sách đó dù có đúng nhưng khâu thực hiện không tốt thì cũng chỉ dừng lại ở góc độ lý luận mà thôi; đó là chưa tính đến thực hiện sai có thể dẫn đến sự phá hoại vững mạnh của hệ thống chính trị ở nông thôn là yếu tố chính trị, xã hội bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện phát triển nông nghiệp bền vững đạt được mục đích. 1.1.3.2. Các nguồn lực cơ bản 15
- Xem thêm -