Phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự ở việt nam hiện nay

  • Số trang: 27 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 13 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN * TRỊNH XUÂN SƠN PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CÁN BỘ KHOA HỌC TRONG CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ QUÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Chuyên nghành: CNDVBC& CNDVLS Mã số: 62228005 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC TP. HỒ CHÍ MINH – 2012 Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRỊNH DOÃN CHÍNH Phản biện 1: Phản biện 2: Phản biện 3: Phản biện độc lập 1: Phản biện độc lập 2: Luận án sẽ được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án cấp cơ sở đào tạo họp tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Vào hồi…….Giờ……Ngày…....Tháng…....năm …… Có thể tìm hiểu luận án tại: - Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp. Hồ Chí Minh - Thư viện Khoa học Tổng hợp, Số 9 Lý Tự Trọng, Q.1, Tp. Hồ Chí Minh 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nguồn lực con người vừa là chủ thể, vừa là khách thể của quá trình phát triển kinh tế xã hội. Con người không chỉ là tinh hoa trong sự phát triển của thế giới mà còn là tác nhân cải biến thế giới, làm nên lịch sử của mình và hoàn thiện chính bản thân mình. Nguồn lực con người với tri thức, kỹ năng, tinh thần thái độ và phẩm chất đạo đức đã trở thành nguồn tài sản vô cùng quý giá, là nhân tố quyết định sự tăng trưởng và phát triển của mọi quốc gia và vùng lãnh thổ. Phát triển con người là mục tiêu cao nhất trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, đồng thời là động lực của sự phát triển xã hội. Vì lẽ đó, nhiều quốc gia đã đặt việc phát triển nguồn lực con người ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển của mình. Đối với Việt Nam, chúng ta đang đẩy mạnh hội nhập quốc tế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa xây dựng đất nước ta thành một nước “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”1,1 đã đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Trên cơ sở nhận thức một cách sâu sắc vị trí, vai trò và ý nghĩa chiến lược của việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn mới, trong Văn kiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta đã khẳng định: “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi; đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn hóa đầu đàn; đội ngũ doanh nhân và lao động lành nghề” 2. Cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự là lực lượng có năng lực chuyên môn giỏi, có tư duy độc lập, sáng tạo, thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ, và đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ cao. Họ cũng đang cùng đội ngũ cán bộ kỹ thuật quân sự tham gia sản xuất, chế tạo, sửa chữa vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự nhằm nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội. Mặt khác, họ đang cùng với đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật quốc gia đẩy mạnh việc nghiên cứu, sáng chế, phát triển khoa học kỹ thuật dân dụng, dân sinh, gắn kết khoa học và công nghệ quốc phòng với sự phát triển kinh tế của đất nước. Thời gian qua, việc xây dựng và phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần đáng kể vào sự nghiệp xây dựng và phát triển ngành khoa học kỹ thuật quân sự Việt Nam. Tuy nhiên, dù đã rất cố gắng, song nguồn lực này còn bộc lộ những hạn chế nhất định như: số lượng cán bộ còn thiếu so với tổ chức, biên chế; chất lượng cán bộ đặc biệt là chất lượng đào tạo và trình 1 1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 70. 2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 216. 2 độ chuyên môn, ngoại ngữ chưa thực sự đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ của đất nước nói chung cũng như của quân đội nói riêng; cơ cấu đội ngũ cán bộ khoa học, đặc biệt là cơ cấu nghành nghề, cơ cấu phân bố lực lượng cán bộ khoa học chưa hợp lý. Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự ở Việt Nam hiện nay” làm luận án tiến sĩ Triết học. 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Nguồn lực con người và phát triển nguồn lực con người trong sự phát triển xã hội là đề tài hấp dẫn, đã và đang thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong và ngoài quân đội. Có thể khái quát các công trình trên thành các nhóm đề tài có liên quan đến luận án như sau: Thứ nhất, nhóm đề tài nghiên cứu về nguồn lực con người và phát triển nguồn nhân lực nói chung: Liên quan đến chủ đề này, có nhiều công trình và tác phẩm như cuốn "Con người và nguồn lực con người trong phát triển" của Trung tâm khoa học xã hội nhân văn quốc gia, Hà Nội, 1995. Tiếp đến là công trình "Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", do GS, TS. Phạm Minh Hạc, chủ nhiệm đề tài, Hà Nội, 1996. Cũng liên quan đến vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa có công trình “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” do PGS. Mai Quốc Chánh chủ biên (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999). Công trình “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, lý luận và thực tiễn” do GS.TS. Nguyễn Trọng Chuẩn, PGS.TS. Nguyễn Thế Nghĩa, PGS.TS. Đặng Hữu Toàn đồng chủ biên (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002). Liên quan đến chủ đề này còn có công trình nghiên cứu “Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của TS. Đoàn Văn Khải (Nxb. Lý luận chính trị, 2005). Tiếp đến là đề tài “Phát huy nguồn lực con người để công nghiệp hóa, hiện đại hóa: kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam” của TS.Vũ Bá Thể (Nxb. Lao động - Xã hội, Hà Nội); hay công trình nghiên cứu “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của TS. Nguyễn Thanh (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005). Thứ hai, nhóm đề tài liên quan đến nguồn lực con người và phát triển nguồn lực con người trong quân đội: Một số bài viết tiêu biểu về nguồn lực con người trong quân đội như: "Suy nghĩ về xây dựng nguồn lực con người cho quân đội trong tình hình hiện nay" của Đức Lê, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 7, năm 2001; hay đề tài khoa học cấp Bộ Quốc phòng “Nâng cao chất lượng công tác Đảng, công tác Chính trị ở các cơ quan, Viện nghiên cứu khoa học công nghệ của quân đội trong thời kỳ mới”, của Viện Khoa học Xã hội và nhân văn quân sự Bộ quốc phòng Hà Nội 2005; bài viết "Giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ chuẩn bị cho nền kinh tế tri thức" của GS, TS. Nguyễn Hoa 3 Thịnh, Tạp chí Kỹ thuật và Trang bị, số 4, năm 2000. ngoài ra, liên quan đến chủ đề này còn có đề tài “Phát huy nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự trẻ trong xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Minh Thắng, Luận án tiến sỹ Triết học, Hà Nội, 2005. Đề tài cấp Bộ Quốc phòng “Xây dựng đội ngũ trí thức quân đội trong tình hình mới” của Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn quân sự, Hà Nội 2012. Ở những góc độ khác nhau, các công trình nêu trên đã đưa ra quan niệm về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực; về vai trò của nguồn nhân lực trong sự phát triển kinh tế, xã hội; các chính sách đối với cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự. Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ chính trị - xã hội về phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự trong giai đoạn hiện nay. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án Mục đích: Mục đích của luận án là phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn việc xây dựng và phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự hiện nay; từ đó đề xuất những định hướng và giải pháp cơ bản nhằm xây dựng và phát triển nguồn lực này trong thời gian tới. Để đạt được mục đích trên, luận án phải thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu như sau: Thứ nhất, trình bày, luận giải làm rõ những vấn đề lý luận về phát triển nguồn nhân lực nói chung và việc phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự nói riêng. Thứ hai, trình bày, phân tích, đánh giá thực trạng việc xây dựng và phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự thời gian qua. Thứ ba, đề xuất những định hướng và giải pháp cơ bản nhằm xây dựng và phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự hiện nay. 4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án Về ý nghĩa khoa học: Luận án làm rõ những vấn đề lý luận chung về nguồn lực con người (nguồn nhân lực); phát triển nguồn nhân lực; nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự; luận giải một cách khoa học thực trạng và giải pháp phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự ở Việt Nam hiện nay. Về ý nghĩa thực tiễn: Luận án khẳng định việc xây dựng nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự là vấn đề cơ bản và quan trọng trong xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội nói chung và đội ngũ 4 cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự nói riêng. Với kết quả đạt được, luận án nhằm làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn của nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự hiện nay, giúp lãnh đạo, chỉ huy các cấp đổi mới công tác tổ chức, lãnh đạo, quản lý và bồi dưỡng cán bộ khoa học. Đồng thời, kết quả của luận án góp phần nâng cao nhận thức để mỗi cán bộ khoa học phát huy hiệu quả những khả năng sẵn có của mình, cùng đội ngũ cán bộ kỹ thuật toàn quân xây dựng ngành khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự của quân đội nhân dân Việt Nam ngày càng phát triển. 5. Cái mới của luận án - Trên cơ sở lý luận chung về phát triển nguồn lực con người, luận án đã lý giải và phân tích làm rõ vấn đề phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự ở Việt Nam hiện nay; - Từ sự phân tích, đánh giá thực trạng nguồn lực và việc phát triển nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự qua thực tế khảo sát đánh giá ở một số viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự lớn của quân đội trong thời gian qua, luận án đã đề xuất một số giải pháp nhắm phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự ở Việt Nam hiện nay 6. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp lịch sử và lôgic, phân tích và tổng hợp, trừu tượng hoá và khái quát hoá, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp chuyên gia,v.v.. để nghiên cứu và trình bày luận án. Luận án dựa vào số liệu thống kê, các báo cáo tổng kết, đánh giá đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự của các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng và các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự. Luận án được thực hiện trên cơ sở kết quả điều tra, khảo sát thực tế của tác giả về thực trạng nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự hiện nay. 7. Kết cấu của luận án Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 3 chương và 6 tiết. 5 Chương 1 LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CÁN BỘ KHOA HỌC TRONG CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ QUÂN SỰ 1.1. QUAN NIỆM VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CÁN BỘ KHOA HỌC TRONG CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ QUÂN SỰ 1.1.1. Khái luận về nguồn lực và phát triển nguồn nhân lực Trước hết, để làm rõ khái niệm về phát triển nguồn lực các bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự, luận án tập trung trình bày, phân tích những khái niệm, phạm trù và những quan điểm, lý luận chung về nguồn lực con người và phát triển nguồn lực con người. Khái luận về nguồn lực. Như ta đã biết nguồn lực là toàn bộ các yếu tố có khả năng tạo ra sức mạnh tổng hợp, thúc đẩy quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng, của tự nhiên và xã hội. Nói đến nguồn lực con người là nói đến chủ thể đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia nhất định. Khi nói đến nguồn lực không chỉ nói đến sức mạnh, năng lực đã được bộc lộ và đang phát huy tác dụng, mà cả những sức mạnh, năng lực tồn tại ở dạng tiềm ẩn, hay còn gọi là tiềm năng, tiềm lực tiếp tục nảy sinh và sẽ được khơi dậy, khai thác, sử dụng trong quá trình hoạt động thực tiễn, nó phản ánh không chỉ số lượng mà còn cả chất lượng các yếu tố và sự biến đổi không ngừng của các yếu tố đó. Tùy theo từng góc độ tiếp cận khác nhau, có thể chia nguồn lực thành: nguồn lực vật chất và nguồn lực tinh thần, nguồn lực kinh tế và nguồn lực văn hóa, nguồn lực trong nước và nguồn lực ngoài nước, nguồn lực khách quan và nguồn lực chủ quan... Nhìn chung, cho đến nay, để khẳng định vai trò của nguồn lực đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc, người ta chia nguồn lực thành các loại cơ bản sau đây: nguồn nhân lực (nguồn lực con người); nguồn lực tài nguyên và điều kiện thiên nhiên; nguồn lực do đặc điểm, điều kiện và vị trí địa lý mang lại; nguồn vốn tài chính và cơ sở vật chất - kỹ thuật; các nguồn lực bên trong và bên ngoài... Các nguồn lực này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Trong các nguồn lực đó, nguồn lực con người là quan trọng nhất; vừa là điểm khởi đầu, vừa ở vị trí trung tâm, là nhân tố chủ động, hay là chủ thể, có khả năng định hướng và gắn kết các nguồn lực khác vì mục tiêu phát triển. Từ đó, có thể quan niệm nguồn lực con người là tổng hòa các yếu tố về thể chất, trí tuệ, trình độ chuyên môn kỹ thuật, đạo đức, ý thức trách nhiệm, thái độ và tác phong lao động,v.v… cách tạo nên năng lực sáng tạo của con người, của cộng đồng người mà trước hết là lực lượng lao động đang và sẵn 6 sàng tham gia vào hoạt động vì sự tiến bộ và phát triển của xã hội. Nguồn lực con người không phải là sự cộng lại giản đơn các cá nhân với những phẩm chất, năng lực của họ mà là tổng hợp các yếu tố số lượng, cơ cấu và chất lượng con người. Phát triển nguồn nhân lực, thực chất là nâng cao giá trị nguồn lực con người, chủ yếu trên các phương diện thể lực, trí tuệ, đạo đức, năng lực chuyên môn kỹ thuật, thẩm mỹ… nhằm đạt hiệu quả tối đa trong hoạt động, đặc biệt là hoạt động sáng tạo ra các giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Để phát triển nguồn nhân lực một cách toàn diện cần phải được tiến hành với ba nội dung cơ bản là: phát triển nguồn nhân lực về số lượng, về chất lượng và nâng cao hiệu quả sử dụng ngồn nhân lực. Quan điểm về phát triển nguồn nhân lực. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực hẹp hơn so với khái niệm phát triển con người. Phát triển nguồn nhân lực, xét về tổng thể đó là quá trình phát triển nguồn lực con người từ dạng tiềm năng thành vốn con người - vốn nhân lực và chuyển vốn này vào hoạt động kinh tế - xã hội. Xét ở góc độ cá nhân con người, thì phát triển nguồn nhân lực chính là việc nâng cao sức khỏe, tri thức, trình độ chuyên môn, lành nghề, kỹ năng thực hành để tăng năng suất lao động, tăng thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống. Từ những phân tích ở trên, chúng ta có thể rút ra kết luận: Phát triển nguồn nhân lực, thực chất là nâng cao giá trị nguồn lực con người, chủ yếu trên các phương diện thể lực, trí tuệ, đạo đức, năng lực, thẩm mỹ… nhằm đạt hiệu quả tối đa trong hoạt động, đặc biệt là hoạt động sáng tạo ra các giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Để phát triển nguồn nhân lực một cách toàn diện cần phải được tiến hành với ba nội dung cơ bản là: phát triển nguồn nhân lực về số lượng, về chất lượng và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực. 1.1.2. Nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự của quân đội ta hiện nay tập trung chủ yếu ở một số đơn vị lớn như: Viện khoa học và công nghệ quân sự, Trung tâm nhiệt đới Việt - Nga; Viện kỹ thuật Phòng không - Không quân, thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân; Viện kỹ thuật Hải quân, thuộc Quân chủng Hải quân; Viện hóa học - môi trường quân sự, thuộc Binh chủng Hóa học; Viện công nghệ, Viện thiết kế tàu quân sự, Viện thiết kế vũ khí, Viện thuốc phóng, thuốc nổ, thuộc Tổng cục Công nghiệp quốc phòng; Viện kỹ thuật cơ giới quân sự thuộc Tổng cục kỹ thuật.... Trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự biên chế 5 loại cán bộ như: Cán bộ quân sự, cán bộ chính trị, cán bộ hậu cần, cán bộ kỹ thuật quân sự và cán bộ chuyên môn nghiệp vụ. Cán bộ nghiên cứu khoa học kỹ thuật được xếp theo chuyên ngành (kỹ thuật quân sự) là lực lượng đông đảo nhất chiếm khoảng 85% tổng số cán bộ của các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự. Theo quy định về chức năng nhiệm vụ, tổ chức 7 hoạt động của các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự cũng như chức trách, nhiệm vụ của cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự cho thấy, “nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự là một bộ phận trong nguồn lực cán bộ quân đội. Họ là những cán bộ, sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam, có tuổi đời từ 21 đến 65; quân hàm từ thiếu uý đến cấp tướng và tương đương; trình độ học vấn từ cử nhân, kỹ sư đến tiến sĩ khoa học kỹ thuật quân sự; chức vụ từ trợ lý nghiên cứu đến viện trưởng và tương đương, có chức danh khoa học từ nghiên cứu viên đến nghiên cứu viên cao cấp” (nguồn Cục Cán bộ TCCT). Từ nghiên cứu những điểm chung nhất về đội ngũ cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự có thể quan niệm: Nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự là tổng hòa các yếu tố về số lượng, chất lượng và cơ cấu cán bộ khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau của các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự, đang đóng góp quan trọng vào việc nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, đào tạo cán bộ khoa học có trình độ cao, góp phần phát triển ngành khoa học kỹ thuật quân sự, nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội. Các yếu tố về chất lượng, số lượng và cơ cấu nguồn lực cán bộ khoa học có mối quan hệ biện chứng tác động lẫn nhau, làm tiền đề và điều kiện cho nhau. Chất lượng cán bộ khoa học là điều kiện "cần", số lượng và cơ cấu cán bộ khoa học là điều kiện "đủ" làm cơ sở để khai thác có hiệu quả tiềm năng của đội ngũ này. Trong quá trình phát triển cần phải bảo đảm số lượng hợp lý nhưng đồng thời cũng phải bảo đảm sự cân đối về cơ cấu của nguồn lực. Qua nghiên cứu về về nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự tác giả nhận thấy nguồn lực này có những đặc điểm nổi bật như sau: Thứ nhất, là nguồn lực cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tính thống nhất cao về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Thứ hai, nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự được đào tạo cơ bản, có trình độ khoa học cao so với mặt bằng chung trong quân đội và xã hội. Thứ ba, nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự hoạt động khoa học trong điều kiện khắc nghiệt, đầy khó khăn, gian khổ. Những đặc điểm trên của nguồn lực cán bộ khoa học phản ánh tiềm năng, sức mạnh cũng như những khó khăn, thử thách của nguồn lực này. Đây là cơ sở để các chủ thể quản lý nhìn nhận chính xác và đề ra các giải pháp thích hợp để xây dựng và phát triền nguồn lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. 1.1.3. Phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự Phát triển nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự là làm cho nguồn lực này vận động, biến đổi theo chiều hướng tích cực, đi lên, ngày càng hoàn thiện hơn về số lượng, chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn lực ấy, đáp ứng 8 yêu cầu nhiệm vụ xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Về số lượng cán bộ khoa học, phát triển nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự là việc đảm bảo số lượng cán bộ theo nhu cầu biên chế về đội ngũ cán bộ khoa học của các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự, đồng thời phải có lực lượng dự bị cho nguồn kế cận, kế tiếp, sẵn sàng thay thế khi cần thiết. Về chất lượng cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự, phát triển nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự là gia tăng giá trị đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực, thẩm mỹ, làm cho họ trở thành những người cán bộ có những năng lực và phẩm chất mới, mở rộng khả năng và sự lựa chọn của họ để tự phát triển; đồng thời, tạo nên nguồn vốn trí tuệ có chất lượng cao hơn, có thể khai thác, phát huy có hiệu quả các thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại vào phát triển khoa học kỹ thuật quân sự. Sử dụng nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự là việc chủ thể quản lý căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ, đặc điểm, tính chất công việc, phẩm chất, năng lực của cán bộ để bố trí, sắp xếp, bổ nhiệm họ vào các vị trí phù hợp, đem lại hiệu quả công việc cao nhất và sự phát triển tốt nhất của nguồn lực này. Tuy nhiên để phát triển nguồn lực, đáp ứng được các tiêu chí về số lượng, chất lượng và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự, nhất thiết phải dựa vào hai yếu tố căn bản đó là vai trò, trách nhiệm của các chủ thể quản lý và việc phát huy vai trò trách nhiệm của chính nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự. Các chủ thể quản lý nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự bao gồm: Quân ủy Trung ương - Bộ quốc phòng, các cơ quan ban nghành thuộc Bộ quốc phòng; các tổ chức Đảng, tổ chức chỉ huy, tổ chức quần chúng; lãnh đạo, chỉ huy và các cơ quan, đơn vị thuộc các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự… Để xây dựng và phát triển nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự các chủ thể phải tiến hành nhiều nội dung như: Nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong việc xây dựng và phát triển nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự; tiến hành quy hoạch, sử dụng; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; chế độ chính sách và đãi ngộ; tạo môi trường xã hội thuận lợi để cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự phát huy hết vai trò của mình… Phát huy nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự là việc phát hiện và khơi dậy tiềm năng, năng lực, thúc đẩy xu thế vận động, phát triển; đồng thời, khắc phục những hạn chế, giảm thiểu tiêu cực của mỗi cán bộ và cả nguồn lực; là quá trình cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự tự giác, khắc phục khó khăn, vươn lên hoàn thành nhiệm vụ được giao. Qua nghiên cứu, xem xét từ góc độ lý luận và thực tiễn cho thấy, chủ thể quản lý và nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự là hai mặt của quá trình phát triển nguồn lực cán bộ khoa học, chúng có quan hệ biện chứng, 9 chi phối, tác động qua lại, trong đó, chủ thể quản lý là yếu tố bên ngoài, là cơ sở, điều kiện, còn nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự là yếu tố bên trong, là nội lực có tính quyết định trong việc xây dựng và phát triển nguồn lực cán bộ khoa học ở các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự. Như vậy dù phát triển nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự theo bề rộng hay chiều sâu, phát triển về số lượng, hay chất lượng, hiệu quả xây dựng phát triển theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực đều phụ thuộc vào hai nhân tố cơ bản của sự phát triển, đó là chủ thể quản lý và của nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự. 1.2. VAI TRÒ CỦA NGUỒN LỰC CÁN BỘ KHOA HỌC TRONG CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ QUÂN SỰ VỚI AN NINH QUỐC PHÒNG VÀ NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN Từ thực tiễn quá trình tổ chức, triển khai nhiệm vụ và kết quả đã đạt được trong thời gian qua, có thể khái quát đánh giá về vai trò của nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự với an ninh quốc phòng và kinh tế quốc dân như sau: 1.2.1. Nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự với việc xây dựng tiềm lực khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự Với vai trò của mình, trong nhiều năm qua nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự đã phát huy hết tinh thần trách nhiệm, khắc phục mọi khó khăn để nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật; nghiên cứu triển khai các công nghệ mới trong khai thác, bảo quản sửa chữa, nâng cấp vũ khí, trang bị kỹ thuật; khai thác có hiệu quả các trang thiết bị, phòng thí nhiệm và cơ sở vật chất hiện có để từng bước nâng cao tiềm lực khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự. Đồng thời, họ đang ra sức học tập, nâng cao trình độ về chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, rèn luyện phẩm chất đạo đức, tạo ra các tập thể cán bộ khoa học mạnh, đủ sức hoàn thành tốt các nhiệm vụ trong tình hình mới. 1.2.2. Nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự với sự nghiệp giáo dục và đào tạo Ở các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự, đại đa số cán bộ khoa học là nguồn nhân lực bậc cao của quân đội và đất nước, ngoài nhiệm vụ chính trị là nghiên cứu khoa học và công nghệ thì nhiệm vụ đào tạo cán bộ, nhất là đào tạo cán bộ trình độ cao được đặc biệt quan tâm. Trước hết nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự, trực tiếp đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ trẻ mới ra trường về chuyên môn kỹ thuật cũng như kỹ năng, tư duy và phương pháp nghiên cứu khoa học, đặc biệt là việc đào tạo, bồi dưỡng thông qua các đề tài dự án khoa học và công nghệ. Cùng 10 với việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho các viện nghiên cứu và cho ngành khoa học kỹ thuật quân sự, các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự và đội ngũ cán bộ khoa học của viện còn tham gia giảng dạy, bồi dưỡng những kiến thức khoa học kỹ thuật cho sinh viên và học viên sau đại học cho các địa phương và các cơ sở đào tạo trong toàn quốc, kể cả các sinh viên quốc tế. Đồng thời, thông qua hoạt động thực tiễn như giảng dạy, nghiên cứu, chế tạo, sử dụng, tổ chức quản lý khoa học kỹ thuật quân sự ở các cơ quan, đơn vị đã trực tiếp tham gia phát triển nguồn nhân lực quân sự và cả dân sự chất lượng cao. 1.2.3. Nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự với nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, chuyển giao các công nghệ, phục vụ an ninh quốc phòng và kinh tế quốc dân Việc nghiên cứu, ứng dụng và triển khai các công nghệ hiện đại, sản xuất hàng hóa, dịch vụ khoa học kỹ thuật phục vụ dân sinh là một nhiêm vụ quan trọng của công nghiệp quốc phòng nói chung và của ngành khoa học kỹ thuật quân sự nói riêng. Một mặt, công nghiệp quốc phòng bảo toàn được năng lực nghiên cứu, triển khai công nghệ, sản xuất trang bị kỹ thuật quân sự, củng cố được đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự và đội ngũ công nhân lành nghề, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội. Mặt khác, thông qua các hoạt động hợp tác, liên doanh, liên kết, đổi mới và chuyển giao công nghệ giữa các viện, các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng và viện, các doanh nghiệp công nghiệp then chốt của Nhà nước, các đơn vị quốc phòng có điều kiện để học hỏi, đổi mới kỹ thuật, công nghệ, vận dụng tối đa những thành tựu của kinh tế tri thức, của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại để phát triển công nghiệp quốc phòng. Thực tế nhiều năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương, Bộ quốc phòng các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự và nguồn lực cán bộ khoa học ở đây đã trực tiếp nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, sản xuất, chế tạo, làm dịch vụ khoa học kỹ thuật, phục vụ đắc lực cho phát triển kinh - tế xã hội ở nhiều địa phương cũng như các nghành trong phạm vi cả nước. Các công trình nghiên cứu, các đề tài dự án được ứng dụng rộng rãi không chỉ góp phần củng cố quốc phòng an ninh mà còn góp phần giải quyết những khó khăn của các địa phương đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa; ở biên giới, hải đảo và các vung kinh tế đặc biệt khó khăn. 1.2.4. Nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự với nhiệm vụ đấu tranh về tư tưởng và lý luận, bảo vệ chân lý khoa học Cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự với bản lĩnh chính trị vững vàng, được trang bị lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm chủ 11 kiến thức khoa học kỹ thuật quân sự và khoa học xã hội - nhân văn, đang góp phần to lớn vào cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng lý luận, bảo đảm cho quân đội ta là lực lượng trung thành, đáng tin cậy của Đảng, Nhà nước và của nhân dân. Mặt khác, thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đội quân công tác, cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự đang tích cực tuyên truyền, giúp chính quyền và nhân dân các địa phương hiểu rõ bản chất hiếu chiến, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của kẻ thù đối với cách mạng Việt Nam; vận động quần chúng nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; cùng với nhân dân địa phương xây dựng hệ thống chính trị cơ sở, quyết tâm đập tan "chiến lược diễn biến hoà bình" của chủ nghĩa đế quốc. Ngoài ra nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự còn phải tuyên truyền giáo dục tinh thần yêu nước, trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia và kiến thức quốc phòng, an ninh, làm cho mọi người hiểu rõ những thách thức lớn tác động trực tiếp đến nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc trong điều kiện mới như: “chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao, tranh chấp chủ quyền biển đảo, vùng trời, diễn biến hòa bình, bạo loạn chính trị, khủng bố, tội phạm công nghệ cao, tội phạm xuyên quốc gia…” 42 3 Kết luận chương I Trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, con người và nguồn lực con người luôn giữ vai trò quan trọng, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội. Bởi vậy, Đảng ta coi phát triển nguồn lực con người là chiến lược của mọi chiến lược “là trung tâm của sự phát triển”, nhằm khai thác tiềm năng con người và cộng đồng dân cư, bảo đảm cho thắng lợi của sự nghiệp đổi mới,xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự là tổng hòa các yếu tố số lượng, chất lượng, cơ cấu và hiệu quả sử dụng nguồn lực này. Để phát triển nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự, quân đội ta cần tích cực hóa các nhân tố sau: giáo dục, đào tạo; sức khoẻ và dinh dưỡng; bố trí, sử dụng; môi trường, việc làm; chế độ đãi ngộ... Những nhân tố này có khả năng tạo ra giá trị cho sự phát triển nguồn lực cán bộ khoa học, chúng gắn bó với nhau và phụ thuộc lẫn nhau, trong đó giáo dục và đào tạo là cơ sở để phát triển các nhân tố khác, là phương tiện chủ yếu nhất làm gia tăng số lượng, chất lượng cũng như cơ cấu nguồn lực. Chương 2 2 3 4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện đại hội đại biểu lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội, tr. 234. 12 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CÁN BỘ KHOA HỌC TRONG CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ QUÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CÁN BỘ KHOA HỌC TRONG CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ QUÂN SỰ HIỆN NAY 2.1.1. Sự tác động của tình hình thế giới và khu vực đến việc phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự Trong những năm qua, thế giới đã có những biến đổi sâu sắc theo cả chiều hướng tích cực và tiêu cực. Về mặt tích cực: hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn của thời đại; cách mạng khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức đã làm cho kinh tế thế giới phát triển mạnh mẽ; toàn cầu hóa là một xu thế khách quan. Về mặt tiêu cực: cạnh tranh thương mại, cạnh tranh giành giật tài nguyên, năng lượng, nguồn vốn, công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao giữa các nước ngày càng gay gắt; chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, can thiệp lật đổ, khủng bố, ly khai, tranh chấp biên giới, biển đảo diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới và khu vực; các yếu tố đe dọa an ninh phi truyền thống, tội phạm công nghệ cao, và nhiều vấn đề toàn cầu như an ninh năng lượng, biến đổi khí hậu, đói ngèo, dịch bệnh… sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp. Những đặc điểm trên của tình hình thế giới và khu vực đã có tác động mạnh mẽ đến lĩnh vực quốc phòng, an ninh trong đó có việc xây dựng và phát triển nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự. Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả đi sâu phân tích những yếu tố tác động trực tiếp ở cả mặt tích cực và tiêu cực tình hình thế gới, khu vực đến việc xây dựng và phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự như sau: Thứ nhất, tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại. Thứ hai, tác động của toàn cầu hóa và kinh tế tri thức. Thứ ba, tác động của chiến tranh có sử dụng vũ khí công nghệ cao. 2.1.2. Sự tác động của tình hình trong nước đến việc phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự Trong những năm đầu thế kỷ XXI, sự nghiệp đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, theo hướng từng bước phát triển kinh tế tri thức, đất nước ta đã thu được nhiều kết quả quan trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước 13 luôn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Bốn nguy cơ mà Đảng ta từng chỉ rõ vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp, đan xen, tác động lẫn nhau. Những thuận lợi và khó khăn trên đã tác động không nhỏ đến tâm tư, tình cảm của cán bộ và nhân dân ta trong đó có đội ngũ cán bộ quân đội. Có thể khái quát những yếu tố trong nước tác động đến nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự như sau: Thứ nhất, tác động của tình hình chính trị - xã hội đến nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự. Thứ hai, tác động của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến sự phát triển nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự vŕ, thứ ba, tác động của yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc, yêu cầu xây dựng ngành khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự trong giai đoạn mới đối với sự phát triển nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự. Như vậy, ở những góc độ và cấp độ khác nhau, tất cả những yếu tố nêu trên đang tác động đến sự vận động và phát triển của nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực, làm biến đổi sự phát triển của nguồn lực này.Vì vậy, các chủ thể và chính nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự phải tranh thủ những cơ hội, những điều kiện thuận lợi, khắc phục khó khăn, vượt qua thử thách để xây dựng nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự đủ về số lượng, nâng cao chất lượng mọi mặt, hợp lý về cơ cấu, sử dụng hiệu quả nguồn lực, đáp ứng tốt nhất nhiệm vụ xây dựng quân đội, phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự Việt Nam, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. 2.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CÁN BỘ KHOA HỌC TRONG CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ QUÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Để đánh giá thực trạng việc phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự, cần phân tích làm rõ vấn đề xây dựng và phát tiển nguồn lực này trong thời gian vừa qua. 2.2.1. Thực trạng nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự hiện nay Thứ nhất, về số lượng cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự. Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước, Quân đội đã tích cực xây dựng, phát triển nguồn lực cán bộ quân đội, trong đó có nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự. Nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự đã có sự phát triển nhanh về số lượng. Tuy nhiên, cho đến nay, nguồn lực này vẫn còn thiếu, đặc biệt là những ngành mũi nhọn, ngành đặc thù quân sự. Hiện tại, theo số liệu thống kê của cục 14 Cán bộ, Tổng cục Chính trị, cán bộ kỹ thuật quân sự chiếm 14,63% trong tổng số cán bộ quân đội. Trong đó, cán bộ nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự chiếm khoảng 10% tổng số cán bộ kỹ thuật quân sự, như vậy số lượng cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự chiếm khoảng 1,4% so với cán bộ toàn quân. Theo biểu tổ chức biên chế mới, nhu cầu về số lượng cán bộ kỹ thuật quân sự chiếm khoảng 16,5% trong tổng số cán bộ quân đội. Trong đó, cán bộ chỉ huy, quản lý kỹ thuật quân sự chiếm khoảng 30%; cán bộ khai thác sản xuất sản phẩm khoa học kỹ thuật quân sự chiếm khoảng 39,5%; cán bộ nghiên cứu khoa học chiếm khoảng 12,5%; cán bộ giảng dạy khoa học kỹ thuật chiếm khoảng 18% trong tổng số cán bộ kỹ thuật quân sự 5. Qua khảo sát tại các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự cho thấy, Viện Khoa học và Công nghệ quân sự hiện thiếu khoảng 13%; viện kỹ thuật Hải quân thiếu khoảng 7%; Viện kỹ thuật Phòng không -Không quân thiếu khoảng 10%; Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga thiếu khoảng 8%,6. Nhu cầu về số lượng cán bộ khoa học tăng trong khi số lượng đào tạo cơ bản hàng năm chưa đáp ứng được nhu cầu, hơn nữa, hàng năm có một số lượng cán bộ khoa học xin chuyển ngành hoặc thôi việc không công tác trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự. Điều đó gây khó khăn cho công tác quy hoạch, tạo nguồn, bố trí, sử dụng cán bộ khoa học. Hiện nay cách mạng khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão, các loại vũ khí trang bị kỹ thuật quân sự ngày càng hiện đại, kẻ địch sẽ sử dụng vũ khí công nghệ cao, trong khi số vũ khí, trang bị cũ của chúng ta đang ở giai đoạn xuống cấp cần phải có sự bảo dưỡng, sửa chữa, nâng cấp, thì việc thiếu hụt cán bộ khoa học gây ra sự mất cân đội giữa yêu cầu nhiệm vụ và việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học kỹ thuật quân sự; đồng thời, gây nên sự quá tải về công việc, làm cho cán bộ khoa học không có đủ điều kiện, thời gian cần thiết tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn hoặc tự nghiên cứu, học tập, nâng cao trình độ mọi mặt của mình. Điều đó đòi hỏi Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng và các cơ quan, đơn vị liên quan cần có giải pháp kịp thời bổ sung nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại. Qua số liệu thống kê cho thấy, số lượng cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự hiện còn thiếu tương đối nhiều, chưa tính đến nguồn dự trữ để đón đầu sự phát triển của khoa học và công nghệ trong tương lai. 5. Phụ lục số 2. Nguồn thống kê của Cục Cán bộ, Tổng cục Chính trị. 6. Phụ lục số 1. Kêt quả khảo sát điều tra của tác giả tại các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự.. 15 Thứ hai, về chất lượng cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự. Trong những năm gần đây, trình độ tri thức, năng lực chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng nghiên cứu khoa học của nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự đã có bước phát triển đáng kể. Cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự được đào tạo cơ bản, toàn diện. Họ được trang bị những kiến thức cần thiết về khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật quân sự, ngoại ngữ, tin học, chuyên môn nghiệp vụ, có kỹ năng nghiên cứu khoa học và phương pháp lãnh đạo, quản lý, chỉ huy đơn vị trong hoạt động khoa học kỹ thuật quân sự. Đồng thời họ được làm quen với nhiều công nghệ và các trang thiết bị, phòng thí nghiệm tương đối đồng bộ, hiện đại, được tiếp xúc với nhiều loại vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự mới, do đó có điều kiện giải quyết những vấn đề khó, những vấn đề mới nảy sinh. Đa số cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự có năng lực nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, thông qua hoạt động chuyên môn nghiệp vụ và hoạt động khoa học (nghiên cứu khoa học, hội thảo khoa học, viết bài trên các tạp chí, thông tin chuyên đề, hướng dẫn khoa học...), chuyển giao công nghệ, dịch vụ khoa học kỹ thuật, trình độ tri thức, năng lực toàn diện của nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự đã có sự phát triển đáng kể. Hàng năm, số cán bộ được đào tạo sau đại học đều tăng, năm sau cao hơn năm trước từ 5 - 7%. Về trình độ đào tạo của nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự hiện nay, qua khảo sát điều tra tại các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự có 12,7% là tiến sĩ: 31,6% là thạc sĩ và 55,7 có trình độ đại học 7. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt mạnh là cơ bản, hiện nay cán bộ khoa học còn bộc lộ một số hạn chế về nhận thức, năng lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Mặc dù cán bộ khoa học được đào tạo cơ bản, có trình độ học vấn cao, nhưng bản thân họ tự đánh giá còn nhiều hạn chế về kiến thức chuyên môn kỹ thuật và kinh nghiệm thực tiễn trong thực hiện nhiệm vụ theo cương vị của mình. Chỉ có 29,2% cán bộ khoa học cho rằng trình độ chuyên môn của họ đáp ứng tốt với yêu cầu thực tiễn công tác và cũng có tới 57,4% cán bộ khoa học cho là trình độ chuyên môn của họ đáp ứng ở mức trung bình yêu cầu nhiệm vụ. Trình độ về tin học và ngoại ngữ còn hạn chế nhiều so với cán bộ khoa học ngoài quân đội. Thứ ba, về cơ cấu nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự. Trong những năm qua, Bộ Quốc phòng, Tổng cục chính trị, các cơ quan, viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự đã có sự điều chỉnh, phân bố lực lượng cán bộ khoa học cho các ngành, các lĩnh vực, nghiên cứu khoa học cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ và dịch vụ khoa học kỹ thuật 7. Phụ lục số 1. Kêt quả khảo sát điều tra của tác giả tại các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự. 16 nhằm tạo điều kiện thuận lợi về nhân lực để các đơn vị khoa học hoạt động có hiệu quả. Tuy nhiên, cơ cấu ngành, nghề kỹ thuật quân sự còn thiếu cân đối, chưa đồng bộ về ngành, nghề và lĩnh vực công tác khoa học kỹ thuật như giữa khoa học cơ bản và khoa học kỹ thuật ứng dụng; giữa cán bộ làm công tác quản lý, chỉ đạo khoa học kỹ thuật với cán bộ làm công tác nghiên cứu, khai thác, triển khai công nghệ. Nghiên cứu cơ cấu nguồn lực cán bộ khoa học còn thấy nổi lên vấn đề về sự ùn tắc và không tương xứng giữa cấp bậc quân hàm và năng lực công tác, tình trạng này đã làm hạn chế tinh thần phấn đấu, vươn lên của cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự. Như vậy, sự phát triển của cán bộ khoa học hiện nay còn chưa cân đối, chưa đồng bộ về ngành, nghề và trình độ, còn chưa đủ về số lượng; do đó, chưa thể làm tốt công tác chuyên môn hiện tại và tạo nguồn dự trữ cho sự phát triển khoa học kỹ thuật quân sự trong tương lai. Tuy nhiên, nghiên cứu tiềm lực khoa học và công nghệ, khả năng phát triển của nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự, chúng ta có thể tin tưởng rằng, chính họ là lực lượng tiếp tục làm tốt việc viêc nghiên cứu gắn kết khoa học với thực tiễn, kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng góp phần tích cực vào việc xây dựng các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự nói riêng và xây dựng nghành khoa học kỹ thuật quân sự nói chung ngày càng vững mạnh. 2.2.2. Thực trạng việc xây dựng và phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự hiện nay Phát triển nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự là làm cho nguồn lực này biến đổi theo chiều hướng tích cực, đi lên, ngày càng hoàn thiện hơn về số lượng, chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn lực ấy, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Tuy nhiên để phát triển nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự có hiệu quả phải dựa vào hai yếu tố căn bản đó là vai trò, trách nhiệm của các chủ thể quản lý và việc phát huy vai trò của chính nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự. Thứ nhất, về vai trò, trách nhiệm của các chủ thể quản lý trong phát triển nguồn lực cán bộ khoa học ở các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự Trong những năm qua, lãnh đạo, chỉ huy các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự đã nhận thức đúng đắn về vai trò của nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự, đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý chặt chẽ, tạo điều kiện thuận lợi về vật chất và tinh thần cho nguồn lực này 17 phát triển toàn diện. Lãnh đạo, chỉ huy, các tổ chức, các lực lượng ở cơ sở đã có nhiều việc làm thiết thực, hiệu quả như tổ chức các phong trào thi đua sâu rộng; chăm lo xây dựng lực lượng nòng cốt, nhân rộng điển hình tiên tiến trong nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự, nhằm khai thác những tiềm năng, thế mạnh của cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự. Thường xuyên quan tâm giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng với sử dụng, đãi ngộ cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự. Tích cực đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự phù hợp với sự phát triển của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại và xu thế của thời đại nhằm nâng cao chất lượng nguồn cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự, từng bước hình thành thế hệ cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự mới có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ. Nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể quản lý những năm qua đã có bước chuyển biến tích cực góp phần quan trọng phát triển nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự. Tuy nhiên vai tṛò, trách nhiệm của các chủ thể quản lư trong phát triển nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự vẫn c òn c rất nhiều mặt hạn chế bất cập cần khắc phục trong thời gian tới như: còn có biểu hiện chưa đánh giá đúng, hoặc xem nhẹ vai trò của nguồn lực cán bộ khoa học của cấp quẩn lý ở các cơ quan thuộc Bộ quốc phòng và một số đơn vị trực thuôc bộ. Qua khảo sát của tác giả tại các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự cho thấy, có tới 47,8% số người được hỏi cho rằng, vai trò của cán bộ khoa học không được nhìn nhận và đánh giá đúng. Đây là thực trạng đáng lo ngại vì không đánh giá đúng thì khó có cơ chế quản lý phù hợp và chính sách sử dụng, đãi ngộ thỏa đáng. Có đơn vị, cơ quan tuy coi trọng vai trò và cống hiến của cán bộ khoa học, nhưng lại thiếu cơ chế, chính sách tương xứng với tầm quan trọng và cống hiến to lớn của cán bộ khoa học, hoặc ngại tiếp thu những kiến nghị, đề xuất của họ. Đó là biểu hiện của nhận thức không đúng, dẫn đến thiếu tôn trọng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự. Thứ hai, về vai trò, trách nhiệm của nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự. Trong những năm qua đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự đã tự ý thức sâu sắc hơn về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của mình, chủ động tích cực, tự giác, kiên trì, say mê, năng động, sáng tạo trong học tập, rèn luyện và nghiên cứu khoa học. Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, phong cách, trình độ tri thức, vốn sống, kỹ năng nghiên cứu khoa học và năng lực hoạt đông thực tiễn quân sự của họ được củng cố, nâng cao. Vì vậy, nguồn lực cán bộ khoa học công nghệ trong quân đội mới có được sức mạnh để phát huy vai trò của mình trong sự nghiệp xây dựng quân đội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy 18 nhiên, hiện nay vẫn còn một số cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự chưa nỗ lực cố gắng, còn thiếu tự trọng về khoa học, còn có biểu hiện của tư tưởng trung bình chủ nghĩa, thiếu tinh thần rèn luyện phấn đấu vươn lên. Qua khảo sát của tác giả có tới 38,7% cán bộ được hỏi cho rằng việc tự học tập, rèn luyện của cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự còn hạn chế. Như vậy, việc học tập, rèn luyện chưa thật sự trở thành nhu cầu tự thân của một số cán bộ khoa học. Điều đó gây cản trở tới việc phát triển nguồn lực này trong thời gian vừa qua. 2.2.3. Nguyên nhân thành công và hạn chế của việc xây dựng và phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự hiện nay Thứ nhất, về nguyên nhân thành công: Một là, điều kiện thuận lợi về kinh tế, xã hội và khoa học, công nghệ trong những năm qua đã tạo ra những tiền đề vật chất cho sự phát triển nguồn lực con người nói chung và nguồn nhân lực khoa học và công nghệ nói riêng. Hai là, Đảng, Nhà nước ta có đường lối, quan điểm, chính sách xây dựng và phát triển nguồn lực con người đúng đắn và hiệu quả. Ba là, Quân ủy Trung ương - Bộ quốc phòng và các cơ quan thuộc bộ đã lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng và phát triển nguồn lực cán bộ khoa học. Bốn là, lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị nghiên cứu khoa học, công nghệ đã nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí của nguồn lực cán bộ khoa học trong giai đoạn hiện nay. Năm là, đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự đã tích cực, phấn đấu vươn lên, có tinh thần cầu thị, tiến bộ, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Thứ hai, về nguyên nhân hạn chế của việc xây dựng và phát triển nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự: Một là, còn có biểu hiện nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ về vai trò, sự cần thiết phải xây dựng và phát triển nguồn lực cán bộ khoa học trong các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự. Hai là, sự tác động không thuận lợi của tình hình quốc tế và trong nước, của mặt trái cơ chế thị trường, những hiện tượng tiêu cực trong xã hội và quân đội đến việc phát triển nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự. Ba là, Nhà nước và Quân đội còn thiếu những cơ chế, chính sách hữu hiệu để phát huy nội lực nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự. Bốn là, việc tu dưỡng, học tập và rèn luyện của đội ngũ cán bộ khoa học còn nhiều hạn chế. Kết luận chương 2 Trong tình hình hiện nay có nhiều yếu tố tác động đến việc xây dựng và phát triển nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự, đó là: sự tác động của quá trình toàn cầu hóa và kinh tế tri thức; sự tác động của chiến tranh có sử dụng vũ khí công nghệ cao; sự tác động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; sự tác động của yêu cầu xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Những yếu tố trên tác động cả bên trong và bên
- Xem thêm -