Phát triển du lịch mùa nước nổi ở tỉnh an giang

  • Số trang: 142 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 16 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27633 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ MỸ DUYÊN PHÁT TRIỂN DU LỊCH MÙA NƢỚC NỔI Ở TỈNH AN GIANG LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Du lịch học Hà Nội – 2014 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ MỸ DUYÊN PHÁT TRIỂN DU LỊCH MÙA NƢỚC NỔI Ở TỈNH AN GIANG LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Du lịch học (Chƣơng trình đào tạo thí điểm) Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Trần Thúy Anh Hà Nội – 2014 LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành chƣơng trình cao học và hoàn thành luận văn này, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS. Trần Thúy Anh đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hƣớng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô khoa Du lịch và quý thầy cô thỉnh giảng tại khoa Du lịch, Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong thời gian học tập. Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn quí anh, chị và ban lãnh đạo Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch tỉnh An Giang, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh An Giang, Trung tâm du lịch nông dân tỉnh An Giang, công ty du lịch Sài Gòn tourist, Vietravel, Việt Xanh, Lữ hành An Giang,… đã tạo điều kiện cung cấp số liệu cho tôi để hoàn thành luận văn. Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trƣờng Đại học Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh cùng quí thầy cô trong khoa Sau đại học đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành tốt khóa học. Hà Nội, tháng 10 năm 2014 Tác giả luận văn Nguyễn Thị Mỹ Duyên LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng đề tài “Phát triển du lịch mùa nước nổi ở tỉnh An Giang” là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi. Tất cả các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực. Mọi tài liệu tham khảo, trích dẫn khoa học đều có nội dung chính xác. Các kết luận khoa học chƣa công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác. Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này. Hà Nội, tháng 10 năm 2014 Tác giả luận văn Nguyễn Thị Mỹ Duyên MỤC LỤC DANH MỤC BIỂU BẢNG ........................................................................................8 PHẦN MỞ ĐẦU .........................................................................................................9 1. Lý do chọn đề tài ..............................................................................................9 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................10 2.1. Mục đích nghiên cứu ..............................................................................10 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu..............................................................................10 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu..................................................................11 3.1. Đối tƣợng nghiên cứu .............................................................................11 3.2. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................11 4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .............................................................................11 5. Phƣơng pháp nghiên cứu................................................................................12 5.1. Phƣơng pháp luận ...................................................................................12 5.1.1. Quan điểm hệ thống ........................................................................12 5.1.2. Quan điểm phát triển bền vững .......................................................13 5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................................13 5.2.1. Phương pháp thu thập và xử lý thông tin ........................................13 5.2.2. Phương pháp điền dã ......................................................................14 5.2.3. Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh .....................................14 5.2.4. Phương pháp chuyên gia .................................................................15 5.2.5. Phương pháp tham vấn người địa phương và du khách .................15 5.2.6. Phương pháp SWOT ........................................................................15 6. Cấu trúc của đề tài ..........................................................................................15 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DU LỊCH MÙA NƢỚC NỔI ............................................................................................................................16 1.1. Khái quát về mùa nƣớc nổi ........................................................................16 1.1.1. Quan niệm về mùa nước nổi ...............................................................16 1.1.2. Mùa nước nổi ở ĐBSCL ......................................................................18 1.1.3. Mùa nước nổi ở An Giang ..................................................................21 1.1.3.1. Điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội tỉnh An Giang ...................21 1.1.3.2. Đặc trưng của mùa nước nổi An Giang ......................................23 1.1.3.3. Đời sống sinh hoạt của người dân An Giang trong mùa nước nổi 25 1.2. Du lịch mùa nƣớc nổi .................................................................................28 1.2.1. Quan niệm du lịch mùa nước nổi ........................................................28 1.2.2. Đặc điểm của du lịch mùa nước nổi ...................................................28 1.2.3. Sản phẩm du lịch mùa nước nổi..........................................................30 1.2.4. Mối quan hệ giữa du lịch mùa nước nổi với các hoạt động du lịch khác 33 Tiểu kết chƣơng 1 ..................................................................................................34 CHƢƠNG 2: TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH MÙA NƢỚC NỔI Ở TỈNH AN GIANG ............................................................................35 5 2.1. Tiềm năng phát triển du lịch mùa nƣớc nổi ...............................................35 2.1.1. Các yếu tố tự nhiên .............................................................................35 2.1.1.1. Địa hình .......................................................................................35 2.1.1.2. Khí hậu ........................................................................................36 2.1.1.3. Thuỷ văn ......................................................................................37 2.1.1.4. Động, thực vật .............................................................................38 2.1.2. Các yếu tố văn hoá ..............................................................................41 2.1.2.1. Lễ hội ...........................................................................................41 2.1.2.2. Làng nghề ....................................................................................45 2.1.2.3. Tập quán sinh hoạt của cộng đồng địa phương ..........................48 2.1.2.4. Ẩm thực mùa nước nổi .................................................................49 2.1.3. Các yếu tố về kinh tế – xã hội ............................................................52 2.1.3.1. Điều kiện cơ sở hạ tầng ...............................................................52 2.1.3.2. Điều kiện cơ sở vật chất – kỹ thuật..............................................53 2.1.3.3. Điều kiện lao động .......................................................................53 2.1.3.4. Điều kiện hỗ trợ của chính quyền địa phương ............................55 2.2. Hiện trạng hoạt động du lịch mùa nƣớc nổi ở tỉnh An Giang ....................56 2.2.1. Hiện trạng phát triển du lịch tỉnh An Giang .......................................56 2.2.2. Hiện trạng hoạt động du lịch mùa nước nổi ở An Giang ...................60 2.2.2.1. Các địa bàn phát triển du lịch mùa nước nổi ..............................60 2.2.2.2. Các chủ thể tham gia hoạt động du lịch mùa nước nổi...............66 2.2.2.3. Tác động của hoạt động du lịch mùa nước nổi ...........................84 2.3. Đánh giá tiềm năng và hiện trạng hoạt động du lịch mùa nƣớc nổi ở An Giang ....................................................................................................................87 2.4. Sự khác biệt của du lịch mùa nƣớc nổi An Giang so với các địa phƣơng khác trong vùng ĐBSCL .......................................................................................89 Tiểu kết chƣơng 2 ..................................................................................................92 CHƢƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH MÙA NƢỚC NỔI Ở AN GIANG ...............................................................................................................92 3.1. Định hƣớng phát triển du lịch mùa nƣớc nổi tỉnh An Giang .....................93 3.1.1. Căn cứ xây dựng định hướng ..............................................................93 3.1.2. Định hướng phát triển du lịch mùa nước nổi tỉnh An Giang ..............94 3.1.2.1. Định hướng xây dựng chiến lược quy hoạch, đầu tư khai thác tài nguyên du lịch mùa nước nổi hiệu quả hướng đến phát triển du lịch bền vững .....................................................................................................94 3.1.2.2. Định hướng nâng cao nhận thức của cộng đồng địa phương .....95 3.2. Các giải pháp nhằm khai thác hiệu quả du lịch mùa nƣớc nổi tỉnh An Giang ....................................................................................................................95 3.2.1. Xây dựng thương hiệu, xúc tiến, quảng bá, mở rộng thị trường ........95 3.2.2. Đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch mùa nước nổi . .............................................................................................................99 3.2.3. Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phát triển du lịch ...........................................................................................................103 6 3.2.4. Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương ..............................105 3.2.5. Bảo vệ môi trường, phát triển du lịch bền vững ...............................108 3.2.6. Cải cách cơ chế quản lý, chính sách ưu đãi đối với du lịch mùa nước nổi ...........................................................................................................111 3.3. Kiến nghị ..................................................................................................114 Tiểu kết chƣơng 3 ................................................................................................116 KẾT LUẬN .............................................................................................................117 TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................119 PHỤ LỤC ................................................................................................................122 7 DANH MỤC BIỂU BẢNG Bảng 2.1: Lao động trong ngành du lịch Bảng 2.2: Hiện trạng khách du lịch đến An Giang Bảng 2.3: Hiện trạng ngày khách và ngày lƣu trú trung bình Bảng 2.4: Hiện trạng doanh thu du lịch của các đơn vị qua các giai đoạn Bảng 2.5: Hình thức tham gia du lịch của du khách Bảng 2.6: Sự hiểu biết về du lịch mùa nƣớc nổi qua các kênh thông tin Bảng 2.7: Đánh giá của du khách về du lịch mùa nƣớc nổi An Giang Bảng 2.8: Mức độ hài lòng của du khách về loại hình du lịch mùa nƣớc nổi Bảng 2.9: Mức độ hài lòng của du khách về dịch vụ ăn uống Bảng 2.10: Mức độ hài lòng của du khách về nhân viên phục vụ Bảng 2.11: Mức độ hài lòng của du khách về dịch vụ vui chơi, giải trí Bảng 2.12: Đánh giá của du khách về mức độ an toàn Bảng 2.13: Ý định tiếp tục tham gia du lịch mùa nƣớc nổi của du khách Bảng 2.14: Sự hiểu biết về du lịch mùa nƣớc nổi qua các kênh thông tin Bảng 2.15: Hình thức tham gia du lịch của du khách Bảng 2.16: Ý kiến của du khách về dịch vụ lƣu trú Bảng 2.17: Cảm nhận của ngƣời dân địa phƣơng về mùa nƣớc nổi Bảng 2.18: Mức độ tham gia của ngƣời dân đối với hoạt động du lịch mùa nƣớc nổi tại địa phƣơng Bảng 2.19: Nhận xét của ngƣời dân về vai trò của hoạt động du lịch mùa nƣớc nổi Bảng 2.20: Những khó khăn của ngƣời dân tham gia hoạt động du lịch Bảng 2.21: Nguyện vọng của ngƣời dân tham gia hoạt động du lịch 8 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hằng năm, cứ vào tháng năm âm lịch trở đi, vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) lại đón những đợt gió mùa kèm theo mƣa lớn kéo dài làm cho mực nƣớc sông Mêkong bắt đầu dâng lên. Nhiều khu vực trong vùng bị ngập nƣớc trên diện rộng, ngƣời dân quen gọi là “mùa nƣớc nổi”. Có thể khẳng định mùa nƣớc nổi là một đặc ân của thiên nhiên, là một nét văn hoá rất riêng của sông nƣớc miền Tây Nam Bộ mà không phải vùng miền nào cũng có đƣợc. Mùa nƣớc nổi không chỉ có nƣớc tràn đồng mà còn mang lại nhiều nguồn lợi cho ngƣời dân và đang trở thành một tài nguyên du lịch đặc sắc. Với sự phong phú, đa dạng của mình, mùa nƣớc nổi đang trở thành một điểm đến hấp dẫn và thú vị. Thật vậy, mùa nƣớc nổi đang đƣợc xem là một sản phẩm du lịch độc đáo với những tour tuyến du lịch vô cùng phong phú và hấp dẫn du khách. Du lịch mùa nƣớc nổi ở ĐBSCL đã trở thành một loại hình có sức hút cao, đặc biệt khi nhu cầu du lịch sinh thái và du lịch trải nghiệm đang trở thành xu hƣớng của ngành du lịch trên toàn thế giới. Du khách đến ĐBSCL vào mùa nƣớc nổi để đƣợc đi xuồng hái bông điên điển, bông súng, rau nhút, rau muống, sen, bẻ ấu, hái cà na… tắm đồng; đua ghe; chài lƣới bắt cá... Đây là cơ hội để du khách khám phá thiên nhiên hoang sơ, thuần khiết đến khó tả, để trải nghiệm cuộc sống bình dị của ngƣời dân, tham dự các lễ hội sôi động, thƣởng thức văn hoá ẩm thực mùa nƣớc nổi vô cùng độc đáo để cảm nhận đƣợc sự hào phóng, trù phú của vùng đất này. Loại hình du lịch mới mẻ này tỏ ra có rất nhiều triển vọng nhƣng việc khai thác tiềm năng du lịch mùa nƣớc nổi cũng đang đứng trƣớc rất nhiều khó khăn và thử thách. An Giang là một trong những vùng du lịch trọng điểm của ĐBSCL và có một vị trí chiến lƣợc quan trọng trong việc phát triển du lịch của vùng. Đây cũng đƣợc xem là cái nôi của du lịch mùa nƣớc nổi, là tỉnh khai thác du lịch mùa nƣớc nổi ở chiều sâu nhất của ĐBSCL và cũng là nơi mà loại hình du lịch này đang gặp nhiều bất cập. 9 Trong những năm gần đây, lợi thế về kinh tế – xã hội của mùa nƣớc nổi ở An Giang đã đƣợc quan tâm và khai thác. Mùa nƣớc nổi cũng đƣợc xem là mùa vàng, là thế mạnh lớn của ngành du lịch tỉnh An Giang. Việc nghiên cứu phát triển loại hình du lịch mùa nƣớc nổi ở An Giang sẽ góp phần vào định hƣớng phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, cần thiết cho việc bảo vệ hệ sinh thái và môi trƣờng, cải thiện chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân. Tuy nhiên, sự phát triển của du lịch mùa nƣớc nổi ở nơi đây vẫn còn nhiều khó khăn và phát triển chƣa tƣơng xứng với tiềm năng. Mặc dù khai thác, phát triển du lịch mùa nƣớc nổi đƣợc xem là khá thuận lợi nhƣng vẫn chƣa thật sự thu hút du khách, mức độ khai thác và phát triển chƣa cao. Do đó, việc đánh giá đúng tiềm năng, thực trạng phát triển du lịch mùa nƣớc nổi ở An Giang, đề ra những giải pháp nhằm góp phần khai thác có hiệu quả và phát triển du lịch bền vững trong thời gian tới là một việc làm hết sức cần thiết. Xuất phát từ những mong muốn trên, tác giả chọn vấn đề“Phát triển du lịch mùa nước nổi ở tỉnh An Giang” làm đề tài nghiên cứu của luận văn tốt nghiệp. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu tiềm năng, thực trạng phát triển du lịch mùa nƣớc nổi nhằm phát huy điểm mạnh, hạn chế những khó khăn; đề xuất một số giải pháp góp phần phát triển du lịch mùa nƣớc nổi ở An Giang. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tổng quan cơ sở lý luận về mùa nƣớc nổi, du lịch mùa nƣớc nổi. - Phân tích tiềm năng du lịch mùa nƣớc nổi ở tỉnh An Giang, từ đó góp phần đánh giá tiềm năng của loại hình du lịch này. - Khảo sát, phân tích, đánh giá hiện trạng phát triển của du lịch mùa nƣớc nổi ở An Giang. Qua đó, làm rõ những mặt thuận lợi và khó khăn của du lịch mùa nƣớc nổi. - Đề xuất định hƣớng và giải pháp phát triển của du lịch mùa nƣớc nổi ở An Giang trong thời gian sắp tới. 10 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tƣợng nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu loại hình du lịch mùa nƣớc nổi ở An Giang. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Luận văn tập trung, thu thập, nghiên cứu, phân tích số liệu liên quan đến mùa nƣớc nổi ở tỉnh An Giang từ năm 2009 đến nay ở những địa bàn khai thác mạnh loại hình du lịch mùa nƣớc nổi nhƣ huyện Châu Phú, huyện Tịnh Biên, huyện An Phú và huyện Châu Thành. 4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Mùa nƣớc nổi đã trở thành hình ảnh quen thuộc của ngƣời dân vùng ĐBSCL nói chung và An Giang nói riêng. Những đề tài về mùa nƣớc nổi ở ĐBSCL chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực điều kiện tự nhiên, tài nguyên và đa dạng sinh học, cơ cấu kinh tế vùng ngập lũ, nƣớc sạch và vệ sinh môi trƣờng; giáo dục và dạy nghề: “Kinh tế – xã hội và môi trường vùng ngập lũ ĐBSCL”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2002; “Vùng ngập lũ ĐBSCL hiện trạng và giải pháp”, NXB Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2001 của PGS.TS Đào Công Tiến;“Báo cáo tác động của đê bao đến kinh tế – xã hội – môi trường”, năm 2004 của Dƣơng Văn Nhã. Nhằm phát huy lợi thế mùa nƣớc nổi ở An Giang trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, tăng thu nhập cho cộng đồng địa phƣơng trong mùa nƣớc nổi có các công trình của khoa Nông nghiệp và Tài nguyên nhiên nhiên, trƣờng Đại học An Giang. Trong đó, nổi bật là các đề tài đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình sản xuất, đề xuất những phƣơng án sản xuất và mô hình canh tác có hiệu quả, đem lại lợi nhuận cao cho nông dân nhƣ“Các mô hình trồng trọt và chăn nuôi trong mùa lũ măm 2004, tại Huyện Chợ Mới, An Giang” của tác giả Đỗ Thị Thanh Thảo; đề tài nghiên cứu khoa học cấp trƣờng “Điều tra mô hình nuôi tôm đăng quầng trong mùa lũ tại Bình Thạnh Đông, Phú Tân và Bình Thạnh, Châu Thành – An Giang” của Ngô Thị Thanh Xuân;“Tổng kết và theo dõi mô hình trồng nấm rơm trong mùa lũ năm 2004 tại xã Lương An Trà và xã Cô Tô, huyện Tri Tôn, 11 tỉnh An Giang” của Vũ Thị Huệ Phƣơng… “Chương trình khai thác lợi thế mùa nước nổi tỉnh An Giang giai đoạn 2006 – 2010” của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh An Giang; “Đề án 31 – Phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống và tinh thần cho nhân dân trong mùa nước nổi” của Ban cán sự Đảng tỉnh An Giang, năm 2002 và một số chƣơng trình khác của tỉnh cũng quan tâm khai thác lợi thế về kinh tế và văn hoá của mùa nƣớc nổi vào đời sống của ngƣời dân. Vấn đề phát triển du lịch ở An Giang đang đƣợc chú ý nghiên cứu theo hƣớng phân tích tiềm năng, đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp phát triển nhằm phát triển du lịch bền vững với những đề tài: luận văn thạc sĩ “Phát triển du lịch tỉnh An Giang trong xu thế hội nhập” của Huỳnh Thị Nhƣ Lam; luận văn thạc sĩ “Phát triển du lịch An Giang đến năm 2020” của Mai Thị Ánh Tuyết, “Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh An Giang” của Nguyễn Thị Mỹ Linh… Vấn đề “Phát triển du lịch mùa nước nổi ở tỉnh An Giang” thì có ít đề tài tiếp cận, mà nếu có thì tiếp cận chƣa toàn diện, chƣa sâu. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu 5.1. Phƣơng pháp luận 5.1.1. Quan điểm hệ thống Lãnh thổ phát triển du lịch mùa nƣớc nổi đƣợc xem là một hệ thống cấu thành từ nhiều phân hệ: phân hệ sinh thái, phân hệ xã hội – nhân văn, phân hệ kinh tế – xã hội… Các phân hệ này có quan hệ mật thiết, gắn bó với nhau một cách hoàn chỉnh và chịu tác động của nhiều quy luật cơ bản. Do đó, bất kỳ sự thay đổi của một thành phần sẽ kéo theo sự thay đổi của các thành phần khác trong toàn bộ hệ thống. Đối với sự phát triển du lịch cũng vậy, chỉ cần thay đổi về môi trƣờng sinh thái, yếu tố văn hoá của cộng đồng dân cƣ… thì sẽ ảnh hƣởng lớn đến độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch. Do đó, trong nghiên cứu cần phải thấy đƣợc mối quan hệ này để đƣa ra các giải pháp đúng đắn trong việc khai thác du lịch mùa nƣớc nổi. Việc nghiên cứu, xác định, đánh giá các nhân tố phát triển du lịch mùa nƣớc nổi phải đƣợc nhìn nhận trong mối quan hệ không gian hay lãnh thổ nhất định để đạt đƣợc 12 những giá trị đồng bộ về mặt kinh tế, xã hội và môi trƣờng. Điểm, tuyến du lịch đƣợc xem nhƣ là một hệ thống mở có mối quan hệ với các tuyến, điểm du lịch tại các lãnh thổ khác và các loại hình du lịch khác. Quan niệm này đƣợc vận dụng vào đề tài thông qua việc phân tích tiềm năng, đánh giá hiện trạng phát triển du lịch mùa nƣớc nổi ở An Giang. 5.1.2. Quan điểm phát triển bền vững Phát triển bền vững đã trở thành một nội dung tất yếu, một tiêu chuẩn quan trọng trong chiến lƣợc phát triển của hầu hết mọi lĩnh vực trong đời sống, là xu thế phát triển của thời đại. Trong lĩnh vực du lịch, phát triển bền vững là bảo vệ tài nguyên, môi trƣờng, tăng cƣờng bảo tồn và đóng góp lợi ích cho cộng đồng; đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững. Du lịch mùa nƣớc nổi An Giang với bản chất và mục tiêu hoạt động là đảm bảo cho việc phát triển bền vững, mang lại lợi ích kinh tế, thông qua việc giúp đỡ cộng đồng địa phƣơng quản lý các tài nguyên, bảo vệ môi trƣờng thiên nhiên và văn hoá bản địa. Cho nên, các chiến lƣợc quy hoạch du lịch mùa nƣớc nổi muốn đạt đến sự phát triển bền vững phải bảo vệ môi trƣờng, bảo tồn giá trị văn hoá và khai thác du lịch theo hƣớng bền vững. 5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 5.2.1. Phương pháp thu thập và xử lý thông tin Phƣơng pháp thu thập tài liệu là phƣơng pháp truyền thống đƣợc sử dụng trong các nghiên cứu nói chung và nghiên cứu kinh tế – xã hội nói riêng. Các nguồn tài liệu cần thu thập tƣơng đối đa dạng bao gồm tài liệu đã đƣợc xuất bản, tài liệu của các cơ quan lƣu trữ, các tài liệu trên báo đài và tài liệu trên internet… Đây là phƣơng pháp áp dụng việc nghiên cứu lý luận gắn với thực tiễn, đồng thời thu thập thông tin, số liệu thực tiễn để bổ sung cho các vấn đề lý luận hoàn chỉnh hơn. Đồng thời, phải tiến hành điều tra, khảo sát, thu thập những thông tin thu thập từ thực tế để đảm bảo tính xác thực, cập nhật. Đây sẽ là cơ sở dữ liệu phong phú và quan trọng cho việc thực hiện các phƣơng pháp khác. Khi nghiên cứu phát triển du lịch mùa nƣớc nổi cần thu thập những tài liệu 13 có liên quan từ các nguồn tin cậy: các công ty du lịch khai thác loại hình du lịch mùa nƣớc nổi trên địa bàn tỉnh An Giang, Sở Văn hoá Thể Thao và Du lịch tỉnh An Giang, phòng Văn hoá Thông tin các huyện Châu Thành, huyện An Phú, huyện Tri Tôn, huyện Tịnh Biên, Cục thống kê tỉnh An Giang, các sở ban ngành có liên quan. Sắp xếp và xử lý tài liệu một cách có hệ thống, phân tích từng nội dung để đƣa ra những kết luận chính xác. 5.2.2. Phương pháp điền dã Đây là phƣơng pháp rất quan trọng vì nó phản ánh tính thực tiễn của đề tài. Quá trình này giúp tác giả thu thập thêm tài liệu có liên quan đến đề tài, kiểm chứng tính chính xác của thông tin, thu thập số liệu… Qua đó, phƣơng pháp này còn giúp tác giả có thể phát huy khả năng của mình trong nghiên cứu và có cái nhìn chi tiết về đối tƣợng nghiên cứu. Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã tiến hành điền dã để thu thập dữ liệu, khảo sát, chụp ảnh một số điểm du lịch mùa nƣớc nổi: Đồng Láng Linh, Rừng tràm Trà Sƣ, Búng Bình Thiên, Kinh Vĩnh Tế, Kinh xáng Vịnh Tre, Làng bè Châu Đốc, khu vực Vàm Nao, xã Vĩnh Phƣớc… Khảo sát thực địa nhằm đánh giá tiềm năng, hiện trạng phát triển của du lịch mùa nƣớc nổi. Phỏng vấn sâu, điều tra theo mẫu đối với các nhà quản lý, các chuyên gia, khách du lịch, cộng đồng địa phƣơng và các hộ nông dân tham gia vào hoạt động du lịch mùa nƣớc nổi. 5.2.3. Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh Sau khi thu thập đƣợc nguồn thông tin tƣ liệu từ các nguồn, ngƣời nghiên cứu cần phải tiến hành xử lý theo mục tiêu của việc nghiên cứu. Trong quá trình xử lý tài liệu, sử dụng các phƣơng pháp nhƣ phân tích, tổng hợp, so sánh… Việc sử dụng phƣơng pháp phân tích và tổng hợp có ý nghĩa quan trọng trong việc xử lý số liệu một cách hiệu quả. Số liệu thu thập đƣợc từ nhiều nguồn chắc chắn có sự chênh lệch, với phƣơng pháp này số liệu sẽ chính xác hơn. Phƣơng pháp so sánh sẽ phát hiện đƣợc những điểm giống nhau, khác nhau giữa các loại hình du lịch đang phát triển tại An Giang với du lịch mùa nƣớc nổi và các điểm riêng biệt của du lịch mùa nƣớc nổi ở An Giang. 14 5.2.4. Phương pháp chuyên gia Trong quá trình khảo sát nghiên cứu thực hiện đề tài, tác giả đã tiến hành tham khảo ý kiến của các chuyên gia du lịch, các nhà quản lý điều hành các công ty du lịch và các nhà lãnh đạo cấp địa phƣơng trên địa bàn tỉnh An Giang. 5.2.5. Phương pháp tham vấn người địa phương và du khách Đây là phƣơng pháp thu thập thông tin thông qua việc trao đổi với ngƣời dân địa phƣơng và du khách về tiềm năng, hiện trạng phát triển của loại hình du lịch mùa nƣớc nổi. Phƣơng pháp này giúp tác giả có thể hiểu vấn đề một cách cụ thể thông qua các cuộc phỏng vấn. Cần soạn câu hỏi trƣớc khi phỏng vấn. Các câu hỏi cần ngắn gọn xúc tích, không đánh đố ngƣời đƣợc phỏng vấn. 5.2.6. Phương pháp SWOT Là phƣơng pháp phân tích những thuận lợi, khó khăn của việc khai thác tiềm năng du lịch mùa nƣớc nổi và những cơ hội, thách thức khi phát triển loại hình này ở địa bàn tỉnh An Giang. Từ đó tìm ra giải pháp và định hƣớng phát triển cụ thể. 6. Cấu trúc của đề tài Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung chính của công trình này gồm 3 chƣơng và 7 tiết. Chƣơng 1. Một số vấn đề lý luận chung về du lịch mùa nƣớc nổi Trình bày những cơ sở lý luận về mùa nƣớc nổi ở ĐBSCL, những nét đặc trƣng của mùa nƣớc nổi ở An Giang, định nghĩa khái niệm du lịch mùa nƣớc nổi, những sản phẩm của loại hình du lịch mùa nƣớc nổi. Chƣơng 2. Tiềm năng và hiện trạng hoạt động du lịch mùa nƣớc nổi ở An Giang Trình bày những tiềm năng phát triển du lịch mùa nƣớc nổi và phân tích hiện trạng khai thác loại hình du lịch mùa nƣớc nổi ở tỉnh An Giang. Chƣơng 3. Những giải pháp phát triển du lịch mùa nƣớc nổi ở An Giang Trình bày những định hƣớng khai thác, những giải pháp cần thiết nhằm khắc phục những hạn chế và phát huy thế mạnh của mùa nƣớc nổi trong hoạt động du lịch. 15 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DU LỊCH MÙA NƢỚC NỔI Khái quát về mùa nƣớc nổi 1.1. 1.1.1. Quan niệm về mùa nước nổi Cho đến thời điểm hiện tại vẫn chƣa có một khái niệm chính thức nào về mùa nƣớc nổi đƣợc đƣa ra. Mặc dù cụm từ này rất gần gũi với ngƣời dân vùng ĐBSCL và đƣợc xuất hiện rất thƣờng xuyên trên các phƣơng tiện truyền thông, các công trình nghiên cứu, luận án... Thuật ngữ “mùa nƣớc nổi vùng ĐBSCL” đang dần trở nên nổi tiếng và gần gũi với ngƣời dân Việt Nam. Thời gian gần đây, đến mùa nƣớc nổi, trên phƣơng tiện thông tin xuất hiện một cách phổ biến nhiều cụm từ hoàn toàn xa lạ với ngôn ngữ, văn hóa Nam Bộ nhƣ “mùa lũ”, “lũ về”, “đỉnh lũ” “sống chung với lũ”, “đê bao chống lũ”, “cụm tuyến dân cƣ chống lũ”, “ nhà vƣợt lũ”, “trận lũ”, “vùng lũ”, “lũ cao”, “nƣớc lũ”, “nƣớc lụt”, “lũ lụt”… Theo Đại từ điển tiếng Việt: Lũ: “Hiện tƣợng nƣớc dâng cao đầu nguồn, dồn vào dòng chảy, thƣờng là rất mạnh, trong thời gian tƣơng đối ngắn.” [38, tr. 1055] Lụt: “Hiện tƣợng nƣớc dâng cao tràn ngập cả một vùng rộng lớn do mƣa lũ gây ra.” [38, tr. 1066] Cả hai khái niệm trên chỉ diễn tả đƣợc những tính chất chung của lũ lụt nhƣng chƣa thể hiện đƣợc những đặc trƣng cơ bản của mùa nƣớc dâng cao ở vùng ĐBSCL. Theo PGS.TS Trần Thanh Xuân: “Thuật ngữ lũ chỉ hiện tƣợng nƣớc sông dâng cao trong một khoảng thời gian nhất định, sau đó giảm dần. Trong mùa lũ, những trận mƣa liên tiếp trên lƣu vực sông (vùng hứng nƣớc mƣa và sinh dòng chảy), làm cho nƣớc sông cũng từng đợt nối tiếp nhau dâng cao, tạo ra những trận lũ trong sông suối. Khi lũ lớn, nƣớc lũ tràn qua bờ sông (đê) chảy vào những chỗ trũng và gây ra ngập lụt trên một diện rộng.” [37, tr. 7] Từ “lũ” đƣợc sử dụng có tính phổ thông để gọi mùa nƣớc nổi ở vùng ĐBSCL, nhƣng chƣa thể hiện đƣợc bản chất của hiện tƣợng thiên nhiên diễn ra 16 hàng năm ở vùng đất này. Đây là cách gọi đúng nhƣng mang tính bi quan, thiên về những tác hại do lũ gây ra. Lũ, lụt thƣờng đƣợc xem là một trong những thiên tai nguy hiểm, gây nhiều thiệt hại nặng nề về tính mạng, tài sản của ngƣời dân. Ngƣời dân vùng ĐBSCL ít khi gọi thời gian nƣớc lên cao là mùa lũ mà thƣờng gọi hiện tƣợng thiên nhiên này là mùa nƣớc nổi. Theo Đại từ điển tiếng Việt: Mùa nƣớc nổi: “Mùa lũ ở châu thổ sông Cửu Long do nƣớc sông Tiền và Hậu tràn bờ, làm ngập cả châu thổ với các độ sâu khác nhau và thời gian dài ngắn khác nhau khiến chỉ cấy đƣợc một vụ lúa nổi nhƣng có tác dụng rửa mặn, xổ phèn, cả châu thổ có nƣớc ngọt đƣa vào một lƣợng phù sa đáng kể.” [38, tr. 1049] Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: Mùa nƣớc nổi: “Mùa lũ ở châu thổ sông Cửu Long. Mùa nƣớc nổi đƣa về một khối lƣợng nƣớc ngọt lớn, cùng với phù sa chi phối toàn bộ hoạt động nông nghiệp, chế độ canh tác, các hệ thống sản xuất ở châu thổ sông Cửu Long. Cảnh quan của châu thổ trong mùa nƣớc nổi có những nét đặc trƣng, cũng là mùa khai thác các loài thủy sản.”[11, tr. 959] Mùa nƣớc nổi ở vùng ĐBSCL có đặc điểm khác những nơi khác vì mực nƣớc dâng lên từ từ mỗi ngày trung bình khoảng 20 cm, tốc độ nƣớc chảy không cao. Nƣớc lên từ từ trong nhiều tháng, đỉnh điểm vào cuối tháng 8 âm lịch ở vùng biên giới Việt Nam – Campuchia và cuối tháng 9 ở các tỉnh hạ nguồn. Nƣớc rút từ từ và đến tháng 11 âm lịch thì chấm dứt mùa nƣớc nổi. Tùy theo lƣợng nƣớc ít, nhiều mà nƣớc ngập cao hay thấp. Từ xa xƣa, khi lƣu dân ngƣời Việt đến khai khẩn vùng đất mới đã gọi hiện tƣợng nƣớc dâng lên hằng năm là mùa nƣớc nổi. Cụm từ “mùa nƣớc nổi” đƣợc xem là phƣơng ngữ Nam Bộ, phản ánh cụ thể một hiện tƣợng nƣớc lên và nƣớc xuống theo mùa. Cách gọi này cho thấy nhận thức của cƣ dân ĐBSCL về mùa nƣớc nổi là sự tuần hoàn của các mùa trong một năm theo quy luật tự nhiên. Có thể khẳng định, tên gọi mùa nƣớc nổi diễn tả ngắn ngọn, đầy đủ và hợp lý nhất với những đặc trƣng riêng của hiện tƣợng nƣớc dâng cao ở vùng ĐBSCL. Cách 17 gọi này còn diễn tả tính lạc quan, mong muốn khai phá và chinh phục vùng đất mới của các lớp cƣ dân miền Tây Nam Bộ. Bên cạnh đó, danh từ này còn thể hiện đƣợc tính chủ động trong mùa nƣớc nổi của ngƣời dân trong việc khai thác những lợi thế của mùa nƣớc nổi vào hoạt động phát triển kinh tế – xã hội của địa phƣơng. Mùa nƣớc nổi có thể gây ảnh hƣởng đến các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội (đƣờng giao thông, trƣờng học, chợ búa…) làm thiệt hại vƣờn cây ăn trái, cản trở đời sống sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp của ngƣời dân. Tuy nhiên, mùa nƣớc nổi cũng đem lại nguồn lợi thủy sản phong phú, phù sa bồi đắp cho ruộng đồng, tăng độ phì nhiêu của đất, tháo chua, rửa phèn, diệt trừ cỏ dại và các mầm bệnh… Mùa nƣớc nổi cũng đƣợc xem là mùa ăn nên làm ra của vùng đất “làm chơi ăn thiệt” này. Với những nỗ lực sáng tạo của mình, ngƣời dân ĐBSCL đã tận dụng và khai thác những lợi thế của mùa nƣớc nổi để phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống. Nhiều mô hình sản xuất hiệu quả trong mùa nƣớc nổi đã xuất hiện ở vùng ĐBSCL. Mùa nƣớc nổi không chỉ là một hiện tƣợng tự nhiên mà còn đƣợc xem là một nét văn hóa đặc trƣng của vùng sông nƣớc, có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành và phát triển của vùng châu thổ sông Cửu Long. Mùa nƣớc nổi luôn gắn liền với đời sống vật chất và tinh thần của ngƣời dân miền Tây. Hiện tƣợng mùa nƣớc nổi cũng đã trở thành một yếu tố văn hóa, hình thành cách ứng xử với tự nhiên và tính cách con ngƣời, góp phần tạo nên bản sắc văn hóa Nam Bộ. 1.1.2. Mùa nước nổi ở ĐBSCL Vùng ngập nƣớc ở vùng ĐBSCL vào mùa nƣớc nổi đƣợc chia thành 4 tiểu vùng: vùng Tứ giác Long Xuyên, vùng Đồng Tháp Mƣời, vùng Tây sông Hậu và vùng giữa sông Tiền và sông Hậu. Diện tích ngập nƣớc khoảng 2 triệu ha, chiếm khoảng 2,5% diện tích lƣu vực sông Mêkong, bao gồm địa bàn 9 tỉnh: An Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Cần Thơ, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long. Mùa nƣớc nổi ở ĐBSCL thƣờng kéo dài khoảng 6 tháng, bắt đầu từ cuối 18 tháng 6 (chậm hơn mùa mƣa 1 tháng) và kết thúc vào tháng 12 hàng năm (chậm hơn thời gian kết thúc mùa mƣa 1 tháng và lùi 1 tháng so với thƣợng nguồn). Ngày bắt đầu mùa nƣớc nổi có thể xem là lúc mực nƣớc chấm dứt những dao động theo thủy triều. Ngày kết thúc mùa nƣớc nổi là ngày mực nƣớc bắt đầu dao động lại theo thủy triều. Điểm khác biệt và đặc trƣng của mùa nƣớc nổi ở ĐBSCL có cƣờng suất lũ và biên độ nhỏ. Đây là sự tổng hợp của quá trình lũ góp từ trung và thƣợng lƣu sông Mekong dồn về khá chậm. So với thƣợng lƣu, lũ ở ĐBSCL rất hiền hòa. Mức độ biến động lũ giữa các năm không lớn. Nguyên nhân chính làm biến động đỉnh lũ là khả năng điều tiết cắt đỉnh một cách hữu hiệu của Biển Hồ (Campuchia). Vì thế ít khi có lũ cực lớn tràn vào vùng ĐBSCL. Do địa hình vùng ĐBSCL bằng phẳng nên mực nƣớc đỉnh lũ tăng thêm vài chục cm là mức độ ngập nƣớc tăng lên đáng kể. Mùa nƣớc nổi ở ĐBSCL tƣơng đối ổn định và đƣợc điều hòa một cách tự nhiên, không có hiện tƣợng cƣờng suất lũ dâng cao, nhanh nhƣ lũ ở miền Trung và miền Bắc. Mùa nƣớc nổi ở đây hoạt động theo chu kỳ, mực nƣớc dâng lên từ từ theo quy luật, tốc độ chậm, tràn trên diện rộng, không đột ngột, nhanh, mạnh giống nhƣ lũ ở những vùng miền khác. Chính những đặc điểm riêng biệt này nên mùa nƣớc nổi ở ĐBSCL không tàn phá, khắc nghiệt, ít gây thiệt hại. Vào mùa nƣớc nổi, ngƣời dân có thể dự đoán gần chính xác thời điểm nƣớc nhảy khỏi bờ, nƣớc quay, nƣớc đổ, nƣớc son, nƣớc bạc, nƣớc cao nhất, nƣớc rút… Việc xác định lũ lớn hay nhỏ vào mùa nƣớc nổi ở ĐBSCL không phụ thuộc vào cƣờng độ lũ, lƣu lƣợng, tổng lƣợng nƣớc mà yếu tố quan trọng là dựa vào mực nƣớc. Theo phân cấp của Tổng cục Khí tƣợng Thủy văn, mực nƣớc trên sông Tiền tại Tân Châu thấp hơn 3,83 m là lũ nhỏ, từ 3,83 m đến 4,83 m là lũ trung bình và trên 4,83 m là lũ lớn. Lƣợng nƣớc lớn và mùa nƣớc nổi kéo dài, gây thiệt hại lớn về tính mạng và tài sản, gây khó khăn trong sinh hoạt của ngƣời dân vùng ngập nƣớc sâu. Mùa nƣớc nổi đến sớm thì gây thiệt hại cho lúa hè thu, đến muộn làm chậm thời gian xuống giống lúa đông xuân. Mực nƣớc vƣợt mức trung bình sẽ ảnh hƣởng năng suất của 19 mùa màng (giảm hoặc mất trắng), gây trì trệ sản xuất nông nghiệp. Nƣớc ngập lâu gây khó khăn trong việc bảo vệ môi sinh, môi trƣờng, gây xói mòn bờ sông, phá hủy cơ sở hạ tầng. Khi nƣớc ngập quá cao còn làm xáo trộn cuộc sống của ngƣời dân, gây khó khăn cho việc định cƣ, đi lại, học tập. Tuy nhiên, mùa nƣớc nổi ở vùng ĐBSCL cũng mang lại những nguồn lợi vô cùng to lớn cho vùng đất và con ngƣời nơi đây. Mùa nƣớc nổi đem đến vùng đồng bằng này một lƣợng phù sa khổng lồ (trên 150 triệu tấn/năm), không ngừng bồi đắp phù sa cho các dải đất ven sông và đồng ruộng, làm cho đồng bằng tiếp tục mở rộng về phía biển Đông. Chính sự bồi lắng của phù sa đã làm cho ruộng đồng luôn trù phú, màu mỡ, tiết kiệm nhiều chi phí trong sản xuất, mang đến những vụ mùa bội thu. Mùa nƣớc nổi còn cải thiện chất lƣợng môi trƣờng nƣớc, môi trƣờng đất, điều hòa khí hậu và bổ sung lƣợng nƣớc ngầm. Mùa nƣớc nổi cũng mang lại nguồn lợi thủy sản tự nhiên đa dạng, phong phú; thuận lợi cho việc nuôi trồng các loại thủy sản nƣớc ngọt. Bên cạnh tác động tháo chua, rửa phèn, rửa mặn; mùa nƣớc nổi còn giúp rửa sạch những độc tố, vệ sinh đồng ruộng. Ngoài ra, mùa nƣớc nổi còn tạo việc làm, tăng thu nhập cho ngƣời dân với các hoạt động đánh bắt cá, hái rau, tham gia các dịch vụ du lịch. Hơn 100 năm trƣớc, vào mùa nƣớc nổi, nƣớc đƣợc chảy tràn tự do vào ĐBSCL. Trong khoảng vài chục năm gần đây, nhằm hạn chế những tác hại cũa lũ và khai thác những lợi ích của nó, những hệ thống đê bao kiểm soát lũ đã ra đời. Mùa nƣớc nổi đã bị “can thiệp” bởi hệ thống kênh đào, hệ thống đê bao và mạng lƣới giao thông đƣờng bộ trong vùng. Tuy nhiên, các hệ thống kênh đào và bờ bao hiện nay chỉ tác dụng làm chệch hƣớng truyền lũ và biến đổi diễn biến của lũ. Sự khai thác rừng bừa bãi, sự khai thác quỹ đất quá mức cho nông nghiệp, sự phát triển nhanh chóng về số lƣợng của các đập thủy điện… đã làm cho dòng lũ bị biến dạng ít nhiều, phá vỡ quy luật của mùa nƣớc nổi. Những biến đổi của tự nhiên cùng sự tác động của con ngƣời đã làm cho mùa nƣớc nổi không còn đúng nghĩa là “mùa nƣớc đẹp”. Hơn 300 năm qua, những lớp cƣ dân vùng ĐBSCL đã khá quen thuộc với 20
- Xem thêm -