Phát triển dịch vụ ngân hàng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn hà tây trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế

  • Số trang: 88 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 33 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG CHUYÊN NGÀNH TÀI CHÍNH QUỐC TẾ ~~~~~~*~~~~~~ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI : PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HÀ TÂY TRONG THỜI KÌ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Sinh viên thực hiện : NGUYỄN TIẾN HƢNG Lớp : TÀI CHÍNH QUỐC TẾ A Khoá : 45 Giáo viên hướng dẫn : THS. NGUYỄN ĐỖ QUYÊN HÀ NỘI – 2010 1 LỜI CẢM ƠN Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ nhân viên chi nhánh NHNo&PTNT Hà Tây và sự hƣớng dẫn tận tình của ThS. Nguyễn Đỗ Quyên đã giúp tôi hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình. Tuy nhiên, do hạn chế về kỹ năng và kinh nghiệm thực tế nên khóa luận tốt nghiệp sẽ không thể tránh khỏi thiếu xót rất mong nhận đƣợc sự nhận xét đánh giá của các thầy cô trong khoa Tài chính ngân hàng. Hà Nội ngày 02 tháng 05 năm 2010 Sinh viên: Nguyễn Tiến Hưng 2 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT NHNo&PTNT Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn TCKT Tổ chức kinh tế TCTD Tổ chức tín dụng TNHH Trách nhiệm hữu hạn TG Tiền gửi TCTD Tổ chức tín dụng CBCNVC Cán bộ công nhân viên chức NHTM Ngân hàng thƣơng mại NHTMCP Ngân hàng thƣơng mại cổ phẩn NHNN Ngân hàng nhà nƣớc WU Wester Union L/C Thƣ tín dụng CNTT Công nghệ thông tin NT Ngoại tệ TT Thanh toán CTĐT Chuyển tiền điện tử 3 DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Hình 2.1 Cơ cấu lao động của NHNo&PTNT Hà Tây ................................. 29 Bảng 2.1: Tốc độ tăng trƣởng nguồn vốn các năm 2006 – 2009 . ………….31 Bảng 2.2: Tốc độ tăng trƣởng đầu tƣ tín dụng qua các năm 2006 – 2009...33 Bảng 2.3: Kết quả kinh doanh dịch vụ phi tín dụng các năm 2006 – 2009..35 Bảng 2.4: Hoạt động kinh doanh ngoại tệ các năm 2006-2009………….....36 Bảng 2.5: Dịch vụ chuyển tiền các năm 2006 – 2009………………………..37 Bảng 3.1: Dự kiến kết quả kinh doanh đến năm 2015……………………...58 4 LỜI NÓI ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ ở khắp nơi trên thế giới, hội nhập kinh tế quốc tế đang là vấn đề nóng với quốc gia. Hội nhập kinh tế quốc tế mở ra cơ hội cũng nhƣ thách thức mới cho các doanh nghiệp, tạo động lực phát triển cho các doanh nghiệp. Hội nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng cũng nằm trong xu thế chung đó. Để có thể vƣợt qua thách thức và khó khăn trong quá trình hội nhập, các ngân hàng thƣơng mại phải đủ mạnh để cạnh tranh với các ngân hàng khác trong nƣớc và trên thế giới. Dịch vụ ngân hàng là một loại hình dịch vụ của nền kinh tế, giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế quốc gia. Phát triển dịch vụ ngân hàng là yêu cầu cấp thiết trong quá trình hội nhập. Ở Việt Nam, vấn đề này càng trở nên cấp thiết hơn khi trở thành thành viên chính thức của WTO. So với các nƣớc phát triển khác, ngành ngân hàng tài chính ở nƣớc ta có thời gian phát triển ngắn hơn, chính vì vậy không tránh khỏi có những yếu kém, hạn chế. Nhận thức đƣợc tính cấp thiết đó, nhiều ngân hàng thƣơng mại ở Việt Nam đã liên tục đổi mới, phát triển các dịch vụ của mình nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Là một ngân hàng thƣơng mại hàng đầu Việt Nam NHNo&PTNT Việt Nam cũng luôn chú trọng phát triển các dịch vụ của mình. Không nằm ngoài xu thế đó, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Tây (AGRIBANK Hà Tây luôn phấn đấu để đạt mục tiêu tăng trƣởng ổn định, phát triển bền vững, nâng cao vị thế của mình trên địa bàn Hà Nội. Trong những năm qua NHNo&PTNT Hà Tây đã đạt đƣợc nhiều thành tựu trong việc khai thác dịch vụ ngân hàng. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đã đạt đƣợc các sản phẩm dịch vụ của NHNo&PTNT Hà Tây cũng còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục. Số lƣợng sản phẩm dịch vụ ngân hàng của chi nhánh còn ít chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu của khách hàng. Một số dịch vụ có chất lƣợng chƣa tốt, chƣa đủ để đáp 5 ứng yêu cầu hội nhập. Lƣợng khách hàng sử dụng sản phẩm dịch vụ còn ít so với tiềm lực của chi nhánh điều này đã phần nào phản ánh những hạn chế trong việc phát triển dịch vụ ngân hàng tại chi nhánh AGRIBANK Hà Tây. Sự phát triển của nền kinh tế đòi hỏi các ngân hàng phải có đƣợc những dịch vụ tốt nhất, đa dạng và thuận tiện sẵn sàng phục vụ mọi nhu cầu của khách hàng. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng về việc phát triển dịch vụ ngân hàng, tác giả đã chọn đề tài “Phát triển dịch vụ ngân hàng tại AGRIBANK Hà Tây trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế ” làm đề tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp. 2. Mục tiêu nghiên cứu Ngân hàng tài chính là xƣơng sống của nền kinh tế, các học thuyết về sự phát triển dịch vụ ngân hàng rất đa dạng và phong phú, chính vì vậy nhiệm vụ trƣớc tiên khi nghiên cứu về sự phát triển dịch vụ ngân hàng là hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về dịch vụ ngân hàng và sự phát triển của dịch vụ ngân hàng, từ đó thấy đƣợc sự cấp thiết phải phát triển dịch vụ ngân hàng. Phân tích thực trạng phát triển các dịch vụ ngân hàng tại một ngân hàng cụ thể là nhiệm vụ tiếp theo khi nghiên cứu đề tài này. AGRIBANK Hà Tây trong xu hƣớng hội nhập WTO đã có nhiều ƣu điểm và hạn chế trong việc phát triển dịch vụ của mình, vì vậy rất cần phải phân tích, tìm ra nguyên nhân của các hạn chế đó. Nhiệm vụ tiếp theo khi nghiên cứu đề tài là phân tích những cơ hội, thách thức đối với AGRIBANK Hà Tây trong giai đoạn hội nhập WTO và khủng hoảng tài chính toàn cầu từ đó đề ra phƣơng hƣớng phát triển dịch vụ, đồng thời đề xuất giải pháp phát triển các dịch vụ ngân hàng tại AGRIBANK Hà Tây đến năm 2015. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài - Đối tượng nghiên cứu của đề tài : Là hoạt động phát triển các dịch vụ ngân hàng tại AGRIBANK Hà Tây trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế 6 - Phạm vi nghiên cứu cảu đề tà : Đề tài tập trung phân tích thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng tại AGRIBANK Hà Tây trƣớc và sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, phƣơng hƣớng và giải pháp đến năm 2015. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng phƣơng pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, làm cơ sở phƣơng pháp luận. Sử dụng phƣơng pháp Phân tích thống kê kinh tế, tổng hợp và tƣ duy lôgic để làm rõ nội dung nghiên cứu mà đề tài đặt ra. 5.Kết cấu khóa luận Ngoài phần lời mở đầu và kết luận, khóa luận chia thành 3 chƣơng: Chƣơng I: Tổng quan về dịch vụ ngân hàng tại các ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng II: Thực trạng phát triển các dịch vụ ngân hàng tại AGRIBANK Hà Tây trong thời kì hội nhập Chƣơng III: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng tại AGRIBANK Hà Tây trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế. 7 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI. 1.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của các ngân hàng thƣơng mại Ngân hàng thƣơng mại là một tổ chức tài chính trung gian có vị trí quan trong trong nền kinh tế. Có nhiều quan niệm về ngân hàng thƣơng mại. Theo định nghĩa của ngân hàng thế giới: “Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính nhận tiền gửi chủ yếu dưới dạng không kỳ hạn hoặc tiền gửi ngắn hạn (tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và các khoản tiền tiết kiệm) ”. Quan điểm ở Mỹ cho rằng: Ngân hàng thƣơng mại là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Theo Peter S.Rose - một nhà kinh tế học “Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục và dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán. Thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Ở Việt Nam: theo pháp lệnh ngân hàng ngày 23-05-1990 của hội đồng nhà nƣớc: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi tử khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và là phương tiện thanh toán”. Theo luật tổ chức tín dụng, khoản 2 điều 20 quy định: “Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh có liên quan”. 8 Nhƣ vậy, từ những định nghĩa trên có thể rút ra một số điểm đặc trƣng của ngân hàng thƣơng mại nhƣ sau: - Ngân hàng thƣơng mại là một tổ chức kinh tế đƣợc phép sử dụng ký thác của công chúng với trách nhiệm hoàn trả. - Ngân hàng thƣơng mại là một tổ chức kinh tế đƣợc phép sử dụng ký thác của công chúng để cho vay, chiết khấu và thực hiện các dịch vụ tài chính khác. 1.1.2. Chức năng cơ bản của các ngân hàng thƣơng mại Ngân hàng thƣơng mại là một tổ chức kinh tế có nhiều chức năng nhƣ: chức năng tín dụng, chức năng ủy thác, chức năng môi giới, chức năng bảo hiểm, chức năng đầu tƣ, chức năng thanh toán, chức năng chức năng quản lý tiền mặt và nhiều chức năng khác nữa. Nhƣng trong đó nổi lên một số chức năng cơ bản sau: 1.1.2.1. Chức năng Trung gian tài chính Đây là chức năng cơ bản đặc trƣng nhất của ngân hàng thƣơng mại, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế phát triển. Trung gian tài chính là hoạt động cầu nối giữa cung và cầu về vốn của xã hội, huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cƣ, các tổ chức kinh tế để thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, cho các doanh nghiệp, dân cƣ, các tổ chức kinh tế khác vay vốn để thực hiện các hoạt động sinh lời từ nguồn vốn vay đó. Tác dụng của trung gian tài chính là giảm thiểu những chi phí thông tin và chi phí giao dịch trong nền kinh tế. Ngân hàng thƣơng mại đã góp phần tạo lợi ích cho cả ba bên: Ngƣời gửi tiền, ngân hàng và ngƣời đi vay. Đối với ngƣời gửi tiền: Họ có đƣợc lợi từ nguồn vốn nhàn rỗi của mình khi gửi khoản tiền đó vào ngân hàng, trên cơ sở nguồn vốn đó ngân hàng sẽ thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh, tạo ra lợi nhuận đồng thời chi trả lãi suất cho ngƣời gửi tiền bảo đảm sự an toàn cũng nhƣ cung cấp các phƣơng tiện thanh toán cho ngƣời gửi tiền. 9 Đối với ngƣời đi vay: Đáp ứng đƣợc nhu cầu về vốn để thực hiện các hoạt động kinh doanh, sản xuất, chi tiêu một cách hợp pháp và an toàn. Đối với ngân hàng: Tìm kiếm đƣợc lợi nhuận từ chênh lệch lãi xuất cho vay và lãi xuất tiền gửi, đồng thời sử dụng nguồn vốn đó vào hoạt động tự doanh của ngân hàng tạo ra lợi nhuận, ngoài ra thông qua chức năng trung gian tài chính mà ngân hàng thực hiện chức năng xã hội của mình đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế. 1.1.2.2. Chức năng thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán Ngân hàng thƣơng mại là trung gian thanh toán lớn nhất ở đa số các quốc gia trên thế giới. Với chức năng này, ngân hàng thƣơng mại tiến hành nhập tiền vào tài khoản, thực hiện chi trả theo lệnh của chủ tài khoản. Thông qua chức năng này, hệ thống ngân hàng thƣơng mại sẽ cung cấp cho các chủ thể của nền kinh tế rất nhiều công cụ thanh toán mang lại tiện ích cao nhƣ: thẻ tín dụng, thẻ thanh toán, thẻ rút tiền, ngân phiếu, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi…Vì vậy chức năng trung gian thanh toán của ngân hàng thƣơng mại đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế, giúp việc thanh toán trở nên nhanh chóng, an toàn, thuận tiện và chính xác, qua đó tiết kiệm thời gian và chi phí cho khách hàng. Ngày nay, hoạt động thanh toán của hệ thống ngân hàng thƣơng mại chiếm một vị trí quan trọng trong hoạt động của ngân hàng thƣơng mại. Giúp các ngân hàng thu đƣợc nguồn vốn khổng lồ đồng thời thu đƣợc phí dịch vụ từ hoạt động thanh toán qua đó góp phần tăng doanh thu, đóng góp vào sự phát triển chung của ngân hàng. 1.1.2.3. Chức năng đầu tư và bảo lãnh Một trong những chức năng cơ bản của ngân hàng thƣơng mại là đầu tƣ và bảo lãnh. Từ nguồn vốn nhàn rỗi huy động đƣợc trong dân cƣ và các tổ chức kinh tế, ngân hàng xẽ tiến hành các hoạt động kinh doanh để sinh lời từ nguồn 10 vốn huy động đƣợc. Ngoài việc cho vay chiết khấu lãi xuất, ngân hàng còn phân tích thị trƣờng, lập kế hoạch đầu tƣ, thực hiện các dự án mang tính khả thi cao. Bên cạnh đó, ngân hàng thƣơng mại còn có chức năng bảo lãnh. Bảo lãnh ngân hàng thực hiện với sự tham gia của 3 bên đó là: bên đƣợc bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và ngân hàng. Qua đó ngân hàng cam kết chi trả thay khách hàng trong trƣờng hợp khách hàng không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ, đúng hạn. 1.1.3. Vai trò của các ngân hàng thƣơng mại trong nền kinh tế Hoạt động của ngân hàng thƣơng mại gắn liền với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, các tổ chức và các chủ thể khác. Bằng các chính sách và nghiệp vụ tín dụng, ngân hàng thƣơng mại đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh. Mặt khác ngân hàng thƣơng mại tiếp nhận, thu hút lƣợng tiền mặt nhàn rỗi trong nền kinh tế thể hiện vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô và tạo ra mối quan hệ giữa lƣu thông tiền tệ và lƣu thông hàng hóa. Một trong những vai trò quan trọng khác của các ngân hàng thƣơng mại đối với sự phát triển của nền kinh tế đó là trung gian lƣu chuyển vốn từ nơi nhàn rỗi đến nơi cần nguồn vốn để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi nền kinh tế phát triển đến một mức nào đó thì sẽ hình thành nhu cầu về vốn để quay vòng sản suất, mở rộng hoạt động qua nhiều khu vực rộng lớn khác nhau. Để làm đƣợc điều này cần phải có những tổ chức tài chính đứng ra tiến hành hoạt động huy động vốn để từ đó bổ sung nguồn vốn cho các doanh nghiệp tiếp tực sản xuất kinh doanh. Ngân hàng thƣơng mại đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch định chính sách tiền tệ của ngân hàng Nhà nƣớc. Phần lớn các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của ngân hàng Nhà nƣớc nhƣ: Lãi suất cơ bản, dự trữ bắt buộc, tái chiết khấu, hạn mức tín dụng… chỉ đƣợc thực thi có hiệu quả khi có sự hợp tác tích cực của phía các ngân hàng thƣơng mại. Từ việc chấp hành quy chế tỷ lệ dự chữ bắt buộc, quy chế khuyến khích lƣu thông không dùng tiền mặt đến việc nâng cao hiệu quả đầu tƣ. Bên cạnh đó ngân hàng thƣơng mại góp phần ổn định giá cả khi có hiện tƣợng lạm phát sảy ra ở mức độ cao. Để kiềm chế lạm 11 phát ngân hàng sẽ thực hiện các biện pháp nhƣ ngừng phát hành tiền mặt vào lƣu thông và tăng lãi xuất tiền gửi nhằm hút bớt lƣợng tiền mặt trong lƣu thông. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế sẽ bộc lộ những thiếu sót, hạn chế. Khi đó chính phủ sẽ có những chính sách để khắc phục những thiếu sót, hạn chế đó, thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, ổn định. Vai trò của các ngân hàng thƣơng mại là phối hợp với chính phủ thực hiện các chính sách về tiền tệ, giúp nền kinh tế phát triển ổn định, vững mạnh. 1.2. KHÁI QUÁT VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TẠI CÁC NHTM 1.2.1. Khái niệm về dịch vụ ngân hàng thƣơng mại Sự phát triển của các ngành sản xuất công nghiệp và nông nghiệp đòi hỏi phải có một nghành kinh tế giúp lƣu thông, tạo thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, khi đó dịch vụ phát triển. Dịch vụ là các hoạt động nhằm thỏa mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt. Theo Philip Kotler: “ Dịch vụ là mọi hành động hay lợi ích mà một bên cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến sở hữu một cái gì đó. Việc thực hiện dịch vụ có thể và cũng có thể không liên quan đến một sản phẩm vật chất”. Dịch vụ phát triển trong nhiều ngành nghề kinh tế khác nhau trong đó dịch vụ Ngân hàng là dịch vụ cốt lõi của nền kinh tế. Dịch vụ ngân hàng là toàn bộ các sản phẩm đƣợc ngân hàng hay các tổ chức tài chính tạo ra để phục vụ nhu cầu nhƣ sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng…của các chủ thể trong nền kinh tế. Với định nghĩa ở trên có thể hiểu rằng toàn bộ hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp lý của khách hàng của ngân hàng thƣơng mại đều đƣợc coi là dịch vụ ngân hàng thƣơng mại. Nhƣ vậy khả năng cung cấp và phát triển các dịch vụ ngân hàng cho thị trƣờng là rất lớn. 12 1.2.2. Đặc điểm dịch vụ ngân hàng thƣơng mại Dịch vụ ngân hàng trƣớc hết mang những đặc điểm trung của dịch vụ. Dịch vụ có tính vô hình. Chúng ta không thể nhìn thấy hay biểu thị một dịch vụ. Một khách hàng có thể bỏ tiền mua một dịch vụ song thƣờng không có một biểu hiện vật chất cụ thể nào cho dịch vụ đó. Dịch vụ chuyển tiền đƣợc khách hàng yêu cầu ngân hàng tiến hành song khi họ trả phí không bao giờ có kết quả vật chất cụ thể để biểu hiện. Những ví dụ tƣơng tự cũng có tính tƣơng tự nhƣ với dịch vụ bảo hiểm, tiết kiệm và đầu tƣ chúng chỉ mang lại thu nhập tại một thời điểm trong tƣơng lai. Dịch vụ mang tính thống nhất. Nói chung, chúng ta có thể chia thành nhiều phần quá trình tạo và tiêu dùng sản phẩm. Hầu hết các hàng hoá bình thƣờng đều đƣợc sản xuất và sau đó đƣợc bán cho ngƣời tiêu dùng, ngƣợc lại dịch vụ thƣờng đƣợc bán trƣớc khi đƣợc tạo ra. Vì vậy, dịch vụ không thể đƣợc lƣu kho, chúng chỉ đƣợc tạo ra khi khách hàng có nhu cầu và đặc biệt là lúc đó có sự hiện diện của khách hàng. Dịch vụ do nhiều yếu tố cấu thành. Chất lƣợng dịch vụ thƣờng phụ thuộc nhiều vào chất lƣợng quản trị nhân sự. Chính vì thế khả năng chất lƣợng dịch vụ có tính đa dạng là rất cao. Ví dụ: chất lƣợng của dịch vụ tín dụng đối với một khách hàng phụ thuộc rất nhiều vào cán bộ ngân hàng thực hiện dịch vụ đó. Để giảm đi tính đa dạng không cần thiết về chất lƣợng dịch vụ chúng ta có thể áp dụng hệ thống phân phối dịch vụ đƣợc chuẩn hoá nhƣ việc dùng máy ATM chẳng hạn. Bên cạnh đó dịch vụ ngân hàng còn mang một số đặc điểm riêng sau: Dịch vụ ngân hàng thƣơng mại do ngân hàng thƣơng mại hoặc tổ chức tín dụng tạo ra và cung cấp nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Trong quá trình hoạt động của các ngân hàng sẽ phát sinh một số nhu cầu, mong muốn của khách hàng về lĩnh vực tài chính mà ngân hàng chƣa có hoạt động nào có thể đáp ứng đƣợc, khi đó ngân hàng thƣơng mại sẽ tiến hành phân tích, thu thập thông tin, 13 nghiên cứu nhu cầu của khách hàng để từ đó sẽ xây dựng một dịch vụ phù hợp với những yêu cầu đó. Các dịch vụ ngân hàng đều mang tính tƣơng hỗ nhau tạo nên mối liên kết chặt chẽ, tạo ra một chuỗi mắt xích, sự ra đời của dịch vụ này là cơ sở để ra đời và phát triển dịch vụ khác. Ví dụ nhƣ dịch vụ thanh toán quốc tế và dịch vụ bảo lãnh là hai dịch vụ có quan hệ chặt chẽ với nhau. Khách hàng khi sử dụng dịch vụ thanh toán quốc tế thì sẽ dẫn đến nhu cầu về dịch vụ bảo lãnh để có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu ủa hơn, đem lại nhiều lợi ích hơn cho doanh nghiệp. 1.2.3. Các loại hình dịch vụ ngân hàng thƣơng mại chủ yếu (1) Dịch vụ nhận tiền gửi. Là dịch vụ mà qua đó ngân hàng huy động tiền nhàn rỗi trong dân cƣ, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và trả lãi xuất cho ngƣời gửi tiền. Huy động tiền nhàn rỗi tạo nguồn vốn cho ngân hàng từ đó ngân hàng tiến hành hoạt động của mình để sinh lời trên đồng vốn đó. Dịch vụ nhận tiền gửi là kênh huy động vốn quan trọng của các ngân hàng chính vì vậy cạnh tranh giữa các ngân hàng trong việc thu hút tiền gửi là vô cùng gay gắt. (2) Dịch vụ tín dụng. Trên cơ sở nguồn vốn thu hút đƣợc, ngân hàng tiến hành các hoạt động sinh lời nhƣ: cho vay sản xuất, cho vay tiêu dùng qua đó ngân hàng thu lãi xuất cho vay ở mức độ hợp lí để chi trả lãi xuất cho ngƣời gửi đồng thời thu lợi nhuận cho ngân hàng. Để cạnh tranh với các ngân hàng thƣơng mại khác, nhiều ngân hàng đã có những mức tín dụng ƣu đãi dành cho khách hàng của mình. (3) Dịch vụ thanh toán. Dịch vụ thanh toán tại các ngân hàng thƣơng mại dành cho khách hàng mở tài khoản tiền gửi gồm hai hình thức: thanh toán dùng tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt. Tùy theo yêu cầu của khách hàng ngân hàng sẽ tiến hành thanh toán sao cho nhanh chóng, thuận tiện và an toàn nhất. Dịch vụ thanh toán 14 không dùng tiền mặt hiện nay đang đƣợc sử dụng rộng rãi vì sự an toàn tiết kiệm và nhanh chóng của nó. Sự phát triển của nền kinh tế đòi hỏi các ngân hàng phải không ngừng tìm kiếm cách ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại vào hoạt động thanh toán nhằm mục tiêu phục vụ khách hàng tốt nhất, tạo sự thuận tiện, an toàn và nhanh chóng cho khách hàng. (4) Dịch vụ trao đổi ngoại tệ. Hội nhập WTO tạo cơ hội cho các doanh nghiệp mở rộng thị trƣờng ra nƣớc ngoài, từ đó xuất hiện nhu cầu trao đổi ngoại tệ để phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Khi đó các ngân hàng sẽ đứng ra thu hút và cung cấp ngoại tệ cho các doanh nghiệp và thu phí dịch vụ. Ngày nay, dịch vụ trao đổi ngoại tệ thƣờng chỉ do các ngân hàng lớn thực hiện vì mức độ rủi ro ở lĩnh vực này khá cao, đồng thời nó yêu cầu trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao. (5) Dịch vụ ủy thác. Đây là việc ngân hàng thực hiện quản lý tài sản và hoạt động tài chính cho các cá nhân và tổ chức kinh tế. Trên cơ sở đó ngân hàng sẽ thu phí dịch vụ tùy theo giá trị, quy mô của tài sản mà ngân hàng quản lý. Dịch vụ ủy thác đang rất phát triển tại nhiều quốc gia trên thế giới vì ngày càng có nhiều cá nhân và tổ chức có nhu cầu đối với dịch vụ này. (6) Dịch vụ bảo lãnh. Là bảo lãnh ngân hàng do ngân hàng phát hành cho bên nhận bảo lãnh về việc cam kết trả nợ cho khách hàng trong trƣờng hợp khách hàng không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ, đúng hạn. (7) Dịch vụ tư vấn tài chính. Nhiều khách hàng đã coi ngân hàng nhƣ một chuyên gia tƣ vấn tài chính bởi ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng những lời khuyên với hiểu biết sâu sắc về lĩnh vực tài chính. Nhờ đó mà khách hàng có thể có đƣợc chiến lƣợc kinh doanh tốt nhất, phù hợp với tình hình tài chính của doanh nghiệp và những biến 15 động của nền kinh tế. Qua đó giúp họ tránh đƣợc những rủi ro tạo ra mức lợi nhuận tối đa có thể đạt đƣợc. (8) Dịch vụ cho thuê tài chính. Ngân hàng mua tài sản về để cho khách hàng thuê theo những thỏa thuận trong hợp đồng. Sau thời gian nhất định, khách hàng hoàn trả tài sản tài chính đồng thời trả phí dịch vụ theo thỏa thuận trƣớc giữa hai bên. Dịch vụ cho thuê tài chính có nhiều điểm giống với dịch vụ cho vay, và đƣợc xếp vào tín dụng trung và dài hạn. (9) Dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán. Đối với nền kinh tế hiện nay, mỗi ngân hàng đều là một bách hóa tài chính cung cấp rất nhiều dịch vụ tài chính thỏa mãn mọi nhu cùa của khách hàng. Một trong những dịch vụ rất phát triển đối với các ngân hàng đó là dịch vụ môi giới đầu tƣ chứng khoán. Khi nhà đầu tƣ cần đƣợc tƣ vấn về khoản đầu tƣ của mình, họ sẽ tìm đến những tổ chức có uy tín, có kinh nhiệm trong lĩnh vực tài chính. Là chủ thể kinh tế hoạt động trong lĩnh vực tài chính, hơn ai hết các ngân hàng là những tổ chức hiểu rõ và có kinh nhiệm trong lĩnh vực chứng khoán, việc phát triển dịch vụ môi giới đàu tƣ chứng khoán và việc làm cần thiết đối với cả ngân hàng và nhà đầu tƣ. (10) Dịch vụ phòng ngừa rủi ro hối đoái. Khi tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế, ngoài việc quan tâm đến chất lƣợng và giá thành của sản phẩm các doanh nghiệp còn quan tâm đến sự ổn định của đồng tiền mà họ dùng trong hợp đồng. Sự biến động của tỷ giá hối đoái có ảnh hƣởng lớn đến kết quả, lợi nhuận mà doanh nghiệp có thể đạt đƣợc. Để giảm thiểu những rủi ro do biến động về tỷ giá gây ra, các doanh nghiệp sẽ sử dụng dịch vụ phòng ngừa rủi ro hối đoái của ngân hàng. Ngân hàng sẽ cung cấp một số kỹ thuật để giúp doanh nghiệp phòng ngừa những rủi ro đó đồng thời có thể đem lại lợi nhuận cao hơn cho doanh nghiệp nhƣ hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn… trên cơ sở đó ngân hàng sẽ thu phí dịch vụ, đóng góp vào lợi nhuận chung của ngân hàng. 16 (11) Một số dịch vụ khác ( Home Banking, E- Banking, Phone Banking…). Một số dịch vụ ngân hàng hiện đại khách nhƣ: Home Banking, EBanking, Phone Banking, dịch vụ thẻ. Đây là những dịch vụ tạo sự thuận tiện cho khách hàng. Sử dụng những dịch vụ này khách hàng có thể thực hiện đƣợc những nhu cầu của mình mà không cần đến ngân hàng đem lại sự thuận tiện và tiêt kiệm tiền bạc của xã hội. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, rất nhiều sản phẩm mới đã đƣợc hình thành dựa trên cơ sở của công nghệ hiện đại, mang lại những tiện ích mới cho ngƣời tiêu dùng. Xu hƣớng phát triển của nền kinh tế thế giới là tạo ra những sản phẩm mang hàm lƣợng công nghệ cao, tiết kiệm chi phí và thời gian cho khách hàng. Các dịch vụ ngân hàng hiện đại đang đem lại sự hài lòng cho khách hàng. 1.3. PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP WTO 1.3.1. Khái niệm về phát triển dịch vụ ngân hàng Phát triển là sự mở rộng, nâng cao từ thấp đến cao, từ chƣa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Hay còn đƣợc hiểu là sự mở rộng số lƣợng và nâng cao chất lƣợng các dịch vụ ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng, đảm bảo mục tiêu và nhiệm vụ của ngân hàng. Sự mở rộng dịch vụ ngân hàng là bổ sung thêm một só dịch vụ mới, các dịch vụ mới nà có thể là dịch vụ hỗ trợ, dịch vụ thay thế hay bổ sung cho các dịch vụ đang có nhằm tạo ra các tiện ích, giá trị mới bằng cách hoàn thiện quy trình, thêm tính năng đơn giản hóa thủ tục, đặc biệt là đem lại nhiều lợi ích cho khách hàng. Nâng cao chất lƣợng dịch vụ đƣợc thực hiện dựa trên việc ứng dụng các công nghệ hiện đại, tăng cƣờng trang thiết bị, phƣơng tiện phục vụ khách hàng, thái độ phục vụ khách hàng của nhân viên phải chuyên nghiệp, lịch sự. 17 Phát triển dịch vụ là một công việc quan trọng của ngân hàng, một mặt nó thỏa mãn nhu cầu phát sinh của khách hàng, duy trì khách hàng cũ, mặt khác thu hút thêm khách hàng mới, mở rộng thị trƣờng năng cao sức cạnh tranh của ngân hàng. 1.3.2. Các nội dung của việc phát triển dịch vụ ngân hàng tại các NHTM Nội dung của việc phát triển dịch vụ ngân hàng đƣợc tiến hành qua một số bƣớc nhƣ sau: - Nghiên cứu thị trường của các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng. Nghiên cứu thị trƣờng có vai trò quyết định đến sự thành bại của một sản phẩm trƣớc khi tung ra thị trƣờng.Vì thị trƣờng là nơi tiêu thụ sản phẩm, là nơi cung và cầu gặp nhau. Nếu sản phẩm dịch vụ đáp ứng đƣợc nhu cầu của khách hàng và có giá thành hợp lý sẽ đƣợc khách hàng chấp nhận. Để sản phẩm dịch vụ đƣợc khách hàng chấp nhận thì buộc các ngân hàng phải nghiên cứu thị trƣờng, tìm ra nhu cầu của khách hàng. Kết quả của việc nghiên cứu thị trƣờng còn là căn cứ để các ngân hàng có phƣơng hƣớng phát triển tốt trong mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế để từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng. Nghiên cứu thị trƣờng đƣợc thực hiện bằng nhiều cách, có thể nghiên cứu tại bàn với các thông tin từ sách báo, tạp chí, truyền hình, interner... có thể nghiên cứu thực tế bằng các bảng điều tra phát cho khách hàng từ đó tìm ra nhu cầu của khách hàng để tiến hành phát triển dịch vụ. - Xây dựng chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng. Từ kết quả của việc nghiên cứu thị trƣờng sẽ xây dựng chiến lƣợc phát triển dịch vụ phù hợp nhất nhằm xác định mục tiêu phát triển dịch vụ, định hƣớng cho việc hình thành ý tƣởng và xác định nội dung dịch vụ mới. - Tiến hành phân tích, so sánh sản phẩm của mình với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh. 18 Phân tích sản phẩm của đối thủ cạnh tranh rút ra ƣu khuyết điểm từ đó có đƣợc những thông tin quan trọng đề ra các giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của mình. Đồng thời có đƣợc thông tin quan trọng để dần hoàn thiện sản phẩm dịch vụ mới. - Hình thành ý tưởng phát triển dịch vụ ngân hàng. Ý tƣởng phát triển dịch vụ ngân hàng có thể xuất phát trong quá trình phục vụ khách hàng của các nhân viên, tiếp xúc với khách hàng, hoặc từ kết quả của việc khảo sát thực tế. Đây là bƣớc tiền đề cho việc phát triển sản phẩm dịch vụ mới. - Đánh giá và lựa chọn ý tưởng phát triển dịch vụ ngân hàng. Sau khi hình thành các ý tƣởng, cần phân loại, sắp xếp, rồi đánh giá và xếp hạng theo những tiêu chuẩn nhất định của ngân hàng nhằm lựa chọn đƣợc ý tƣởng khả thi nhất, đáp ứng đƣợc nhu cầu của khách hàng đồng thời phải phù hợp với điều kiện phát triển của ngân hàng, - Triển khai và kiểm định sản phẩm dịch vụ mới. Triển khai và kiểm định sản phẩm dịch vụ mới là công đoạn cuối cùng trƣớc khi tung sản phẩm ra thị trƣờng. Sản phẩm sẽ đƣợc thử nhiệm trên một nhóm khách hàng, một khu vực trong một khoảng thời gian nhất định để xem xét phản ứng, rút ra những thong tin quan trọng về mức độ hài long của khách hàng. Từ đó ngân hàng sẽ tiến hành điều chỉnh lại sao cho phù hợp nhất trƣớc khi tung sản phẩm ra thị trƣờng. - Thực hiện cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng ra thị trường. Sau khi kiểm định sản phẩm, ngân hàng sẽ tiến hành cung cấp sản phẩm ra thị trƣờng bằng việc lựa chọn thời gian địa điểm... đồng thời tiến hành các hoạt động maketing cho sản phẩm mới, đảm bảo việc cung cấp sản phẩm ra thị trƣờng một cách thành công và đƣợc sự ủng hộ của khách hàng. 19 1.3.3. Các nhân tố tác động đến khả năng phát triển dịch vụ ngân hàng của các NHTM 1.3.3.1. Các nhân tố khách quan ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ ngân hàng - Môi trường chính trị. Sự ổn định về chính trị của một quốc gia có ảnh hƣởng đến tất cả các ngành nghề kinh tế của quốc gia đó. Dịch vụ ngân hàng cũng chịu sự ảnh hƣởng từ sự ổn định của hệ thống pháp quyền. Một quốc gia có nền chính trị ổn định vững bền sẽ là một ƣu điểm để thu hút đầu tƣ. Nhà nƣớc sẽ có những chính sách tốt để phát triển kinh tế, tăng cƣờng hợp tác tạo ra nhiều cơ hội hơn cho các doanh nghiệp. Ngƣợc lại nếu quốc gia đó có sự bất ổn về chính trị thì sẽ gây cản trở cho sự phát triển kinh tế nói chung và sự phát triển dịch vụ ngân hàng nói riêng. - Môi trường kinh tế. Môi trƣờng kinh tế của một quốc gia cho biết quy mô thị trƣờng, nhu cầu và mong muốn của ngƣời tiêu dùng, khả năng tiêu thụ của thị trƣờng thông qua những thông tin về thu nhập của ngƣời dân. Sự phát triển của dịch vụ ngân hàng phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế. Một nền kinh tế phát triển và ổn định sẽ tạo rất nhiều thuận lợi cho việc phát triển dịch vụ ngân hàng. - Môi trường pháp lý. Pháp luật có vai trò rất quan trọng đối với mỗi quốc gia. Đó là công cụ để điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội. Là một bộ phận trong xã hội, hoạt động ngân hàng không nằm ngoài quy luật đó. Hơn nữa, hoạt động ngân hàng mang tính đặc thù, nên xây dựng pháp luật về ngân hàng phải đƣợc quan tâm đúng mức. Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam pháp luật về ngân hàng vẫn còn rƣờm rà, còn nhiều thiếu sót, chƣa phù hợp với các chuẩn mực quốc tế do đó nó có thể kìm hãm sự phát triển của dịch vụ ngân hàng. 20
- Xem thêm -