Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại ngân hàng ngoại thương hà tỉnh

  • Số trang: 69 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 14 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

1 Chuyên đề thực tập chính Khoa: Ngân hàng - Tài DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT NHTM : Ngân hàng thương mại NHTM Nhà nước : Ngân hàng thương mại Nhà nước NHNT Việt Nam : Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam NHNT Hà Tĩnh : Ngân hàng Ngoại Thương Hà Tĩnh NHTM Cổ phần : Ngân hàng thương mại Cổ phần NHBL : Ngân hàng bán lẻ CNTT : Công nghệ thông tin SV: Nguyễn Xuân Dũng Lớp: Tài chính công 46 Chuyên đề thực tập chính 2 Khoa: Ngân hàng - Tài DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU Biểu 1: Tỷ trọng về doanh thu và lợi nhuận của dịch vụ ngân hàng bán lẻ mà các NHTM quốc doanh Biểu2 : Tỷ trọng về doanh thu và lợi nhuận của dịch vụ ngân hàng bán lẻ của các NHTM cổ phần Biểu 3: Tổng nguồn vốn huy động Biểu 4: Phân loại nguồn vốn huy động theo thời gian Biểu 5: Báo cáo công tác kho quỹ năm 2007 Biểu 6: Bảng báo cáo doanh số cho vay Biểu 7: Bảng sao kê hợp đồng tín dụng chưa thu nợ đến ngày 31/12/2007 Biểu 8: Doanh số thu hồi nợ Biểu 9: Bảng sao kê chi tiết lãi chưa thu, chưa trả (ngày 31/12/2007) SV: Nguyễn Xuân Dũng Lớp: Tài chính công 46 Chuyên đề thực tập chính 3 Khoa: Ngân hàng - Tài LỜI MỞ ĐẦU Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra cho hệ thống tài chính nói chung, hệ thống ngân hàng Việt Nam nói riêng những thách thức lớn. Việc hội nhập vào cồng đồng tài chính quốc tế là một tiền đề quan trọng tạo ra thuận lợi cho các hoạt động của ngân hàng và quá trình đổi mới của ngân hàng. Hà Tĩnh là một tỉnh có nền kinh tế chưa phát triển, ở đây chỉ có các NHTM nhà nước hoạt động nên vấn đề cạnh tranh thật sự gay gắt. Tuy nhiên, các ngân hàng trên địa bàn đang hoạt động theo hình thức truyền thống đó là cho vay để kinh doanh sản xuất là chính. Việc cạnh tranh của các NHTM nhà nước chủ yếu là những cuộc đua lãi suất huy động và lãi suất cho vay nên đối tượng khách hàng không được ổn định. Tuy là một địa bàn kinh tế nhỏ nhưng trong những năm qua kinh tế Hà Tĩnh cũng có những nét biến đổi lớn, tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng cao, thu nhập bình quân đầu người tăng do đó các doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng với người dân trên địa bàn cũng rất cần các ngân hàng đáp ứng những dịch vụ ngân hàng cao cấp. Hiện nay ngân hàng thương mại cổ phần phát triển rất mạnh, dịch vụ ngân hàng rất phong phú. Theo khảo sát thì sắp tới các ngân hàng này sẻ mở chi nhánh tại địa bàn Hà Tĩnh để tăng thị phần trong nước. Theo xu thế phát triển hiện nay cũng như khả năng cạnh tranh của các ngân hàng, việc phát triển các dịch vụ ngân hàng bán lẻ sẽ tạo ra một sân chơi mới giúp cho NHNT Hà Tĩnh không những đứng vững trên thị trường Hà Tĩnh mà còn chiếm lại được thị phần trên địa bàn. Thị trường dịch vụ ngân hàng bán lẻ đang là thị trường hiện hữu và sinh lời chứ không còn chỉ ở dạng tiềm năng. Đặc biệt với sự đầu tư khá mạnh cho công nghệ từ năm 2002 của các ngân hàng, thị trường này sẽ bùng phát trong những năm tới, hứa hẹn những cuộc cạnh tranh sôi động giữa các tổ chức dịch SV: Nguyễn Xuân Dũng Lớp: Tài chính công 46 Chuyên đề thực tập chính 4 Khoa: Ngân hàng - Tài vụ tài chính. Nhưng việc phân biệt giữa dịch vụ ngân hàng bán buôn và bán lẻ của các ngân hàng còn chung chung. Ngoài ra, Hà Tĩnh là thị trường mà các dịch vụ ngân hàng bán lẻ còn rất nhiều tiềm năng phát triển, thị trường dịch vụ ngân hàng bán lẻ sẽ là một chiến tuyến mới. Việc đánh giá thực trạng, đề xuất các giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ là vấn đề cấp thiết đối với NHNT Hà Tĩnh. Vì vậy, đề tài "Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng ngoại thương Hà Tỉnh" ra đời nhằm đáp ứng được kỳ vọng trên. Bài viết gồm có 3 chương: Chương 1: Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại NHNT Hà Tĩnh Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại NHNT Hà Tĩnh Do thời gian thực tập tại Ngân hàng và trình độ của sinh viên còn hạn chế nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong sự hướng dẫn, góp ý của các thầy cô. SV: Nguyễn Xuân Dũng SV: Nguyễn Xuân Dũng Lớp: Tài chính công 46 Chuyên đề thực tập chính 5 Khoa: Ngân hàng - Tài CHƯƠNG 1 - PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Ngân hàng thương mại 1.1.1. Khái niệm, đặc điểm về ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là gì?. Ngân hàng thương mại (NHTM) là một trong những doanh nghiệp lâu đời, đặc biệt và phức tạp nhất trong nền kinh tế, có lẽ vì thế mà cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về ngân hàng. Tuỳ từng quốc gia và mỗi thời kỳ khác nhau về ngân hàng. Tuy nhiên dù được định nghĩa theo cách nào thì xét về bản chất, Ngân hàng thương mại là một loại hình trung gian tài chính đứng giữa người đi vay và người cho vay, hoạt động cơ bản của nó là đi vay để cho vay. Cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét ngân hàng trên phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp:"Ngân hàng là các tổ chức trung gian tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế". Theo Luật Các tổ chức tín dụng của nước Cộng hoà xã hôi chủ nghĩa Việt Nam ghi: "Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán". Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế. Các Ngân hàng có thể được định nghĩa theo chức năng, các dịch vụ cụ thể hoặc vai trò mà chúng có thể thực hiện trong nền kinh tế. Vấn đề ở chỗ các yếu tố trên đang không ngừng thay đổi, thực tế có rất nhiều các Tổ chức Tài chính – SV: Nguyễn Xuân Dũng Lớp: Tài chính công 46 Chuyên đề thực tập chính 6 Khoa: Ngân hàng - Tài bao gồm cả các Công ty chứng khoán, các Công ty môi giới chứng khoán, quỹ hỗ trợ và các công ty bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ ngân hàng. Ngược lại, ngân hàng cũng đang mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ về bất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tư quỹ hỗ trợ và thực hiện nhiều dịch vụ mới khác. Ngân hàng là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền kinh tế. Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các Doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế – Xã hội đều gửi tiền tại Ngân hàng. Ngân hàng đóng vai trò là thủ quỹ trong toàn xã hội. Thu nhập từ Ngân hàng là thu nhập quan trọng trong nhiều gia đình. Ngân hàng là tổ chức cho vay chủ yếu với các Doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình và một phần đối với Nhà nước (thành phố, tỉnh…). Đối với các Doanh nghiệp, Ngân hàng thường là tổ chức cấp tín dụng để phục vụ cho việc mua bán hàng hoá dự trữ hoặc xây dựng nhà máy, mua sắm trang thiết bị. Khi Doanh nghiệp và người tiêu dùng phải thanh toán các khoản mua hàng hoá và dịch vụ, họ thường sử dụng séc, uỷ nhiệm chi, thẻ tín dụng hay tài khoản điện tử.v.v… và khi họ cần thông tin tài chính hay lập kế hoạch tài chính, họ thường tới Ngân hàng để được nhận lời tư vấn. Các khoản tín dụng của Ngân hàng cho chính phủ (thông qua chứng khoán Chính phủ) là nguồn Tài chính quan trọng để đầu tư, phát triển. Ngân hàng thực hiện các chính sách kinh tế, đặc biệt là các chính sách tiền tệ, vì vậy là công cụ quan trọng trong chính sách kinh tế của Chính phủ nhằm phát triển kinh tế bền vững. Do đó, cần phải nghiên cứu và hiểu một cách cặn kẽ về loại hình tổ chức này để có thể vận hành và quản lý một cách có hiệu quả. 1.1.2. Các dịch vụ cơ bản của ngân hàng thương mại Ngân hàng là một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho công chúng và doanh nghiệp. Thành công của ngân hàng phụ thuộc vào năng lực xác định SV: Nguyễn Xuân Dũng Lớp: Tài chính công 46 Chuyên đề thực tập chính 7 Khoa: Ngân hàng - Tài các dịch vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu, thực hiện các dịch vụ đó một cách có hiệu quả. 1.1.2.1. Kinh doanh ngoại tệ Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi (mua bán) ngoại tệ - một ngân hàng đứng ra mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ. Trong thị trường tài chính ngày nay, mua bán ngoại tệ được thực hiện ở hầu hết tất cả các ngân hàng để phục vụ cho vấn đề kinh tế đối ngoại. Trên thị trường chủ yếu mua bán những ngoại tệ mạnh như: USD, EUR, GBP, HKD, JPY...Hoạt động kinh doanh liên quan đến ngoại tệ thường gặp phải tình trạng có thể bị tổn thất vốn do biến động tỷ giá gọi là rủi ro hối đoán. Để hạn chế rủi ro, các ngân hàng thường đưa ra các giải pháp nghiệp vụ như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng hoán đổi, hợp đồng quyền lựa chọn, hợp đồng bảo đảm. 1.1.2.2. Cho vay - Cho vay thương mại: Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với những người bán (người bán chuyển các khoản phải thu cho ngân hàng để lấy tiền trước). Sau đó là bước chuyển tiếp từ chiết khấu thương phiếu sang cho vay trược tiếp đối với các khách hàng (là khách mua), giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh. - Cho vay tiêu dùng: Trong giai đoạn đầu hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng rủi ro vỡ nợ tương đối cao. Sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho vay đã buộc các ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng như là một khách hàng tiềm năng. Tín dụng tiêu dùng đã SV: Nguyễn Xuân Dũng Lớp: Tài chính công 46 Chuyên đề thực tập chính 8 Khoa: Ngân hàng - Tài trở thành một trong những loại hình tín dụng tăng trưởng nhanh nhất ở các nước có nền kinh tế phát triển. - Tài trợ cho dự án: Bên cạnh cho vay truyền thống là cho vay ngắn hạn, các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho xây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong các ngành công nghệ cao. Mặc dừ rủi ro trong loại hình tín dụng này nói chung là cao song lãi lại lớn. Một số ngân hàng còn cho vay để đầu tư vào bất động sản. 1.1.2.3. Nhận tiền gửi Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã tìm mọi cách để huy động được tiền. Một trong những nguồn quan trọng là các khoản tiền gửi (thanh toán và tiết kiệm của khách hàng). Ngân hàng mở rộng dịch vụ nhận tiền gửi để bảo quản hộ người có tiền và cam kết trả đúng hạn. Trong cuộc cạnh tranh để tìm và giành được các khoản tiền gửi, các ngân hàng đã trả lãi cho tiền gửi như là phần thưởng cho khách hàng về việc hy sinh nhu cầu tiêu dùng trước mắt và cho phép ngân hàng sử dụng tạm thời để kinh doanh. Việc chạy đua lãi suất của các ngân hàng để thu hút được lượng khách hàng lớn gửi tiền đang tăng dần lên. Việc phân biệt giữa ngân hàng thương mại nhà nước với ngân hàng cổ phần đã làm cho sự phân biệt lãi suất này rất lớn trong thị trường. 1.1.2.4. Bảo quản vật có giá Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho khách hàng trong kho bảo quản. Ngân hàng giữ vàng và giao cho khách hàng tờ biên nhận (giấy chứng nhận do ngân hàng phát hành). Do khả năng chi trả bất cứ lúc nào cho giấy chứng nhận, nên giấy chứng nhận đã được sử dụng như tiền - dùng để thanh toán các khoản nợ trong phạm vi ảnh hưởng của ngân hàng phát hành. Lợi ích của việc sử dụng phương tiện thanh toán bằng SV: Nguyễn Xuân Dũng Lớp: Tài chính công 46 Chuyên đề thực tập chính 9 Khoa: Ngân hàng - Tài giấy thay cho bằng kim loại đã khuyến khích khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để đổi lấy giấy chứng nhận của ngân hàng. Đó là hình thức đầu tiên của giấy bạc ngân hàng. Ngày nay, vật có giá được tách khỏi tiền gửi và khách hàng phải trả phí bảo quản. 1.1.2.5. Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán Khi các cá nhân gửi tiền vào ngân hàng, họ nhận thấy ngân hàng không chỉ bảo quản mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng của họ. Thanh toán quan ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền không cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách (còn được gọi là séc), khách hàng mang giấy đến ngân hàng sẽ nhận được tiền. Các tiện ích của thanh toán qua ngân hàng được mở rộng phạm ci, càng tạo nhiều tiện ích cho các cá nhân. Điều này đã khuyến khích các cá nhân gửi tiền vào ngân hàng để nhờ ngân hàng thanh toán hộ. Như vậy, một dịch vụ mới, quan trọng nhất được phát triển đó là tài khoản tiền gửi giao dịch (demand deposit), cho phép người gửi tiền viết séc thanh toán cho việc mua hàng hoá và dịch vụ. Việc đưa ra loại tài khoản tiền gửi mới này được xem là một trong những bước đi quan trọng nhất trong công nghiệp ngân hàng. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, nhiều thể thức thanh toán được phát triển như uỷ nhiệm chi, nhờ thu, L/C, thanh toán bằng điện thoại, thẻ... 1.1.2.6. Quản lý ngân quỹ Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp và nhiều cá nhân. Nhờ đó, ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều khách hàng. Do có kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu ngân, nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách dịch vụ quản lý ngân quỹ, trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu và chi cho một công ty SV: Nguyễn Xuân Dũng Lớp: Tài chính công 46 Chuyên đề thực tập chính 10 Khoa: Ngân hàng - Tài và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán. Việc quản lý ngân quỹ tuy không thu được lợi nhuận trước mắt về lãi suất hay phí dịch vụ mà có tác động sâu đến tình hình huy động vốn của ngân hàng. Việc lập nhiều tài khoản cho khách hàng sẽ có tỷ lệ thuận với lượng tiền gửi vào của khách hàng để lại trong ngân hàng. Từ đó việc quản lý việc thu nợ, hay kiểm soát được đối tượng khách hàng sẽ được thực hiện dễ dàng và có hiệu quả lớn hơn. Ngoài ra, việc quản lý ngân quỹ sẽ giúp cho ngân hàng nắm bắt được tình hình tài chính của khách hàng từ đó sẽ giúp cho ngân hàng phân loại khách hàng và đưa ra những dịch vụ phù hợp với khách hàng khi khách hàng cần thiết. Ngân hàng có thể tư vấn cho khách hàng những cách thức đầu tư hay tiêu dùng mà khách hàng đang hướng tới. Việc quản lý ngân quỹ cũng giúp cho ngân hàng chiếm lĩnh được thị trường, đó là việc rất quan trọng để ngân hàng cung cấp các dịch vụ phù hợp và có hiệu quả cao trong nền kinh tế. 1.1.2.7. Tài trợ các hoạt động của chính phủ Khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã trở thành trọng tâm chú ý của các chính phủ. Do nhu cầu chi tiêu lớn và thường là cấp bách trong khi thu không đủ, chính phủ các nước đều muốn tiếp cận với các khoản cho vay của ngân hàng. Trong điều kiện các ngân hàng tư nhân không muốn tài trợ cho chính phủ vì rủi ro cao, chính phủ thường dùng một số đặc quyền trao đổi lấy các khoản vay của những ngân hàng lớn. Khi ngân hàng trung ương thành lập, chính phủ đều tìm cách tham dự, hoặc trực tiếp can thiệp để có được các khoản tín dụng lớn. Ngày nay, chính phủ dành quyền cấp phép hoạt động và kiểm soát các ngân hàng. Các ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với điều kiện là họ phải cam kết thực hiện với mức độ nào đó các chính sách của chính phủ và tài trợ cho chính phủ. Các ngân hàng phải mua trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc theo một tỷ lệ nhất định SV: Nguyễn Xuân Dũng Lớp: Tài chính công 46 Chuyên đề thực tập chính 11 Khoa: Ngân hàng - Tài trên tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được; hoặc phải cho vay với các điều kiện ưu đãi cho các doanh nghiệp của chính phủ nhưng trường hợp này đang dần hạn chế trong nền kinh tế thị trường. Việc tài trợ của các ngân hàng đối với chính phủ một mặt giúp nền kinh tế có chính sách tiền tệ dễ quản lý từ đó giúp chính phủ ra những quyết định cần thiết để điều chỉnh nền kinh tế. Mặt khác, việc tài trợ của các ngân hàng với chính phủ đó sẽ có tác động ngược trở lại nếu ngân hàng gặp khó khăn trong tài chính cũng như uy tín... 1.1.2.8. Bảo lãnh Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng rất lớn và do ngân hàng nắm giữ tiền gửi của các khách hàng, nên ngân hàng có uy tín trong bảo lãnh cho khách hàng. Trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo lãnh ngày càng đa dạng và phát triển mạnh. Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hoá và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác, bảo lãnh các công trình xây dựng...Do hình thức bảo lãnh này tuỳ thuộc vào nhu cầu của khách hàng nên nó rất đa dạng trong nền kinh tế. Ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh này sẽ được thu một khoản phí nhất định theo giá trị bảo lãnh. Đối tượng được bảo lãnh cũng phải có những điều kiện nhất định nhằm giảm tính rủi ro cho ngân hàng như: có lượng tiền gửi trong ngân hàng, có tài khoản giao dịch lớn tại ngân hàng, có tài sản đảm bảo khác... 1.1.2.9. Cho thuê thiết bị trung và dài hạn Nhằm để bán được các thiết bị, đặc biệt là các thiết bị có giá trị lớn, nhiều hãng sản xuất và thương mại đã cho thuê ( thay vì bán) các thiết bị. Cuối hợp đồng thuê, khách hàng có thể mua (do vậy còn gọi là hợp đồng thuê mua). Rất nhiều ngân hàng tích cực cho khách hàng kinh doanh quyền lựa chọn thuê các thiết bị, máy móc thiết bị cần thiết thông qua hợp đồng thuê SV: Nguyễn Xuân Dũng Lớp: Tài chính công 46 Chuyên đề thực tập chính 12 Khoa: Ngân hàng - Tài mua, trong đó ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê. Hợp đồng cho thuê thường phải đảm bảo yêu cầu khách hàng phải trả tới hơn 2/3 giá trị của tài sản cho thuê. Do vậy, cho thuê của ngân hàng cũng có nhiều điểm giống như cho vay, và được xếp vào tín dụng trung và dài hạn. 1.1.2.10. Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính, các ngân hàng có rất nhiều chuyên gia về quản lí tài chính. Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ ngân hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ. Dịch vụ uỷ thác phát triển sang cả uỷ thác vay hộ, uỷ thác cho vay hộ, uỷ thác phát hành, uỷ thác đầu tư...Thậm chí, các ngân hàng đóng vai trò là người được uỷ thác trong di chúc, quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời bằng cách công bố tài sản, bảo quản các tài sản có giá. Nhiều khách hàng còn coi ngân hàng như một chuyên gia tư vấn tài chính. Ngân hàng sẳn sàng tư vấn về đầu tư, về quản lý tài chính, về thành lập mua bán, sáp nhập doanh nghiệp. 1.1.2.11. Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán Nhiều ngân hàng đang phấn đấu cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho phép khách hàng thoả mãn mọi nhu cầu. Đây là một trong những lý do chính khiến các ngân hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến người kinh doanh chứng khoán. Các ngân hàng không những đầu tư chứng khoán ở trong nước mà còn đầu tư chứng khoán quốc tế. Vốn của các NHTM dùng để đầu tư chứng khoán quốc tế được thực hiện dưới các loại hình giao dịch: Mua chứng khoán, Hợp vốn mua chứng khoán, NHTM cầm cố chứng khoán khi cho các nhà môi giới chứng khoán vay. Trong một vài trường hợp, các ngân hàng tổ chức ra công ty chứng khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán. SV: Nguyễn Xuân Dũng Lớp: Tài chính công 46 Chuyên đề thực tập chính 13 Khoa: Ngân hàng - Tài 1.1.2.12. Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo hiểm cho khách hàng, điều đó đảm bảo việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng bị chết, bị tàn phế hay gặp rủi ro trong hoạt động, mất khả năng thanh toán. Việc khách hàng thực hiên các khoản vay tiêu dùng thường gặp rất nhiều rủi ro nên khi khách hàng đến vay thì điều kiện để ngân hàng cho vay là phải có bảo hiểm đối với tài sản cầm cố, thế chấp 1.1.2.13. Cung cấp các dịch vụ đại lý Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập chi nhánh hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi. Nhiều ngân hàng (thường ngân hàng lớn) cung cấp dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng khác như thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ... 1.2. Dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại ngân hàng thương mại 1.2.1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại ngân hàng thương mại Phân biệt giữa dịch vụ ngân hàng bán buôn, ngân hàng bán lẻ Trong hoạt động tín dụng, hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về bán buôn tín dụng. Thứ nhất, là cách hiểu truyền thống, bán buôn tín dụng là hình thức cho vay thông qua trung gian tài chính (các ngân hàng thương mại, các quỹ...), không cho vay trực tiếp đến người vay cuối cùng. Còn bán lẻ tín dụng được hiểu là hình thức cho vay trực tiếp đến người vay cuối cùng. Người vay cuối cùng ở đây không phân biệt theo quy mô lớn hay nhỏ mà chủ yếu được xác định là người vay trực tiếp sử dụng vốn vay đưa vào đầu tư, không thực hiện việc cho vay tiếp tới các đối tượng khác. SV: Nguyễn Xuân Dũng Lớp: Tài chính công 46 Chuyên đề thực tập chính 14 Khoa: Ngân hàng - Tài Thứ hai, bán buôn tín dụng là hình thức cho vay dành cho các doanh nghiệp lớn (kể cả ngân hàng thương mại khác). hoặc cho vay những khoản vay quy mô lớn. Trong khi đó, bán lẻ tín dụng được hiểu là cho vay dành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cho vay cá nhân. Thuật ngữ "ngân hàng bán lẻ" (NHBL)- có từ gốc tiếng Anh là "Retail banking". Theo nghĩa đen trong việc cung cấp các hàng hoá, dịch vụ bình thường, bán lẻ là bán trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng từng cái, từng ít một. Nó khác với bán buôn là bán cho người trung gian, cho nhà phân phối của hàng hoá đó. Trong lĩnh vực ngân hàng, định nghĩa về bán lẻ có hơi khác một chút. Theo các chuyên gia kinh tế của Học viện Công nghệ Châu Á - AIT thì NHBL là việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh, hoặc là việc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm, dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện công nghệ thông tin, điện tử viển thông. Theo định nghĩa trên, dịch vụ NHBL chỉ được thực hiện nhờ công nghệ thông tin (CNTT), cụ thể là: - CNTT là tiền đề quan trọng để lưu giữ và xử lý cơ sở dữ liệu tập trung, cho phép các giao dịch trực tuyến được thực hiện. - CNTT hỗ trợ triển khai các sản phẩm dịch vụ NHBL tiên tiến như chuyển tiền tự động, huy động vốn và cho vay dân cư dưới nhiều hình thức khác nhau. - Nhờ khả năng trao đổi thông tin tức thời, CNTT góp phần nâng cao hiệu quả của việc quản trị ngân hàng, tạo điều kiện thực hiện mô hình xử lý tập trung các giao dịch có tính chất phân tán như: chuyển tiền, giao dịch thẻ, tiết giảm đáng kể chi phí giao dịch. SV: Nguyễn Xuân Dũng Lớp: Tài chính công 46 Chuyên đề thực tập chính 15 Khoa: Ngân hàng - Tài - CNTT có tác dụng tăng cường khả năng quản trị trong ngân hàng, hệ thống quản trị tập trung sẽ cho phép khai thác dữ liệu một cách nhất quán, nhanh chóng, chính xác. Trong cuốn Từ điển Ngân hàng và Tin học thì Retail banking - hoạt động ngân hàng bán lẻ/ nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ/ dịch vụ ngân hàng bán lẻ - là dịch vụ ngân hàng dành cho quảng đại quần chúng, thường là một mhóm các dich vụ tài chính gồm cho vay trả dần, vay thế chấp, tín dụng chứng khoán, nhận tiền gửi và các tài khoản cá nhân. Theo Ngân hàng thương mại - Quản trị và nghiệp vụ thì thuật ngữ " ngân hàng bán lẻ" được đề cập tới như: là một loại hình ngân hàng chia theo tính chất hoạt động mà loại hình đó chủ yếu cung cấp các dịch vụ trực tiếp cho doanh nghiệp, hộ gia đình và các cá nhân với các khoản tín dụng nhỏ. Tuy nhiên, nếu trên cơ sở xem xét, tiếp thu có chọn lọc để có sự hiểu biết phù hợp với thông lệ chung hiện nay, có thể hiểu thống nhất khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ ( Retail banking) là việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh, hoặc là việc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm, dịch vụ ngân hàng thông qua ccác dịch vụ ngân hàng được thực hiện với các khách hàng là công chúng, thường có quy mô nhỏ và thông qua các chi nhánh, nhằm đối lập với dịch vụ ngân hàng bán buôn (wholesale banking) là dịch vụ ngân hàng dành cho các định chế tài chính và những dịch vụ ngân hàng được cung ứng với số lượng lớn. Từ giác độ kinh tế - xã hội, dịch vụ NHBL có tác dụng đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền tệ, tận dụng tiềm năng to lớn về vốn để phát triển kinh tế, đồng thời giúp cải thiện đời sống dân cư, hạn chế thanh toán tiền mặt, góp SV: Nguyễn Xuân Dũng Lớp: Tài chính công 46 Chuyên đề thực tập chính 16 Khoa: Ngân hàng - Tài phần tiết kiệm chi phí và thời gian cho cả ngân hàng và khách hàng, cải thiện môi trường tiêu dùng, xây dựng nền văn minh thanh toán. Xét trên giác độ tài chính và quản trị ngân hàng, NHBL mang lại nguồn thu ổn định, chắc chắn, hạn chế rủi ro tạo bởi các nhân tố bên ngoài vì đây là lĩnh vực ít chịu ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế. Đồng thời hệ thống NHBL sẽ tạo ra những tiện ích mới trong quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Tạo nền tảng hạ tâng cơ sở cho phát triển và ứng dụng công nghệ ngân hàng, quản lý tập trung và xử lý dữ liệu trực tuyến. Nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng. Ngoài ra, NHBL giữ vai trò quan trọng trong việc mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo nguồn vốn trung và dài hạn chủ đạo cho ngân hàng, góp phần đa dạng hoá hoạt động ngân hàng. Đối với khách hàng dịch vụ NHBL đem đến sự thuận tiện, an toàn, tiết kiệm chi phí cho khách hàng trong quá trình thanh toán và sử dụng nguồn thu nhập của mình. Trong các nền kinh tế đang phát triển trên toàn thế giới kể từ đầu thế kỷ 21, cho vay bán lẻ đang vọt lên trước và dẫn dắt cả ngành ngân hàng bùng nổ. Nhóm các nước BRIC – bao gồm Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc…có mức cho vay cá nhân để mua nhà, xe hơi và các sản phẩm tiêu dùng khác tăng gấp ba lần, từ 145 tỷ USD năm 2001 lên 477 tỷ USD năm 2005. Con số này tuy vậy vẩn còn nhỏ bé nếu so với cho vay tiêu dùng trong các nền kinh tế đã chín muồi. Riêng ở Đức đã đạt đến gần 1700 tỷ USD năm 2005. Cho vay bán lẻ của các nước BRIC đã tăng ở gần mức 40% trung bình hàng năm. Ở Đức và Mỹ, cho vay thế chấp và cho vay tiêu dùng tương ứng bằng 62% và 99% GDP của quốc gia. Tạp chí Stephen Timewell cũng nhận định: xu hướng ngày nay thể hiện rõ rằng, ngân hàng nào nắm được cơ hội mở rộng việc cung cấp dịch vụ SV: Nguyễn Xuân Dũng Lớp: Tài chính công 46 Chuyên đề thực tập chính 17 Khoa: Ngân hàng - Tài NHBL cho một lượng dân cư khổng lồ đang “đói” các dịch vụ tài chính tại các nền kinh tế mới nổi, sẽ trở thành những gã khổng lồ toàn cầu trong tương lai. Ngày nay, đang đánh dấu sự khởi đầu của một cuộc cách mạng dịch vụ ngân hàng bán lẻ, nhờ đó một lượng lớn dân cư chưa được biết đến các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, trong tương lai sẽ được tham gia vào lĩnh vực này. Cuộc cách mạng NHBL bao gồm sự nắm bắt các cơ hội có được từ các thị trường mới cũng như từ việc sử dụng sáng tạo hệ thống và công nghệ để phân phối các sản phẩm mới tới các khách hàng truyền thống cũng như khách hàng mới. Hoạt động NHBL ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động của các NHTM thế giới, các NHBL toàn cầu sẽ đóng vai trò chủ đạo trong danh sách 20 ngân hàng toàn cầu hàng đầu theo xếp hạng của tạp chí The Banker vào năm 2015 Các NHTM Việt Nam đã và đang phát triển dịch vụ NHBL, đây là xu thế tất yếu, phù hợp với xu hướng chung của các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới, phục vụ đối tượng khách hàng cá nhân và hộ kinh doanh nhỏ, đảm bảo cho các ngân hàng quản lý rủi ro hữu hiệu, cung ứng dịch vụ chất lượng cao cho khách hàng định hướng kinh doanh thị trường sản phẩm mục tiêu, giúp ngân hàng đạt hiệu quả kinh doanh tối ưu. Theo tính toán cho thấy, tỷ trọng doanh thu và lợi nhuận của dịch vụ NHBL mà các NHTM quốc doanh tạo ra trong năm gần đây có sự phát triển vượt bậc. SV: Nguyễn Xuân Dũng Lớp: Tài chính công 46 Chuyên đề thực tập chính 18 Khoa: Ngân hàng - Tài Biểu 1: Tỷ trọng về doanh thu và lợi nhuận của dịch vụ ngân hàng bán lẻ mà các NHTM quốc doanh Đơn vị tính: % Nội dung Doanh thu từ dịch vụ NHBL/Tổng doanh thu Lợi nhuận từ dịch vụ NHBL/Tổng lợi nhuận (trước thuế) 2000 35,5 26,75 2005 45,8 35,4 (Nguồn: Tổng hợp từ các Báo cáo thường niên của các NHTM) Mặc dù các NHTM quốc doanh đã chú trọng nhiều đến phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ nhưng tỷ trọng của khối ngân hàng bán lẻ vẩn chưa thực sự cao trong tổng doanh thu của các NHTM quốc doanh. Lợi nhuận từ dịch vụ ngân hàng bán lẻ cũng đã tăng lên theo doanh thu nhưng cũng chưa thực sự chiếm tỷ trọng cao trong tổng lợi nhuận. Điều này có thể lý giải theo hai nguyên nhân sau: Thứ nhất, các NHTM quốc doanh chưa thực sự chú trọng phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ trong các dịch vụ của mình. Thứ hai, do các NHTM quốc doanh sử dụng một bộ máy khá cồng kềnh dẩn đến chi phí cao. Biểu2 : Tỷ trọng về doanh thu và lợi nhuận của dịch vụ ngân hàng bán lẻ của các NHTM cổ phần Đơn vị tính: % Nội dung Doanh thu từ dịch vụ NHBL/Tổng doanh thu Lợi nhuận từ dịch vụ NHBL/Tổng lợi nhuận (trước thuế) 2000 65,5 58,6 2005 82,8 79,3 (Nguồn: Tổng hợp từ các Báo cáo thường niên của các NHTM) Các NHTM cổ phần thực sự chú trọng đến dịch vụ NHBL với những con số ấn tượng hơn rất nhiều so với các NHTM quốc doanh. Để có được kết quả như vậy do các NHTM cổ phần xác định được đúng thực lực của mình cũng SV: Nguyễn Xuân Dũng Lớp: Tài chính công 46 Chuyên đề thực tập chính 19 Khoa: Ngân hàng - Tài như tiềm năng phát triển của khối khách hàng cá nhân cả trong hiện tại và trong tương lai. Tại Việt Nam, kinh tế tăng trưởng liên tục, môi trường pháp lý hoàn thiện dần, nhu cầu xã hội ngày càng tăng, thị trường dịch vụ NHBL còn nhiều tiềm năng phát triển. 1.2.2 Nội dung của dịch vụ ngân hàng bán lẻ Xác định khách hàng và nhu cầu của khách hàng qua việc tìm hiểu kẽ hở thị trường, từ đó xây dựng mối liên kết và cơ chế tạo thuận lợi cho giao dịch tài chính. Việc tìm tòi những thị trường chưa khai phá là điều quan trọng, bao gồm khách hàng, loại sản phẩm mà họ cần và kênh phân phối. Vì vậy, với những thị trường mới nổi hoặc đang phát triển, khi mà người dân chưa được làm quen nhiều với các dịch vụ ngân hàng thì tiềm năng của thị trường bán lẻ là vô cùng lớn. Nhưng đó cũng là hạn chế cũng không nhỏ vì chi phí để xây dựng được khách hàng tham gia các dịch vụ của mình cũng rất lớn. Kết hợp thương mại với tài chính, các hoạt động tài chính với nhau trong mối liên hệ chung, chú trọng vào các mối liên kết mới như ngân hàng - bảo hiểm, ngân hàng - chứng khoán...Dịch vụ ngân hàng bán lẻ bao gồm nhiều loại hình như: Dịch vụ tín dụng bán lẻ, dịch vụ cho vay tiêu dùng, cho vay cá nhân (cho vay du học, cho vay mua ôtô, cho vay mua nhà trả góp, tài trợ dự án chuyên biệt, gửi tiền...), cho vay cầm cố, thế chấp, cho vay hộ gia đình. Đây là mối quan tâm to lớn của các nước phát triển về mở rộng thị trường bán lẻ. Dịch vụ phi tín dụng, dịch vụ bảo hiểm, phonebanking, ngân hàng điện tử...Dịch vụ thanh toán, tài khoản séc, tài chính vi mô. Hoạt động đầu tư: quỹ tương hỗ, quản lý tài chính đầu tư, các sản phẩm phát sinh, dịch vụ tài chính doanh nghiệp, tái cấu trúc và mua bán doanh nghiệp, kinh doanh ngoại SV: Nguyễn Xuân Dũng Lớp: Tài chính công 46 Chuyên đề thực tập chính 20 Khoa: Ngân hàng - Tài tệ...Với cách hiểu như vậy, dịch vụ NHBL bao trùm nhiều lĩnh vực đối với nhiều đối tượng. Xây dựng kênh phân phối là mối quan tâm lớn của dịch vụ ngân hàng bán lẻ, mà đặc trưng là sử dụng hệ thống công nghệ thông qua các phương tiện, các kênh phân phối. Các NHTM đang thực hiện thử nghiệm các kỹ năng phân phối đa kênh trong triển khai dịch vụ ngân hàng bán lẻ. Việc phát triển kênh phân phối sẽ gặp rất nhiều khó khăn vì nó liên quan đến nhiều vấn đề chính như chi phí, con người, phong tục tập quán của từng vùng từng địa phương... Xây dựng kênh phân phối được thực hiện khi việc khảo sát thị trường đã đáp ứng các tiêu chí trên, từ đó đưa ra được kênh phân phối phù hợp chính xác cho từng địa điểm. Việc đưa ra các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng phải đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của doanh nghiệp và cá nhân trên địa bàn. Các sản phẩm, dịch vụ phải có tính cạnh tranh cao so với các ngân hàng khác nên phải có chi phí hợp lý, thời gian thực hiện ngắn. Như vậy, dịch vụ NHBL bao gồm ba lĩnh vực chính: thị trường, các kênh phân phối, dịch vụ và đáp ứng dịch vụ. 1.2.3 Ưu điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ Đem lại doanh thu cao, chắc chắn, ít rủi ro cho ngân hàng. Hoạt động bán buôn của NHTM lại có ưu thế về hoạt động trên các thị trường tài chính, đầu tư ngân hàng, từ đó đem lại doanh thu lớn, nhưng rủi ro cũng cao hơn. Trong nền kinh tế phát triển nhanh chóng như hiện nay, thu nhập cá nhân của nhiều người tăng cao từ đó mở ra các nhu cầu sử dụng những dịch vụ cao cấp của ngân hàng. Mặt khác, với nền kinh tế đang hạn chế dùng tiền mặt nên việc phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ sẽ thu hút nhiều đối tượng khách hàng. SV: Nguyễn Xuân Dũng Lớp: Tài chính công 46
- Xem thêm -