Phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng ngoài quốc doanh Việt Nam Hải Phòng

  • Số trang: 94 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 13 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27372 tài liệu

Mô tả:

Phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng ngoài quốc doanh Việt Nam VPBank chi nhánh Hải Phòng 0 LỜI CẢM ƠN Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo PGS.TS Lưu Thị Hương, người đã rất nhiệt tình tâm huyết hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tạo điều kiện cho em hoàn thành tốt chuyên đề thực tập này. Em cũng xin cảm ơn tất cả các thầy cô giáo của khoa Ngân hàng – Tài Chính và trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân đã dạy dỗ em trong bốn năm đại học. Lời cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn tới đơn vị thực tập ngân hàng VPBank chi nhánh Hải Phòng, giám đốc, trưởng phòng, các anh, chị phòng tín dụng đã giúp đỡ em trong quá trình hoàn thiện chuyên đề tốt nghiệp. Em xin chân thành cảm ơn! Vũ Thị Thu Huyền - Tài chính doanh nghiệp 48A - ĐHKTQD LỜI MỞ ĐẦU Có thể nói rằng trong những năm qua ngành ngân hàng có sự cạnh tranh vô cùng mạnh mẽ và quyết liệt. Không chỉ có sự cạnh tranh trong nội bộ ngành mà hiện nay các tổ chức tài chính khác như công ty tài chính, các công ty chứng khoán, các quỹ…đang không ngừng tạo ra những tiện ích mới cho khách hàng và cạnh tranh giành giật thị phần với ngân hàng và cũng ngày càng cố gắng thực hiện đầy đủ các dịch vụ khác của ngân hàng thương mại. Trong tình hình đó, ngành ngân hàng bắt buộc phải nghiên cứu và chuyển hướng sang những lĩnh vực hoạt động khác có thể mang lại lợi nhuận nhiều hơn cho ngân hàng. Theo đánh giá của các ngân hàng thương mại hiện nay thị trường cho vay tiêu dùng đang ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển và đang rất tiềm năng vì nền kinh tế Việt Nam đang tăng trưởng không ngừng và thu nhập của dân chúng cũng không ngừng tăng lên. Các ngân hàng thương mại đã dần thâm nhập vào thị trường này và cung cấp các sản phẩm dịch vụ khác nhau cho các cá nhân, hộ gia đình từ những tài sản giá trị lớn như bất động sản, ô tô đến tài sản nhỏ như máy giặt, ti vi, xe máy... Phát triển hoạt động này các ngân hàng không chỉ đáp ứng nhu cầu nâng cao mức sống của dân chúng mà ngân hàng cũng thu được nhiều lợi nhuận cho chính mình. Nhất là các ngân hàng thương mại cổ phần có quy mô trung bình và nhỏ thì phát triển hoạt động này là cần thiết hơn bao giờ hết vì cho vay đối với doanh nghiệp lớn và tập đoàn gần như được chiếm giữ hoàn toàn bởi các ngân hàng nhà nước hay các ngân hàng có quy mô lớn. Có thể thấy mấy năm gần đây thị trường cho vay tiêu dùng khá là sôi động. Ngân hàng ngoài quốc doanh VPBank – Hải Phòng cũng không nằm ngoài xu hướng của thị trường. Ngay từ những ngày đầu thành lập chi nhánh đã xác định phát triển cho vay tiêu dùng sẽ là hướng đi quan trọng trong tiến trình trở thành một ngân hàng bán lẻ hàng đầu. Mặc dù chi nhánh đã triển khai hoạt động cho vay tiêu dùng rất rầm rộ nhưng hiệu quả của hoạt động cho vay này vẫn chưa cao. Ngân hàng chưa đưa ra được nhiều chính sách và giải pháp để phát triển cho vay tiêu dùng. Xuất phát từ lý do đó mà đề tài: “Phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng ngoài quốc doanh Việt Nam VPBank – chi nhánh Hải Phòng” đã được chọn làm chuyên đề tốt nghiệp. Ngoài lời mở đầu và lời kết luận, kết cấu của chuyên đề gồm ba chương: Chương I. Cơ sở lý luận về cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại Chương II. Thực trạng cho vay tiêu dùng tại chi nhánh VPBank Hải Phòng Chương III. Giải pháp phát triển cho vay tiêu dùng tại chi nhánh VPBank Hải Phòng. Vũ Thị Thu Huyền - Tài chính doanh nghiệp 48A - ĐHKTQD Phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng ngoài quốc doanh Việt Nam VPBank chi nhánh Hải Phòng 1 CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1. HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1.1. Tổng quan về ngân hàng thương mại 1.1.1.1. Khái niệm và đặc trưng cơ bản của ngân hàng thương mại * Khái niệm ngân hàng thương mại Một nền kinh tế muốn tăng truởng cao, bền vững và lành mạnh thì một trong những điều kiện cần thiết là vốn phải được luân chuyển nhịp nhàng, mau lẹ từ những người tiết kiệm đến những nhà đầu tư sản xuất. Bởi vì không có đầu tư không có phát triển. Mà muốn có đầu tư thì trước hết phải có vốn tiết kiệm được chuyển từ những nguời dư thừa vốn sang những người đang rất thiếu vốn phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của mình. Ngân hàng thương mại là một trong những cầu nối quan trọng, với mạng lưới nhiều và rộng khắp, nó giúp luân chuyển vốn trong nền kinh tế mau lẹ hiệu quả, và không ngừng sinh lợi. Nhiều khi ngân hàng thương mại còn được coi như huyết mạnh, như trái tim của nền kinh tế. Theo luật các tổ chức tín dụng năm 1997 khoản 2 điều 20 nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có định nghĩa ngân hàng như sau: “ Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác”. Như vậy là trong khái niệm về ngân hàng có nhiều loại hình ngân hàng khác nhau nhưng tuy nhiên, ở đây chúng ta chỉ nghiên cứu về ngân hàng thương mại, một định chế tài chính hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận theo cơ chế thị trường, bị điều chỉnh bởi văn bản luật pháp một cách chặt chẽ. Qua những gì đã nghiên cứu và tìm hiểu về chức năng, hoạt động của ngân hàng thương mại thì khái niệm về ngân hàng thương mại có thể được hiểu một cách đơn giản như sau: ngân hàng thương mại là một định chế tài chính có chức năng hoạt động chính là huy động tiền gửi để cho vay và thực hiện chức năng thanh toán trong nền kinh tế. Ngày nay cùng với quá trình phát triển kinh tế, các ngân hàng thương mại có thể nói đã có bước phát triển rất nhanh. Các hình thức huy động và cho vay thì ngày càng phong phú. Công nghệ đang góp phần làm thay đổi các hoạt Vũ Thị Thu Huyền - Tài chính doanh nghiệp 48A - ĐHKTQD Phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng ngoài quốc doanh Việt Nam VPBank chi nhánh Hải Phòng 2 động cơ bản của ngân hàng. Thanh toán điện tử thay cho thanh toán thủ công, đẩy nhanh tốc độ, tính thuận tiện, an toàn trong thanh toán...và điều đó cũng tạo điều kiện cho nền kinh tế ngày càng phát triển cao hơn, nhanh hơn nữa. * Đặc trưng cơ bản của ngân hàng thương mại Đầu tiên phải khẳng định rằng, ngân hàng là một doanh nghiệp đặc biệt, doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ. Tiền tệ luân chuyển và sinh lợi với ngân hàng thương mại một cách nhánh chóng và sinh động. Nó hoạt động với nguyên tắc chính huy động tiền gửi của cá nhân, tổ chức để cho vay, nguồn vốn huy động của nó lớn hơn rất nhiều lần so với vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Do vậy mà không chỉ ở Việt Nam hiện nay mà ở các quốc gia khác hoạt động của các ngân hàng được quản lý rất nghiêm ngặt. Các quy chế hoạt động của ngân hàng thuờng là những quy chế riêng rất nghiêm ngặt và mang tính đặc thù. Bởi vì hoạt động kinh doanh của ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế và ảnh hưởng của nó mang tính chất dây chuyền, lây lan và sâu rộng. Ngân hàng hoạt động dưới sự chi phối lớn của luật pháp. Ngoài ra ngân hàng còn một số đặc trưng cơ bản khác như: - Ngân hàng là đối tượng và đồng thời là các trung gian chuyển tải chính sách tiền tệ: Thông qua hoạt động có tính đặc thù của mình, các ngân hàng đã thực hiện chức năng chuyển tải chính sách tiền tệ từ ngân hàng trung ương đến toàn bộ nền kinh tế. Các ngân hàng thương mại đã trở thành một kênh đặc biệt, thông qua đó mà ảnh hưởng của các chính sách tiền tệ lên toàn bộ nền kinh tế. - Phân bổ tín dụng: Một lý do làm cho các ngân hàng thương mại trở nên đặc biệt đó là vì các ngân hàng là nguồn chính để tài trợ, cung cấp tín dụng cho một số lĩnh vực nhất định được xác định là có nhu cầu đặc biệt về vốn. Ví dụ ở hầu hết các quốc gia, những nhà làm chính sách luôn xác định các lĩnh vực cần được trợ giúp về vốn, như đối với người nghèo, hoặc một số ngành nghề thuộc các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế… - Dịch vụ thanh toán: Dịch vụ thanh toán là đặc thù của ngân hàng, tính hiệu quả của những dịch vụ này đã đem lại lợi ích trực tiếp cho nền kinh tế. Chúng ta thấy rằng, bất kỳ một trục trặc nào trong hệ thống thanh toán của ngân hàng cũng đủ để gây sự bế tắc và thiệt hại cho nền kinh tế. 1.1.1.2. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại Ngân hàng là một doanh nghiệp đặc biệt cung cấp rất nhiều các dịch vụ tiện ích cho doanh ngiệp và công chúng. Chúng ta có thể hiểu và khái quát thông qua Vũ Thị Thu Huyền - Tài chính doanh nghiệp 48A - ĐHKTQD Phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng ngoài quốc doanh Việt Nam VPBank chi nhánh Hải Phòng 3 một số lĩnh vực hoạt động sau của ngân hàng thương mại: * Hoạt động nhận tiền gửi Cho vay đối với ngân hàng thương mại được coi là hoạt động sinh lời cao, vì đó mà các ngân hàng luôn tìm kiếm mọi cách để huy động được tiền. Một trong những nguồn quan trọng là các khoản tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm của khách hàng. Ngân hàng nhận tiền gửi của khách hàng, bảo quản hộ người có tiền với cam kết hoàn trả đúng hạn. Trong cuộc cạnh tranh để tìm và giành được các khoản tiền gửi, các ngân hàng đã trả lãi cho tiền gửi như là phần thưởng cho khách hàng vì việc sẵn sàng hi sinh nhu cầu tiêu dùng trước mắt và cho ngân hàng sử dụng tạm thời để kinh doanh. * Hoạt động cho vay Ngân hàng tích cực huy động các nguồn tiền gửi cũng nhằm mục đích đẩy mạnh cho vay được một phần số tiền này để gia tăng lợi nhuận, do vậy mà các ngân hàng rất tích cực tìm kiếm khách hàng tốt để cho vay. Cho vay có thể là cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, tài trợ cho dự án…cho dù dưới hình thức nào thì cho vay cũng tạo được một lợi nhuận lớn cho các ngân hàng thương mại. * Hoạt động mua bán ngoại tệ (kinh doanh ngoại tệ) Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên thực hiện là trao đổi mua bán ngoại tệ, mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác, và hưởng phí dịch vụ… * Hoạt động bảo quản hộ tài sản Các ngân hàng thực hiện bảo quản và lưu giữ hộ vàng và các giấy tờ có giá và các tài sản khác cho khách hàng trong két. Ngân hàng thường giữ hộ những tài sản tài chính, giấy tờ cầm cố, hoặc những giấy tờ quan trọng khác của khách với nguyên tắc an toàn, bí mật, thuận tiện. Dịch vụ này phát triển cùng với nhiều dịch vụ khác như mua bán hộ các giấy tờ có giá cho khách, thanh toán lãi hoặc cổ tức hộ… * Hoạt động thanh toán và cung cấp các tài khoản giao dịch Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng không chỉ bảo quản mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng. Việc thanh toán qua ngân hàng đã làm nảy sinh hình thức thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền không cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách, khách hàng mang giấy đến ngân hàng sẽ nhận được tiền. Ngân hàng càng mở nhiều chi nhánh, phạm vi thanh toán qua ngân hàng được mở rộng, càng tạo thêm nhiều tiện ích. Từ đó khuyến khích khách hàng gửi tiền vào ngân hàng nhờ thanh toán hộ. Vũ Thị Thu Huyền - Tài chính doanh nghiệp 48A - ĐHKTQD Phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng ngoài quốc doanh Việt Nam VPBank chi nhánh Hải Phòng 4 Ngoài ra cùng với sự phát triển mạnh của công nghệ thông tin, mọi hoạt động đều được tin học hóa thì ngoài các thể thức thanh toán như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, L/C…đã phát triển các hình thức thanh toán mới bằng điện, thẻ. * Hoạt động quản lý ngân quỹ Ngân hàng thương mại mở các tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp và nhiều cá nhân từ đó ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều khách hàng. Với việc có kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu ngân, nhiều ngân hàng đồng ý quản lý thu và chi cho một doanh nghiệp kinh doanh, tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán. * Hoạt động tài trợ cho các hoạt động của Chính phủ Khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã trở thành trọng tâm chú ý của các Chính Phủ. Do nhu cầu chi tiêu lớn và thường là cấp bách trong khi nguồn thu không đủ, Chính phủ các nước đều muốn tiếp cận với các khoản cho vay của ngân hàng. Ngày nay Chính phủ giành quyền cấp phép hoạt động và kiểm soát các ngân hàng. Các ngân hàng thương mại được cấp phéo thành lập với điều kiện là họ phải cam kết thực hiện với mức độ nào đó các chính sách Chính phủ và tài trợ cho Chính phủ như các ngân hàng thường mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được. * Hoạt động bảo lãnh Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng là rất lớn, hơn nữa ngân hàng lại nắm giữ tiền gửi của các khách hàng, nên ngân hàng có uy tín trong bảo lãnh cho khách hàng. Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng mua chịu hàng hóa và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác… * Hoạt động cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính các ngân hàng có rất nhiều chuyên gia về quản lý tài chính. Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ ngân hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ. Dịch vụ ủy thác phát triển sang cả ủy thác vay hộ, ủy thác cho vay hộ,ủy thác phát hành, ủy thác đầu tư…Thậm chí các ngân hàng đóng vai trò là người được ủy thác trong di chúc, quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời bằng cách công bố tài sản, bảo quản các tài sản có giá. Nhiều khách hàng còn coi ngân hàng như một chuyên gia về tư vấn tài chính, ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, quản lý tài chính, về thành lập, mua bán và sáp nhập Vũ Thị Thu Huyền - Tài chính doanh nghiệp 48A - ĐHKTQD Phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng ngoài quốc doanh Việt Nam VPBank chi nhánh Hải Phòng 5 doanh nghiệp. * Hoạt động cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán Nhiều ngân hàng đang phấn đấu cung cấp đầy đủ các dịch vụ tài chính cho phép khách hàng thỏa mãn mọi nhu cầu. Đây là một trong những lý do chính khiến các ngân hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác. Trong một số trường hợp các ngân hàng thương mại tổ chức ra các công ty chứng khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán để cung cấp dịch vụ môi giới. * Hoạt động cung cấp các dịch vụ bảo hiểm Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo hiểm cho khách hàng, điều đó bảo đảm việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng bị chết, bị tàn phế hay gặp rủi ro trong hoạt động, mất khả năng thanh toán. Ngân hàng liên doanh với công ty bảo hiểm hoặc tổ chức công ty bảo hiểm con, ngân hàng cung cấp dịch vụ tiết kiệm gắn với bảo hiểm như tiết kiệm an sinh, tiết kiệm hưu trí… * Hoạt động cung cấp các dịch vụ đại lý Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập chi nhánh hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi. Nhiều ngân hàng (thường là những ngân hàng lớn) cung cấp dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng khác như thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ… 1.1.2. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 1.1.2.1. Khái niệm cho vay của ngân hàng thương mại Theo quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của thống đốc Ngân hàng nhà nước về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng thì cho vay của tổ chức tín dụng được hiểu như sau: Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Thời hạn nhất định ở đây chính là thời hạn cho vay. Như vậy có thể khái quát rằng cho vay của ngân hàng thương mại là quan hệ chuyển nhượng quyền sở hữu vốn từ ngân hàng cho khách hàng sử dụng với mục đích xác định, sau một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc khách hàng có hoàn trả gốc và lãi cho ngân hàng. Cho vay của ngân hàng thương mại bao giờ cũng chứa đựng ba nội dung: - Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu cho người sử dụng Vũ Thị Thu Huyền - Tài chính doanh nghiệp 48A - ĐHKTQD Phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng ngoài quốc doanh Việt Nam VPBank chi nhánh Hải Phòng - Sự chuyển nhượng này mang tính tạm thời hay có thời hạn - Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí 6 Cho vay là một hoạt động khá quan trọng và mang lại lợi nhuận rất lớn cho các ngân hàng thương mại. Trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại thì cho vay luôn chiếm tỷ trọng lớn. Việc vay vốn là nhu cầu tự nguyện của khách hàng và là cơ hội để ngân hàng cho vay và thu lợi nhuận. Nhìn chung khi khách hàng muốn vay vốn của ngân hàng thương mại thì luôn phải đảm bảo hai nguyên tắc như sau: (1) Sử dụng vốn đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng Việc sử dụng vốn vay vào mục đích gì do hai bên, ngân hàng và khách hàng thỏa thuận và ghi vào trong hợp đồng tín dụng. Đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích thỏa thuận nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn vay và khả năng thu hồi nợ vay sau này. Do vậy, về phía ngân hàng trước khi cho vay luôn tìm hiểu rõ xem mục đích vay vốn của khách hàng là gì đồng thời kiểm tra xem khách hàng có sử dụng vốn vay đúng như mục đích đã cam kết không. Đó là việc rất quan trọng bởi vì việc sử dụng vốn vay đúng mục đích hay không có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thu hồi nợ vay sau này. (2) Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay là một nguyên tắc không thể thiếu trong hoạt động cho vay. Điều này xuất phát từ tính chất tạm thời nhàn rỗi của nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng tạm thời để cho vay. Đại đa số nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng để cho vay là vốn huy động từ khách hàng gửi tiền. Do đó sau khi cho vay trong một thời hạn nhất định khách hàng vay tiền phải hoàn trả lại cho ngân hàng để ngân hàng hoàn trả lại cho khách hàng gửi tiền. Hơn nữa bản chất của quan hệ tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn vay nên sau một thời gian nhất định vốn vay phải được hoàn trả cả gốc và lãi. 1.1.2.2. Các hình thức cho vay của ngân hàng thương mại Các hình thức cho vay của ngân hàng có thể phân chia ra thành nhiều loại tùy theo những tiêu thức phân loại khác nhau như sau: Vũ Thị Thu Huyền - Tài chính doanh nghiệp 48A - ĐHKTQD Phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng ngoài quốc doanh Việt Nam VPBank chi nhánh Hải Phòng 7  Dựa vào mục đích của các khoản cho vay Theo tiêu thức này thì tín dụng ngân hàng có thể phân chia thành các loại sau: - Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp - Cho vay tiêu dùng cá nhân: là cho vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân như mua sắm sửa chữa nhà cửa, xe cộ đi lại, hỗ trợ du học… - Cho vay bất động sản - Cho vay nông nghiệp - Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu…  Dựa vào thời hạn cho vay Theo tiêu thức này tín dụng ngân hàng có thể phân ra thành các loại như sau: - Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn dưới một năm, mục đích của khoản cho vay này thường nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động, tiêu dùng ngắn hạn. - Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ một đến 5 năm, mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định. - Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm, mục đích của loại cho vay này thường là những tài trợ đầu tư vào các dự án đầu tư.  Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng - - Theo tiêu thức này tín dụng ngân hàng có thể được phân ra thành các loại sau: Cho vay không có đảm bảo: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay (tín chấp). Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác.  Dựa vào phương thức cho vay Căn cứ vào nhu cầu sử dụng tiền vay của khách hàng và khả năng của ngân hàng trong việc kiểm tra, giám sát sử dụng vốn vay của khách hàng, ngân hàng sẽ thỏa Vũ Thị Thu Huyền - Tài chính doanh nghiệp 48A - ĐHKTQD Phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng ngoài quốc doanh Việt Nam VPBank chi nhánh Hải Phòng 8 thuận với khách hàng về một trong các phương thức cho vay như sau: a) Phương thức cho vay từng lần: áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu vay bổ sung vốn lưu động không thường xuyên hoặc khách hàng có vòng quay vốn kinh doanh dài. b) Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng: áp dụng với khách hàng có nhu cầu bổ sung vốn lưu động thường xuyên, mục đích sử dụng vốn là rõ ràng và có tín nhiệm với ngân hàng (có khả năng tài chính, sản xuất kinh doanh ổn định và có lãi trong thời gian nhất định). c) Cho vay theo dự án đầu tư: áp dụng cho khách hàng có nhu cầu vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các dự án phục vụ đời sống. d) Cho vay hợp vốn (đồng tài trợ): là hình thức một ngân hàng phối hợp với ngân hàng hoặc một số tổ chức tín dụng khác cùng cho vay đối với một dự án vay vốn của khách hàng, trong đó ngân hàng hoặc một tổ chức tín dụng khác làm đầu mối dàn xếp. e) Cho vay trả góp: khách hàng vay trả góp phục vụ tiêu dùng hoặc kinh doanh phải có phương án trả nợ gốc và lãi vay khả thi bằng các khoản thu nhập chắc chắn ổn định. Ngân hàng và khách hàng có thể thỏa thuận việc cho vay trả góp theo một trong hai phương thức sau: - Cho vay trả góp theo lãi gộp: Khoản vay sẽ được tính lãi theo số tiền vay ngay tại thời điểm cho vay và trong suốt thời gian vay, cộng với nợ gốc và chia đều cho các kỳ trả nợ. - Cho vay trả góp theo dư nợ thực tế: Khoản cho vay trả góp được áp dụng lãi suất thả nổi và tính lãi theo dư nợ thực tế hàng tháng. f) Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: áp dụng cho khách hàng có nhu cầu dự phòng nguồn vốn tín dụng trong một khoản thời gian nhất định nhằm đảm bảo khả năng chủ động về tài chính khi thực hiện sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đời sống. g) Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: ngân hàng chấp nhận cho khách hàng được sử dụng vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng thẻ thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc các điểm ứng trước tiền mặt là đại lý của ngân hàng. h) Cho vay theo hạn mức thấu chi: ngân hàng có thể chấp thuận cho khách hàng được chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng. i) Các phương thức cho vay khác: ngân hàng có thể áp dụng các phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm, phù hợp với quy chế cho vay của ngân hàng. Vũ Thị Thu Huyền - Tài chính doanh nghiệp 48A - ĐHKTQD Phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng ngoài quốc doanh Việt Nam VPBank chi nhánh Hải Phòng 9  Dựa vào phương thức hoàn trả nợ vay Theo tiêu thức này, tín dụng ngân hàng có thể phân chia thành các loại sau: - Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn. - Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp. - Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể mà tùy khả năng tài chính của mình người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào.  Dựa vào đối tượng vay vốn Theo tiêu thức này thì đối tượng vay vốn của ngân hàng thương mại thường rất đa dạng và có thể phân chia thành một số đối tượng chính như: - Các doanh nghiệp: Đây là những đối tượng chủ yếu và chiếm phần lớn trong cho vay của ngân hàng, thường là vay vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh ngắn, trung và dài hạn. - Các cá nhân, hộ gia đình: Đây cũng là những đối tượng chính và cũng là các đối tượng mà các ngân hàng đang ra sức thu hút và khuyến khích cho vay nhằm các mục đích như cho vay tiêu dùng hay nhằm đáp ứng vốn cho sản xuất kinh doanh… - Các tổ chức tài chính, tín dụng khác: thường vay vốn nhằm đáp ứng khả năng thanh khoản tức thời. 1.2. CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại * Khái niệm cho vay tiêu dùng Xã hội ngày càng phát triển thì không chỉ có các công ty, doanh nghiệp là cần vốn để sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường mà hiện nay, các cá nhân cũng là những người cần vốn hơn bao giờ hết. Cuộc sống ngày càng hiện đại, mức sống của người dân cũng được nâng cao, cuộc sống giờ đây không chỉ bó hẹp trong “ăn no, mặc ấm” mà đã dần chuyển sang “ăn ngon, mặc đẹp” và cũng còn biết bao nhu cầu khác cần phải được đáp ứng. Giờ đây, tâm lý của người dân coi việc đi vay là muốn sử dụng hàng hóa trước khi có khả năng thanh toán. Đáp ứng lòng mong mỏi của người dân, các ngân hàng đã phát triển một hoạt động cho vay mới, đó là cho vay tiêu dùng, một mặt vừa tạo thêm thu nhập cho chính ngân hàng, mặt khác giúp đỡ cho các cá nhân có được nguồn vốn để cải thiện cuộc sống của mình. Có thể hiểu một cách khái quát nhất về cho vay tiêu dùng của ngân hàng Vũ Thị Thu Huyền - Tài chính doanh nghiệp 48A - ĐHKTQD Phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng ngoài quốc doanh Việt Nam VPBank chi nhánh Hải Phòng 10 thương mại như sau: Cho vay tiêu dùng là một trong những hình thức cho vay của ngân hàng thương mại, trong đó ngân hàng giao cho khách hàng một khoản tiền sử dụng vào mục đích tiêu dùng để phục vụ trực tiếp các nhu cầu đời sống của cá nhân, hộ gia đình khách hàng vay. Và sau một thời gian nhất định đã thoả thuận khách hàng sẽ hoàn trả đầy đủ cả vốn gốc và lãi cho ngân hàng. Khi mức sống càng cao, kinh tế càng tăng trưởng và phát triển thì cuộc sống ngày càng được nâng cao và đảm bảo về chất lượng thì nhu cầu vay tiêu dùng gia tăng mạnh mẽ gắn liền với nhu cầu về hàng tiêu dùng lâu bền như nhà, xe cộ, đồ gỗ sang trọng, nhu cầu du lịch…và nhiều hình thức tiêu dùng xa xỉ khác. Tuy nhiên, để nhu cầu được đáp ứng đúng lúc, đúng thời điểm thì không phải lúc nào cũng dễ dàng thực hiện được bởi nó còn phụ thuộc vào một nhân tố rất quan trọng đó là khả năng thanh toán. Ví dụ như khi chúng không có khả năng thanh toán nhưng muốn có một chiếc xe máy để đi lại và đến khi có thể đáp ứng nhu cầu thì nhu cầu đi lại bằng xe máy lại không nhiều nữa. Hoặc như khi chúng ta cần tiền để đầu tư đi học, khi ra trường ta có thể dễ dàng tìm việc và kiếm tiền. Nhưng hiện tại ta lại không có tiền thì ước mơ được đi học hay có việc làm tốt cũng bay xa. Vậy tại sao chúng ta lại không thể có được xe máy, chiếc nhà mới để ở hay là đi học… trước khi chúng ta có thể có đủ tiền trong tương lai? Đây thực sự là một vấn đề quan trọng, làm thế nào để giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu tiêu dùng và khả năng thanh toán trong trường hợp này? Cách giải quyết tối ưu đó là cần đến một tổ chức hỗ trợ người mua có thể thoả mãn nhu cầu của mình khi mà họ chưa thực sự có khả năng chi trả. Không một tổ chức nào đảm nhiệm được vai trò này tốt bằng các trung gian tài chính, mà quan trọng bậc nhất là các ngân hàng thương mại vì sự chuyên môn của ngân hàng trong hoạt động này. Họ có một đội ngũ cán bộ chuyên môn cao có thể giải quyết mọi vấn đề, và mang lại lợi ích cho cả phía ngân hàng và phía khách hàng. Ngân hàng phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng cũng là cách để ngân hàng gia tăng lợi nhuận, đặc biệt là trong môi trường cạnh tranh khốc liệt ngày nay. Nhiều hãng lớn khi thiếu vốn đã không tìm đến ngân hàng để vay tiền, mà thay vì đó họ tự tài trợ chủ yếu bằng phát hành cổ phiếu và trái phiếu. Thêm vào đó nhiều công ty tài chính hoặc giữa các ngân hàng cạnh tranh với nhau trong cho vay làm cho thị phần cho vay các doanh nghiệp của ngân hàng bị giảm sút buộc ngân hàng phải mở rộng thị trường cho vay tiêu dùng, hướng tới người tiêu dùng như là một Vũ Thị Thu Huyền - Tài chính doanh nghiệp 48A - ĐHKTQD Phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng ngoài quốc doanh Việt Nam VPBank chi nhánh Hải Phòng 11 khách hàng trung thành tiềm năng. Ngân hàng cho vay tiêu dùng một mặt tăng thu nhập cho bản thân ngân hàng, mặt khác tạo ra uy tín cho ngân hàng. * Đặc điểm cho vay tiêu dùng Cho vay tiêu dùng có một số các đặc điểm chính sau đây: - Cho vay tiêu dùng là hình thức cho vay có độ rủi ro cao Cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao bởi nguồn trả nợ của người vay có thể biến động lớn, nó phụ thuộc vào quá trình làm việc, kinh nghiệm, tài năng và sức khỏe của người vay… Nếu người vay bị chết, ốm hoặc mất việc làm ngân hàng sẽ rất khó thu lại được nợ cho ngân hàng. Vì vậy mà các ngân hàng thường yêu cầu lãi suất cao, hay yêu cầu người vay phải mua bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm hàng hóa đã mua… Hơn nữa tư cách và phẩm chất của khách hàng vay thường rất khó xác định, chủ yếu dựa vào cách đánh giá, cảm nhận và kinh nghiệm của cán bộ tín dụng. Những khách hàng là cá nhân thì các thông tin thường ít và khó đánh giá một cách chính xác và khách quan như đối với các đối tượng là doanh nghiệp. Khách hàng cá nhân thì việc chứng minh tài chính thường khó. Nếu như các doanh nghiệp có bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh… để chứng minh nguồn thu nhập và chi tiêu của mình thì các cá nhân vay tiêu dùng muốn chứng minh tài chính của mình thường phải dựa vào tiền lương, sự suy đoán chứ không có bằng chứng rõ ràng. Chính vì vậy mà cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại có tính rủi ro rất cao. - Cho vay tiêu dùng là hình thức cho vay có lãi suất cao trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại Cho vay tiêu dùng đối với các cá nhân, hộ gia đình thường có mức lãi suất rất cao, và thường cao hơn lãi suất mà các ngân hàng thương mại cho vay kinh doanh đối với hộ kinh doanh hay doanh nghiệp. Ngân hàng biết rằng chỉ cần có bất cứ biến động bất lợi đối với người vay như tai nạn, thất nghiệp, mất việc làm… thì rủi ro mất vốn mà ngân hàng gánh chịu là rất lớn. Ngân hàng sẽ chỉ gánh chịu rủi ro khi được đáp lại bằng một mức lợi nhuận dự kiến tương xứng, chính vì vậy lãi suất mà các ngân hàng cho vay tiêu dùng thường rất lớn trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng. Hơn nữa, quy mô của từng hợp đồng cho vay thường nhỏ, dẫn đến chi phí tổ chức cho vay cao, vì vậy lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn so với lãi Vũ Thị Thu Huyền - Tài chính doanh nghiệp 48A - ĐHKTQD Phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng ngoài quốc doanh Việt Nam VPBank chi nhánh Hải Phòng 12 suất của các loại cho vay trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp. - Các khoản cho vay tiêu dùng thường có giá trị nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn Đối tượng của các khoản cho vay tiêu dùng là các cá nhân và hộ gia đình phục vụ cho hoạt động tiêu dùng nên số vốn vay ngân hàng thường không lớn, giá trị mỗi hợp đồng thường nhỏ. Tuy nhiên số lượng các khách hàng cá nhân vay tiêu dùng là khá lớn giúp cho các ngân hàng gia tăng số lượng các khoản cho vay. - Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng thường phải phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế và phụ thuộc chặt chẽ vào mức thu nhập và trình độ học vấn Khi nền kinh tế thịnh vượng, đời sống của người dân được nâng cao thì nhu cầu vay tiêu dùng lại càng cao. Ví dụ vào các dịp lễ tết, nhu cầu mua sắm nhiều thì các số lượng các khoản vay cũng tăng lên. Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng phụ thuộc chặt chẽ vào mức thu nhập và trình độ học vấn vì những người có thu nhập khá và tương đối đều sẽ tìm tới cho vay tiêu dùng bởi họ có khả năng trả được nợ. 1.2.2. Phân loại cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại 1.2.2.1. Phân loại theo tài sản đảm bảo Nếu theo tiêu chí này thì có thể phân loại cho vay tiêu dùng thành 2 hình thức chính là cho vay tiêu dùng có tài sản đảm bảo và cho vay tiêu dùng không có tài sản đảm bảo (tín chấp). Tuy nhiên chủ yếu vẫn là hình thức cho vay tiêu dùng có tài sản đảm bảo vì nếu khách hàng không trả được nợ thì vẫn đảm bảo khả năng thu lại được phần vốn gốc bị mất cho ngân hàng. Còn cho vay tiêu dùng tín chấp như hình thức thẻ tín dụng tiêu dùng, thẻ tín chấp…chỉ dành cho các cá nhân có việc làm tương đối ổn định thu nhập cao và thường là các vị trí quản lý cấp cao và có hạn mức tín dụng đảm bảo. 1.2.2.2. Phân loại căn cứ vào phương thức hoàn trả a) Cho vay tiêu dùng trả góp Đây là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó người đi vay trả nợ (gồm số tiền gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định có giá trị lớn hoặc và thu nhập từng định kỳ của người đi vay không đủ khả năng thanh toán hết một lần số nợ vay. Đối với loại cho vay tiêu dùng này, ngân hàng thường chú ý tới một số vấn đề cơ bản có tính nguyên tắc sau: Vũ Thị Thu Huyền - Tài chính doanh nghiệp 48A - ĐHKTQD Phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng ngoài quốc doanh Việt Nam VPBank chi nhánh Hải Phòng 13 * Loại tài sản được tài trợ: ngân hàng thường chỉ muốn tài trợ cho những khoản vay mua sắm các đồ dùng có giá trị và tính sử dụng lâu bền, với những tài sản như vậy, người tiêu dùng sẽ được hưởng những tiện ích từ chúng trong một thời gian dài. * Số tiền phải trả trước: thông thường ngân hàng yêu cầu người đi vay phải thanh toán trước một phần giá trị tài sản cần mua sắm, số còn lại ngân hàng sẽ cho vay. Điều này một phần giúp ngân hàng hạn chế rủi ro, mặt khác tạo cho người đi vay có trách nhiệm hơn với tài sản mình định mua bởi họ cũng đã đóng góp một phần số tiền của mình vào trong đó. Khi khách hàng không trả được nợ, trong nhiều trường hợp ngân hàng sẽ phải phát mại tài sản để thu hồi nợ. Hầu hết các tài sản đã qua sử dụng đều bị giảm giá trị cho nên số tiền trả trước có vai trò vô cùng quan trọng giúp ngân hàng hạn chế rủi ro. Số tiền trả trước nhiều hay ít phụ thuộc vào một số yếu tố sau: +) Loại tài sản: Đối với các loại tài sản có mức độ giảm giá nhanh thì số tiền trả trước nhiều và ngược lại, đối với các loại tài sản có mức độ giảm giá chậm thì số tiền trả trước ít hơn. +) Thị trường tiêu thụ tài sản sau khi sử dụng: yếu tố này rất quan trọng. Nếu đó là tài sản thuộc loại dễ bán thì số tiền trả trước sẽ ít hơn loại tài sản khó bán sau khi sử dụng. +) Môi trường kinh tế +) Năng lực tài chính của người đi vay * Chi phí tài trợ: chi phí tài trợ là chi phí mà người đi vay phải trả cho ngân hàng. Chi phí tài trợ chủ yếu là tiền lãi và một số khoản chi phí khác. Chi phí tài trợ phải trang trải được chi phí vốn tài trợ, chi phí hoạt động, rủi ro và mang lại một phần lợi nhuận thỏa đáng cho ngân hàng. * Điều khoản thanh toán: Số tiền thanh toán mỗi định kỳ phù hợp về khả năng thu nhập, chi tiêu của khách hàng, giá trị của tài sản tài trợ không được thấp hơn số tiền tài trợ chưa được thu hồi, kỳ hạn trả nợ phải thuận lợi cho việc trả nợ của khách hàng nhưng không nên quá dài vì nếu quá dài, giá trị của tài sản tài trợ sẽ bị giảm mạnh và việc thu hồi nợ có thể gặp rắc rối. b) Cho vay tiêu dùng phi trả góp Theo phương thức này, tiền vay được khách hàng thanh toán cho ngân hàng Vũ Thị Thu Huyền - Tài chính doanh nghiệp 48A - ĐHKTQD Phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng ngoài quốc doanh Việt Nam VPBank chi nhánh Hải Phòng 14 một lần khi đến hạn, áp dụng với các khoản vay có giá trị nhỏ, thời hạn ngắn (thường áp dụng cho các khoản vay tiêu dùng ngắn hạn dưới 12 tháng). c) Cho vay tiêu dùng tuần hoàn Là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được phép thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai. Theo phương thức này, trong thời hạn được thỏa thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kỳ, khách hàng được ngân hàng cho phép vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng. 1.2.2.3. Phân loại theo hình thức tài trợ của ngân hàng a) Cho vay tiêu dùng gián tiếp Cho vay tiêu dùng gián tiếp là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua những khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hóa hay dịch vụ cho người tiêu dùng. Trong trường hợp này công ty bán lẻ và ngân hàng ký kết hợp đồng mua bán nợ. Trong hợp đồng, ngân hàng thường đưa ra các điều kiện về đối tượng kỹ thuật được bán chịu, số tiền bán chịu tối đa và loại tài sản bán chịu. Sau đó công ty bán lẻ và người tiêu dùng ký kết hợp đồng mua bán chịu hàng hóa. Thông thường người tiêu dùng phải trả trước một phần giá trị tài sản. Công ty bán lẻ sẽ giao tài sản cho người tiêu dùng và bán bộ chứng từ bán chịu hàng hóa cho ngân hàng. Ngân hàng dựa trên bộ chứng từ đó sẽ thanh toán tiền cho vay công ty bán lẻ. Cuối cùng người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho ngân hàng. * Cho vay tiêu dùng gián tiếp có một số ưu điểm sau: - Cho phép ngân hàng dễ dàng tăng doanh số cho vay tiêu dùng - Giảm được chi phí trong cho vay - Mở rộng quan hệ với khách hàng và các hoạt động ngân hàng khác - Vay vốn đúng mục đích * Cho vay tiêu dùng gián tiếp có một số nhược điểm sau: - Ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng đã được bán chịu, do đó thông tin về khách hàng đôi khi không chính xác, không tìm hiểu kỹ được khách hàng có thể dẫn tới rủi ro cho ngân hàng - Thiếu sự kiểm soát của ngân hàng khi công ty bán lẻ thực hiện việc bán - chịu hàng hóa Kỹ thuật nghiệp vụ cho vay tiêu dùng gián tiếp có tính phức tạp cao b) Cho vay tiêu dùng trực tiếp Cho vay tiêu dùng trực tiếp là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân Vũ Thị Thu Huyền - Tài chính doanh nghiệp 48A - ĐHKTQD Phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng ngoài quốc doanh Việt Nam VPBank chi nhánh Hải Phòng 15 hàng trực tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ người này. So với cho vay tiêu dùng gián tiếp, cho vay tiêu dùng trực tiếp có những ưu điểm sau: - Cho vay tiêu dùng trực tiếp của ngân hàng thường có chất lượng cao hơn vì nó được quyết định bởi đội ngũ nhân viên tín dụng giàu kinh nghiệm và được đào tạo chuyên môn tốt của ngân hàng chứ không phải là những nhân viên của công ty bán lẻ. Nhân viên tín dụng ngân hàng có xu hướng chú trọng đến việc tạo ra các khoản cho vay có chất lượng tốt cho khi đó nhân viên của công ty bán lẻ thường chú trọng đến việc bán cho được nhiều hàng nên dễ dẫn tới các quyết định tín dụng vội vàng và có thể có nhiều khoản tín dụng được cấp ra không chính đáng. - Cho vay tiêu dùng trực tiếp linh hoạt hơn so với cho vay tiêu dùng gián tiếp, ngân hàng tiếp xúc trực tiếp với khách hàng nên hiểu rõ khách hàng. - Khi khách hàng có quan hệ trực tiếp với ngân hàng, có rất nhiều lợi thế có thể phát sinh, có khả năng làm thỏa mãn quyền lợi cho cả hai phía khách hàng lẫn ngân hàng. 1.2.2.4. Phân loại theo mục đích vay của khách hàng Nếu phân chia theo mục đích thì cho vay tiêu dùng có thể phân chia các mục đích như sau: - Cho vay sinh hoạt tiêu dùng: sản phẩm này được thiết kế và cung cấp nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu gia đình như mua sắm vật dụng gia đình, mua xe, cưới hỏi, du lịch, chữa bệnh… - Cho vay hỗ trợ tiêu dùng: sản phẩm này được thiết kế và cung cấp cho khách hàng có thu nhập ổn định hàng tháng. Số tiền cho vay nhằm hỗ trợ thêm cho tiêu dùng trong khi chờ đợi thu nhập đến kỳ. - Cho vay xây dựng, sữa chữa nhà: sản phẩm này được thiết kế và cung cấp nhằm hỗ trợ nhu cầu xây dựng, sữa chữa, trang trí nội thất nhà ở của khách hàng. - Cho vay mua nhà, hoán đổi nhà: sản phẩm này được thiết kế và cung cấp cho khách hàng có nhu cầu về nhà, đất, và cần có sự hỗ trợ tài chính. - Cho vay mua xe ô tô phục vụ nhu cầu đi lại: sản phẩm này được thiết kế và cung cấp cho khách hàng có nhu cầu sở hữu xe ô tô với mục đích đi lại nhưng tích lũy chưa đủ. Vũ Thị Thu Huyền - Tài chính doanh nghiệp 48A - ĐHKTQD Phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng ngoài quốc doanh Việt Nam VPBank chi nhánh Hải Phòng - 16 Cho vay hỗ trợ du học: sản phẩm này được thiết kế và cung cấp cho khách hàng có nhu cầu hỗ trợ tài chính cho con em mình đi du học. Số tiền cho vay theo nhu cầu và trên cở sở giá trị tài sản thế chấp do ngân hàng định giá. - Một số mục đích khác như: cho vay tín chấp, cho vay kinh doanh vàng, chứng khoán… 1.2.3. Quy trình cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại Khi khách hàng vay vốn ngân hàng, một điều tất nhiên và quan trọng ngân hàng phải thẩm định đơn xin vay. Tùy theo từng đặc điểm tổ chức và quản trị, mỗi ngân hàng đều tự thiết kế và xây dựng cho mình một quy trình tín dụng riêng. Nhưng dù có khác nhau thế nào thì quy trình tín dụng cho vay tiêu dùng của các ngân hàng thương mại đều tuân theo một số bước căn bản như sau:  Bước 1: Lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng Lập hồ sơ tín dụng là khâu căn bản đầu tiên của quy trình tín dụng, nó được thực hiện ngay sau khi cán bộ tín dụng tiếp xúc với khách hàng có nhu cầu vay vốn ngân hàng. Lập hồ sơ tín dụng là khâu quan trọng vì nó là khâu thu thập thông tin làm cơ sở để thực hiện các khâu sau, đặc biệt là khâu phân tích và ra quyết định cho vay của cán bộ tín dụng. Tùy theo quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng, loại tín dụng yêu cầu và quy mô tín dụng, cán bộ tín dụng hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ với những thông tin yêu cầu khác nhau. Nhìn chung thì một bộ hồ sơ đề nghị cấp tín dụng cần thu thập từ khách hàng những thông tin cần thiết sau: - Thông tin về năng lực pháp lý và năng lực hành vi của khách hàng. - Thông tin về khả năng sử dụng và hoàn trả vốn vay của khách hàng. - Thông tin về bảo đảm tín dụng. Để thu thập được những thông tin căn bản như trên, ngân hàng thường yêu cầu khách hàng phải lập và nộp cho ngân hàng các loại giấy tờ sau: - Giấy đề nghị vay vốn. - Giấy tờ chứng minh tư cách pháp nhân của khách hàng. - Phương án sử dụng vốn vay và kế hoạch trả nợ. - Các giấy tờ liên quan tới tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh nợ vay. - Các giấy tờ liên quan khác nếu cần thiết.  Bước 2: Phân tích tín dụng Bước phân tích tín dụng là phân tích khả năng hiện tại và tiềm tàng của Vũ Thị Thu Huyền - Tài chính doanh nghiệp 48A - ĐHKTQD Phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng ngoài quốc doanh Việt Nam VPBank chi nhánh Hải Phòng 17 khách hàng về sử dụng vốn tín dụng, khả năng hoàn trả và khả năng thu hồi vốn cả gốc và lãi. Mục tiêu của phân tích tín dụng là tìm kiếm những tình huống có thể dẫn tới rủi ro cho ngân hàng, tiên lượng khả năng kiểm soát những loại rủi ro đó và dự kiến các biện pháp phòng ngừa và hạn chế thiệt hại có thể xảy ra. Hơn nữa, phân tích tín dụng còn quan tâm đến việc kiểm tra tính chân thực của hồ sơ vay vốn mà khách hàng cung cấp, từ đó nhận định về thái độ trả nợ của khách hàng làm cơ sở quyết định cho vay. Để làm việc này, đa số các ngân hàng thường cố gắng sử dụng một số chỉ tiêu để đánh giá về khách hàng trước khi ra quyết định có cho vay hay không. Một trong các mô hình đánh giá phổ biến về khách hàng trong hoạt động tín dụng mà các ngân hàng rất hay sử dụng chính là mô hình 5C được viết tắt bởi 5 từ tiếng anh có chữ đầu là chữ cái C. 5C trong tín dụng ngân hàng đó chính là: Uy tín (Character), Năng lực (Capacity), Vốn (Capital), Thế chấp (Collateral), và các điều kiện khác (Conditions). Uy tín (Character): là ý thức trách nhiệm hoàn trả lại khoản vay của người vay. Vì không có một phương pháp định lượng chính xác nào để đánh giá uy tín, cho nên ngân hàng sẽ quyết định một cách chủ quan liệu khách hàng có khả năng trả khoản vay này hay không. Ngân hàng sẽ kiểm tra những khoản nợ của khách hàng trước đây (như ở Việt Nam có thể kiểm tra thông tin qua hệ thống trung tâm tín dụng CIC). Xem xét những báo cáo tín dụng, và trình độ học vấn cũng như kinh nghiệm kinh doanh của khách hàng. Các vấn đề khác liên quan đến khách hàng và trình độ, kinh nghiệm của khách hàng cũng sẽ được xem xét. Năng lực (Capacity): nói đến khả năng khách hàng có tiền để thanh toán các khoản vay hay không. Vì đây là nguồn cơ bản để bạn trả các khoản vay, ngân hàng muốn biết chính xác kế hoạch trả nợ của khách hàng trong tương lai. Ngân hàng sẽ xem xét luồng tiền trong kinh doanh, thời gian chi trả, và khả năng chi trả thành công khoản vay… Vốn (Capital): là tiền của khách hàng đã đầu tư vào dự án định vay hiện tại và chỉ tiêu này cho biết khách hàng sẽ thua lỗ bao nhiêu khi dự án phá sản. Ngân hàng muốn khách hàng thế chấp tài sản riêng và chịu trách nhiệm về rủi ro tài chính khi hỏi vay vốn Ngân hàng. Ngân hàng xem xét chỉ số nợ của khách hàng để hiểu được tổng nợ trên tổng vốn đầu tư của khách hàng. Thế chấp (Collateral): tài sản thế chấp hay sự bảo lãnh của bên thứ ba là một hình thức khác khách hàng có thể đảm bảo với ngân hàng. Nếu lượng tiền của Vũ Thị Thu Huyền - Tài chính doanh nghiệp 48A - ĐHKTQD Phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng ngoài quốc doanh Việt Nam VPBank chi nhánh Hải Phòng 18 khách hàng không đủ trả nợ, ngân hàng vẫn được đảm bảo bằng nguồn thanh toán khác. Nếu khách hàng không trả được nợ, ngân hàng sẽ thu hồi và thanh lý tài sản để thu hồi vốn. Điều kiện khác (Conditions): liên quan đến hoàn cảnh kinh tế của từng địa phương, từng quốc gia. Nếu nền kinh tế bị suy thoái, liệu tình hình tài chính của khách hàng có bị suy giảm, hoặc có thể không bị ảnh hưởng. Những khách hàng có tình hình tài chính ổn định không bị ảnh hưởng nhiều bởi nền kinh tế thì thông thường sẽ được các ngân hàng ưu ái hơn…  Bước 3: Quyết định và ký kết hợp đồng tín dụng Quyết định tín dụng là quyết định cho vay hoặc từ chối đối với một bộ hồ sơ vay vốn của khách hàng. Đây là một khâu cực kỳ quan trọng trong quy trình tín dụng bởi vì nó ảnh hưởng rất lớn đến các khâu sau và ảnh hưởng tới uy tín và hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng. Tuy nhiên khâu quan trọng này lại là khâu khó xử lý nhất và thường dễ phạm phải sai lầm nhất. Có hai loại sai lầm cơ bản thường xảy ra trong khâu này đó là: - Quyết định cho vay đối với một khách hàng không tốt. - Từ chối cho vay đối với một khách hàng tốt. Cả hai loại sai lầm này đều dẫn tới thiệt hại đáng kể cho ngân hàng thương mại. Loại sai lầm đầu tiên dễ dẫn đến thiệt hại do nợ quá hạn hoặc nợ không thể thu hồi, tức là thiệt hại về tài chính. Còn loại sai lầm thứ hai dễ dẫn đến thiệt hại về uy tín và mất cơ hội cho vay. Chính vì vậy, để nhằm hạn chế sai lầm trong khâu quyết định tín dụng thì các ngân hàng thương mại thường chú trọng tới hai vấn đề: (1) Thu thập và xử lý thông tin một cách đầy đủ và chính xác làm cơ sở để ra quyết định. (2) Trao quyền quyết định cho một hội đồng tín dụng/ ban tín dụng hoặc những người có năng lực phân tích và phán quyết.  Cơ sở để ra quyết định tín dụng: Cơ sở để ra quyết định tín dụng trước hết dựa vào thông tin thu thập và xử lý từ hồ sơ tín dụng. Tiếp đến là dựa vào các thông tin khác hoặc thông tin cập nhật có liên quan, ví dụ như là thông tin cập nhật về tình hình thị trường, chính sách tín dụng của ngân hàng, các quy định về hoạt động tín dụng của ngân hàng nhà nước, nguồn vốn cho vay của ngân hàng, kết quả thẩm định các hình thức đảm bảo nợ vay… Vũ Thị Thu Huyền - Tài chính doanh nghiệp 48A - ĐHKTQD
- Xem thêm -