Phát triển các tổ chức xã hội dân sự góp phần phát triển nông thôn tỉnh Nghệ An

  • Số trang: 118 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 488 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TÓM TẮT LUẬN VĂN PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ NÓI CHUNG VÀ Ở NÔNG THÔN NÓI RIÊNG 4 1.1- Bản chất, chức năng của các tổ chức XHDS 4 1.1.1- Khái niệm.............................................................................................................4 1.1.2- Bản chất............................................................................................................... 6 1.1.3- Đặc điểm..............................................................................................................7 1.1.4- Chức năng............................................................................................................9 1.2- Vị trí của các tổ chức XHDS trong mối quan hệ Nhà nước - Khu vực tư nhân - Các tổ chức XHDS 11 1.2.1. Trong mối quan hệ với Nhà nước.......................................................................11 1.2.2- Trong mối quan hệ với khu vực tư nhân.............................................................12 1.3- Các hình thức cơ bản của các tổ chức XHDS nói chung và ở nông thôn nói riêng 13 1.4- Vai trò của các tổ chức XHDS: 14 1.4.1- Đối với phát triển kinh tế xã hội nói chung:.......................................................14 1.4.2- Đối với phát triển kinh tế xã hội nông thôn nói riêng.........................................18 1.5- Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển các tổ chức XHDS 20 1.5.1- Các nhân tố bên ngoài:.......................................................................................20 1.5.2- Các nhân tố bên trong:........................................................................................23 1.6- Kinh nghiệm về sự hình thành và phát triển các tổ chức XHDS ở nông thôn Thái Lan 24 1.6.1- Một số vấn đề chung về môi trường hoạt động của XHDS ở Thái Lan....................24 1.6.2- Thực trạng XHDS Thái Lan...............................................................................28 1.6.3- Tác động của XHDS Thái Lan đến sự phát triển kinh tế - xã hội.......................31 1.6.4- Những kinh nghiệm và khả năng áp dụng vào điều kiện nông thôn Nghệ An.......32 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VÀ VAI TRÒ HỖ TRỢ CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN NGHỆ AN THỜI GIAN QUA 33 2.1- Đánh giá khái quát tình hình phát triển nông thôn và môi trường hoạt động của các tổ chức XHDS ở Nghệ An 33 2.1.1- Môi trường tự nhiên - văn hóa - xã hội...............................................................33 2.1.2- Môi trường kinh tế - chính trị - pháp luật:..........................................................37 2.2. Thực trạng hoạt động của các tổ chức XHDS tại tỉnh Nghệ An: 45 2.2.1- Thực trạng về số lượng và mức độ tham gia:.....................................................45 2.2.2. Thực trạng về cơ chế tổ chức quản lý và hoạt động:...........................................48 2.3- Tác động hỗ trợ của các tổ chức XHDS đối với phát triển kinh tế-xã hội nông thôn tỉnh Nghệ An 78 2.3.1. Kết quả thực hiện các giá trị xã hội của tổ chức.................................................78 2.3.2- Tác động hỗ trợ đối với phát triển nông thôn Nghệ An:.....................................82 2.4- Đánh giá chung về những kết quả đạt được, hạn chế tồn tại và nguyên nhân 87 2.4.1- Thành tựu...........................................................................................................87 2.4.2- Một số tồn tại, hạn chế:......................................................................................88 2.4.3- Nguyên nhân:.....................................................................................................89 CHƯƠNG 3: CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ Ở NÔNG THÔN NGHỆ AN 91 3.1. Bối cảnh phát triển nông thôn mới và quan điểm hình thành, phát triển các tổ chức XHDS ở nông thôn Nghệ An 91 3.1.1. Bối cảnh phát triển nông thôn Nghệ An đến năm 2020......................................91 3.1.2. Các quan điểm cơ bản.........................................................................................93 3.1.3. Định hướng chủ yếu về sự phát triển của các tổ XHDS:.....................................93 3.2. Đề xuất, kiến nghị chính sách và giải pháp phát triển các tổ chức XHDS ở Nghệ An 94 3.2.1. Nhóm chính sách và giải pháp chung:................................................................94 3.2.2- Một số giải pháp cụ thể cho từng loại hình tổ chức XHDS:.............................100 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 110 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu Trong công cuộc đổi mới đất nước, cùng với sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và dân chủ hoá đời sống xã hội đã mang lại cho nông nghiệp – nông thôn một diện mạo mới; đời sống của người dân từng bước được cải thiện, cơ cấu kinh tế nông nghiệp-nông thôn chuyển dịch theo hướng ngày càng hoàn thiện, cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội được xây dựng và bước đầu hoàn thiện. Nhằm góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, các tổ chức xã hội dân sự đã được tạo điều kiện phát triển. Các tổ chức xã hội dân sự cũng đã phần nào phát huy được vai trò tích cực đối với quá trình phát triển nông thôn. Tuy nhiên, phát triển kinh tế thị trường tạo ra những bất cập rất lớn trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và môi trường. Những bất cập đó thể hiện rõ nét trong khu vực nông thôn như: thu nhập thấp, người dân mất đất không có việc làm, khoảng cách giàu nghèo gia tăng, nông dân bị hạn chế trong việc tiếp cận các dịch vụ giáo dục, y tế, bảo hiểm xã hội; sản xuất không có tích lũy, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Để giải quyết những vấn đề trên, bên cạnh sự điều hành của Chính phủ còn cần có sự đóng góp không nhỏ của xã hội dân sự mà nòng cốt là hệ thống các tổ chức xã hội dân sự. Các tổ chức này được gắn kết bởi những nhu cầu, lợi ích chung, các giá trị hoặc truyền thống chung để tiến hành nhiều hoạt động khác nhau nhằm phối hợp với Nhà nước, bổ sung cho những khiếm khuyết của Nhà nước, đảm bảo sự ổn định, cân bằng và phát triển bền vững của xã hội. Xuất phát từ lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả chọn đề tài “Phát triển các tổ chức xã hội dân sự góp phần phát triển nông thôn tỉnh Nghệ An” để nghiên cứu trong luận văn thạc sỹ của mình. 2 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: - Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về các tổ chức xã hội dân sự; - Đánh giá thực trạng phát triển của các tổ chức xã hội dân sự và vai trò của nó đến phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn tỉnh Nghệ An; - Đề xuất các giải pháp phát triển các tổ chức xã hội dân sự nhằm hỗ trợ phát triển nông thôn tỉnh Nghệ An. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 3.1- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác tổ chức và hoạt động các tổ chức xã hội dân sự; bao gồm: Các Tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức kinh tế-xã hội, các tổ chức cộng đồng và các Quỹ và các tổ chức Phi Chính phủ (NGO) và vai trò của các tổ chức xã hội dân sự đối với phát triển nông thôn tỉnh Nghệ An. 3.2- Phạm vi nghiên cứu: + Không gian: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về các tổ chức xã hội dân sự tại tỉnh Nghệ An. + Thời gian: Các số liệu thống kê phục vụ cho nghiên cứu được thu thập từ năm 2005 đến hết năm 2010. 4. Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, trong quá trình thực hiện đề tài, các phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm: - Phân tích tổng hợp, kết hợp phân tích định lượng và định tính để giải thích số liệu, liên hệ với các nguyên nhân từ thực tiễn. - Phương pháp thu thập tài liệu. - Phương pháp xử lý tài liệu. 3 - Phương pháp điều tra khảo sát. Luận văn tiến hành điều tra khảo sát Lãnh đạo tỉnh, Lãnh đạo MTTQ VN, các tổ chức XHDS và thành viên các tổ chức ở cấp tỉnh, 03 huyện và 10 xã trên địa bàn tỉnh Nghệ An. - Phương pháp chuyên gia. 5. Đóng góp của luận văn: - Phân tích có tính hệ thống những vấn đề chung về các tổ chức xã hội dân sự trong nông thôn và vai trò của nó đối với việc phát triển nông thôn. - Làm rõ thực trạng phát triển các tổ chức xã hội dân sự cũng như vai trò của nó đối với nông thôn tỉnh Nghệ An. - Đưa ra được một số định hướng và giải pháp nhằm phát triển các tổ chức xã hội dân sự góp phần phát triển nông thôn tỉnh Nghệ An. 6. Bố cục của luận văn: Ngoài lời mở đầu và kết luận, đề tài được chia làm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển các tổ chức xã hội dân sự nói chung và ở nông thôn nói riêng Chương 2: Thực trạng phát triển và vai trò hỗ trợ của các tổ chức xã hội dân sự đối với phát triển nông thôn tỉnh Nghệ An thời gian qua Chương 3: Chính sách và giải pháp phát triển các tổ chức xã hội dân sự ở nông thôn tỉnh Nghệ An. 4 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ NÓI CHUNG VÀ Ở NÔNG THÔN NÓI RIÊNG 1.1- Bản chất, chức năng của các tổ chức XHDS 1.1.1- Khái niệm XHDS hiện đang là vấn đề được cả giới nghiên cứu khoa học lẫn các nhà hoạch định chính sách quan tâm. Khái niệm “ xã hội dân sự” xuất hiện khá sớm ở Châu Âu. Các định nghĩa phổ biến về “ xã hội dân sự” hiện nay đều nhấn mạnh tới tinh thần tự nguyện của công dân trong việc bảo vệ các quyền lợi hợp pháp và giá trị của mình. Theo đó, xã hội dân sự được tạo lập bởi các đoàn thể nhằm kết nối giữa những nhóm quyền lợi hiện đại và những tổ chức truyền thống, giữa các tổ chức chính thức và phi chình thức. Ở Việt Nam, ngoài các tổ chức xã hội truyền thống, nhiều tổ chức xã hội mới đã và đang ra đời. Các tổ chức đó đang tích cực tham gia và đóng góp vào nhiều hoạt động xã hội, góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội Việt Nam trong điều kiện mới. “Xã hội dân sự” là khái niệm xuất hiện sớm nhất ở nước Anh (1594), nó được hiểu là những con người sống trong cộng đồng. Sau đó, khái niệm này có 2 nghĩa. Trong lý thuyết của các nhà triết học Scottish (thế kỷ XVIII), xã hội dân sự có nghĩa là xã hội văn minh với một Nhà nước không độc đoán. Đến thế kỷ XIX, ở nước Đức, trong các trước tác chính trị của Hegen, thuật ngữ xã hội dân sự phân biệt với Nhà nước. Hegen mô tả xã hội dân sự như là một phần của đời sống đạo đức, bao gồm ba yếu tố gia đình, xã hội dân sự và Nhà nước, khái niệm hàm nghĩa lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó các cá nhân theo đuổi lợi ích riêng trong giới hạn đã được pháp luật thừa 5 nhận. Nhà triết học này thừa nhận rằng, một xã hội dân sự tự tổ chức cần phải do Nhà nước cân nhắc và đặt trật tự cho nó, nếu không xã hội đó sẽ trở thành tư lợi và không đóng góp gì cho lợi ích chung. Xét về những điều kiện lịch sử của xã hội dân sự, nó có thể được coi là một thành quả của sự phát triển lịch sử nhân loại. Ở Việt Nam, trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, hàng loạt các tổ chức XHDS đã ra đời và phát triển mạnh. Sự tham gia của người dân vào công cuộc phát triển ngày càng được thúc đẩy. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có những nghiên cứu một cách cơ bản về XHDS, làm rõ vai trò, vị trí và xây dựng những cơ chế chính sách nhằm phát huy hơn nữa tính tích cực của người dân, sự đóng góp của XHDS và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ở nghiên cứu này, chúng ta có thể sử dụng một khái niệm tương đối đơn giản, đó là: Xã hội dân sự (XHDS) bao gồm các tổ chức xã hội nằm ngoài nhà nước, nằm ngoài các hoạt động của doanh nghiệp (thị trường), nằm ngoài gia đình, để liên kết người dân với nhau trong những hoạt động vì một mục đích chung. Thành phần quan trọng của XHDS là các Hội, Hiệp hội trong dân chúng, trong làng xóm, mang tính chất liên kết cộng đồng. Mặt khác có thể coi XHDS là diễn đàn, là nơi mọi người bắt tay nhau để thúc đẩy quyền lợi chung. XHDS hỗ trợ người dân thực thi luật pháp, đồng thời phản ánh nguyện vọng người dân. Nếu thể chế nhà nước hoạt động dựa vào luật, thể chế thị trường hoạt động dựa vào lợi nhuận thì thể chế XHDS vẫn tuân theo pháp luật, tuân theo thị trường, nhưng thúc đẩy khía cạnh đạo đức, khai thác tính nhân văn, tính cộng đồng. Một trong những phẩm chất tích cực của các tổ chức XHDS là khả năng thực hiện các chính sách xã hội của họ đối với người nghèo và nhóm người kém vị thế trong khi các chương trình của chính phủ khó có thể kham nổi. Sức mạnh của các tổ chức XHDS là tính chuyên môn hóa và đưa ra được những ý tưởng và phương thức mới mẻ. 6 1.1.2- Bản chất Cần phải nhấn mạnh rằng, bản chất của xã hội dân sự là tính tự lập của xã hội, tức là xã hội phải giải quyết các vấn đề của nó. Nhà nước là một bộ phận của xã hội nhằm giải quyết những vấn đề có chất lượng chiến lược của đời sống chứ không phải là người giải quyết tất cả các vấn đề của đời sống. Xã hội dân sự là một xã hội tự quản lấy mình và đến một mức độ mà nó không có khả năng để tự quản nữa thì phần còn lại đó rơi vào nhà nước chuyên nghiệp. Hay nói cách khác, nhà nước chuyên nghiệp là bộ phận nối dài của xã hội dân sự để giải quyết những công việc mà bản thân xã hội không tự giải quyết được Phải chăng XHDS chỉ là sản phẩm của nhà nước pháp quyền? Đúng nhưng không đủ. XHDS ra đời trước hết là do kinh tế thị trường đòi hỏi quyền tự do kinh doanh và được bảo vệ lợi ích của mình. Nhưng thị trường chỉ lo kinh tế, lo lợi nhuận là chính, ít quan tâm và không lo được các vấn đề xã hội, lợi ích dân sinh. Đồng thời, nhà nước cũng chỉ lo được những vấn đề lớn, nguồn lực, năng lực cũng có hạn, nên các tổ chức xã hội do dân lập ra phải tự lo lấy và giải quyết các vấn đề của mình. Xã hội tự nó cũng có nhu cầu tự tổ chức, tự thể hiện và tự vệ. Hơn nữa nhờ có XHDS đó mà tránh được phần nào sự lạm quyền từ cả kinh tế thị trường và nhà nước. Các tổ chức xã hội ở nước ta trước đây, có khi xuất hiện còn do các nhu cầu vận động nhân dân chống ngoại xâm, hay tự vệ. Hiến pháp năm 1946 cũng cho phép nhân dân tự lập Hội. Nhưng ngày nay với nền kinh tế mới, nhà nước pháp quyền, nền dân chủ của nhân dân, thì dân tự do lập hội, để thể hiện và bảo vệ lợi ích chính đáng của mình. XHDS vì vậy tạo nên một mạng lưới tổ chức rộng khắp và đa tầng. Đúng là XHDS không chỉ bị chi phối bởi kinh tế thị trường, mà cả nhà nước pháp quyền. Nhưng chưa đủ, mà nó còn bị chi phố khá mạnh về truyền thống văn hóa nói chung và văn hóa chính trị nói riêng, và phụ thuộc vào cả sự tương quan lực lượng xã hội của nó. 7 1.1.3- Đặc điểm Trong các xã hội hiện đại, dân chủ; XHDS đóng vai trò quan trọng đặc biệt. Hành động của XHDS sẽ đem lại kết quả hiện thực trực tiếp từ điều tiết xã hội bởi các công dân bình đẳng; Các lợi ích công dân có thể được thực hiện và trình tự đại diện một cách dân chủ, được ảnh hưởng qua can thiệp của XHDS trong các quá trình ra quyết định xã hội; Sự tham gia của XHDS đã giúp cho công dân nâng cao trình độ, có kỹ năng cần thiết để thực hiện vai trò công dân của mình; Và các hoạt động XHDS có thể cải thiện sự tự lực, trợ giúp cho người khác, về chất và lượng phù hợp với điều kiện vật chất và xã hội, chứ không đơn giản là cung cấp lợi ích phúc lợi. Chúng ta có thể khái quát các đặc điểm của XHDS như sau: - Tính chất tự nguyện của XHDS thể hiện ở các tiêu chí của hành động XHDS: Sự tham gia tổ chức XHDS là tự nguyện, các hành động được tổ chức một cách độc lập và hành động nhằm trực tiếp đạt được lợi ích xã hội chung. Cần nhấn mạnh là, hành động XHDS không phải là hành động tự phát cá nhân, hoặc được quyết định bởi các cá nhân để dung hòa lợi ích của mình. Mặc dù, đó là hành động phi chính phủ, song nó được coi là hành động chính trị, nơi các công dân hình thành các mục tiêu chung và cách thức thực hiện mục tiêu thông qua hành động thống nhất. Nghĩa là, các hành động nhóm xã hội, nếu không bao hàm mục tiêu vì lợi ích xã hội chung, thì không được coi là bộ phận của XHDS. - Tính tự tổ chức của XHDS, như cách diễn đạt của Habermas được khẳng định, là “XHDS được hình thành từ các tổ chức hiệp hội, phong trào tương đối tự phát, có trách nhiệm “thu-phát cô đọng hoặc phóng thanh” các âm điệu của đời sống cá nhân và chuyển chúng thành mối quan tâm ở lĩnh vực chính trị hoặc công cộng. - Tính tự chủ, đa dạng, đa nguyên và sự ảnh hưởng của các chủ thể XHDS thể hiện ngày càng mạnh mẽ. Chẳng hạn, hiện nay, tồn tại một số dạng thức chủ thể XHDS chính gồm các tổ chức phi chính phủ, các phong trào xã hội, các mạng lưới xã hội theo kiểu tách biệt, linh hoạt và các nhóm XHDS cơ sở…Mỗi loại kiểu này khác nhau về 8 đặc điểm cấu trúc, quan niệm và định hình các vấn đề, phương thức hoạt động, các mục tiêu chiến lược. - Về hình thức, các tổ chức XHDS đa dạng, phong phú, song đều phải mang đặc điểm chung là phi lợi nhuận, phi thương mại, hành động mang tính tập thể, có trách nhiệm giải trình, cam kết minh bạch, tính chất dân sự và dân sự hóa. Các hình thức của tổ chức XHDS, bao gồm tổ chức tình nguyện, nhóm cộng đồng, nhóm tôn giáo, công đoàn, tổ chức phi chính phủ. Đó có thể là các đảng chính trị cam kết phát triển đất nước và nhóm cấp tiến ở vị trí đối lập với trật tự cầm quyền hiện hành…Đó có thể là hình thức tư nhân song hoạt động chỉ nhằm mục đích công cộng, định hướng vì lợi ích xã hội chung, thể hiện tính đại diện, điều hành trên cơ sở đồng thuận và không ép buộc. - Về mức độ hiện diện và hiệu quả hoạt động, một số tổ chức có đặc điểm nổi trội khác biệt, tùy thuộc truyền thống lịch sử, thời gian vận động, điều kiện tồn tại, tham gia các lĩnh vực hoạt động khác nhau, song, đều thể hiện vai trò định hình ảnh hưởng tới các chương trình nghị sự chính trị quốc gia, và định hướng theo các mục tiêu đặc thù của tổ chức. Thông thường các tổ chức phi lợi nhuận, phi chính phủ xác định hoạt động ở những khoảng “ngách”, lĩnh vực còn “bỏ ngõ” hoặc ở nơi còn tồn tại khoảng cách lớn về kinh tế - xã hội, triển khai các hoạt động định hướng khắc phục sự thất bại của thị trường hoặc nhà nước, hoặc có tính chất bổ trợ cho hoạt động của tổ chức thuộc khu vực công hoặc các nhà cung cấp dịch vụ khác. - Về môi trường, điều kiện hoạt động XHDS: Trách nhiệm của nhà nước là tạo điều kiện kinh tế, xã hội cho XHDS hoạt động. Nhà nước dân chủ hiện đại cần thúc đẩy các hoạt động XHDS và tạo ra XHDS sống động, tạo ra cơ hội cho người dân tham gia XHDS. Các tổ chức XHDS không thể hoạt động bình thường, nếu thiếu vắng khuôn khổ thể chế luật pháp và đảm bảo các quyền cơ bản và tự do chính trị. Đối với các tổ chức XHDS cần thiết lập cơ sở nền tảng pháp lý hiệu quả, bảo vệ các quyền chính trị và dân sự cho cá nhân và nhóm xã hội và được đảm bảo bởi hiến pháp. 9 Bên cạnh các đặc điểm của XHDS nói chung như đã phân tích ở trên, thì các tổ chức XHDS ở nông thôn Việt Nam còn mang một số đặc điểm như sau: - Các tổ chức XHDS ở Việt Nam có sự thấm nhuần về văn hóa cộng đồng, tính đoàn kết, tương trợ và đồng thuận xã hội cao, có mầm mống trong xã hội làng xã xưa. - Có sự hình thành các tổ chức XHDS, hoặc là để đấu tranh chính trị, hoặc để bảo vệ quyền lợi xã hội trong đời sống trước sự áp đặt của cường quyền. - Các tổ chức XHDS hoạt động trong thể chế một đảng cầm quyền, do đó chúng mang sắc thái của tổ chức chính trị - xã hội và trong hệ thống chính trị. Do đó các tổ chức XHDS mang tính trung gian 2 mặt. - Các tổ chức XHDS phát triển dựa trên nền kinh tế nhiều thành phần, định hướng xã hội chủ nghĩa; đây là điểm khác biệt so với các tổ chức XHDS ở phương Tây. - Các tổ chức XHDS ở Việt Nam cơ bản không mang tính đối kháng trong nó và đối lập với Nhà nước. Chúng có tính đồng thuận và đoàn kết xã hội khá cao. - XHDS là khái niệm mới mẻ, tuy nhiên những nền móng của XHDS ở Việt Nam đã tồn tại từ ngày xưa, trong các cộng đồng làng xã. 1.1.4- Chức năng - Là cầu nối, kênh truyền dẫn tiếng nói, nguyện vọng của người dân đến với nhà nước hay nói cách khác, là xã hội hóa các cá nhân, nối cá nhân với hệ thống xã hội. - Tham gia hoạch định các chủ trương, chính sách của nhà nước, phối hợp với nhà nước trong hoạch định, thực hiện và giám sát thực hiện các chính sách, góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp lý. - Tổ chức phản biện xã hội đối với các chủ trương, chính sách cũng như việc thực hiện chính sách, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, kiểm soát và giám sát hành vi của đội ngũ công chức nhằm góp phần chống quan liêu, tham nhũng, nâng cao hiệu lực và hiệu quả của nhà nước. 10 - Phát huy các nguồn lực và tính năng động, sáng kiến của các tầng lớp dân cư, tham gia hoạt động cung cấp dịch vụ công như giáo dục, y tế, văn hoá, khoa học, bảo vệ môi trường, xoá đói giảm nghèo,… tạo điều kiện nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi người và của toàn xã hội. Cả bốn chức năng trên đều quan trọng và có quan hệ chặt chẽ với nhau. Việc xem nhẹ một trong các chức năng đó biểu hiện sự nhận thức không đúng về vai trò, chức năng của xã hội dân sự và ảnh hưởng đến sự ổn định, phát triển của xã hội. Mục tiêu của xã hội dân sự hiện đại là phát triển và hoàn thiện con người, coi đó là điều kiện để phát triển cộng đồng, xã hội và nhân loại. Sự phát triển của xã hội dân sự hướng tới những giá trị tiến bộ chung của nhân loại; đồng thời, phụ thuộc vào tính giai đoạn, đặc điểm lịch sử cụ thể của từng nước cũng như hình thức, kiểu nhà nước và hệ thống chính trị của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, xã hội dân sự là một khu vực không thuần nhất, tính đồng thuận không cao và thiếu tính nhất quán. Mặt khác, bản thân xã hội dân sự cũng có những giới hạn và gặp phải một số thách thức nhất định, đó là khi các hiệp hội, hội, tổ chức cộng đồng chỉ chăm lo đến lợi ích cục bộ của mình mà không quan tâm đến lợi ích toàn xã hội. Khi đó, tính tự chủ, tự nguyện và tự quản của xã hội dân sự sẽ có nguy cơ tạo ra các “lệ” riêng, cản trở việc thực thi chính sách và pháp luật của Nhà nước, hạn chế sự phát triển chung của xã hội. Vì vậy, các thể chế của xã hội dân sự cần phải được quản lý và định hướng bằng pháp luật của nhà nước, nhằm tạo ra một môi trường dân chủ, lành mạnh cho sự phát triển hài hoà của toàn xã hội. Nói cách khác, điều kiện để hình thành một xã hội dân sự lành mạnh là phải có một nhà nước pháp quyền vững mạnh, có hiệu lực và hiệu quả để xây dựng khung pháp luật, tạo môi trường thuận lợi, bảo vệ và trợ giúp cho xã hội dân sự, phục vụ xã hội dân sự. 11 1.2- Vị trí của các tổ chức XHDS trong mối quan hệ Nhà nước - Khu vực tư nhân - Các tổ chức XHDS 1.2.1. Trong mối quan hệ với Nhà nước Như chúng ta đã nói, một trong những chức năng của xã hội dân sự là cầu nối giữa cá nhân với nhà nước. Nhà nước pháp quyền trong xu thế phát triển ngày càng có tính phổ biến của nền chính trị hiện đại đã thể hiện những ưu thế, tính hiệu quả trong việc tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước, dân chủ hóa xã hội. Nhưng, nhà nước cũng không phải là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi vấn đề của sự phát triển xã hội. Bản thân nhà nước pháp quyền cũng gặp phải những giới hạn và thách thức nhất định, như nguồn lực cần thiết để tổ chức và vận hành khá lớn, phải có những điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định và việc xây dựng nhà nước đó là một quá trình lâu dài, khó khăn và phức tạp. Mâu thuẫn giữa tính bắt buộc, quy chuẩn có giới hạn của pháp luật và sự phong phú, sinh động, đa dạng của nhu cầu mọi mặt của cá nhân cũng như của xã hội bắt đầu xuất hiện. Pháp luật là tối thượng, nhưng trong không ít trường hợp, khi đã nắm được quyền lực công, các tổ chức và cá nhân được trao quyền trở nên quan liêu, tha hóa, tự đặt mình lên trên xã hội. Thậm chí, những người cai trị "bảo đảm quyền này của họ bằng những đạo luật đặc biệt, những đạo luật khiến cho họ trở thành đặc biệt thần thánh và đặc biệt bất khả xâm phạm. Trong tình huống này, tính tối thượng của pháp luật có thể lại là mối nguy hiểm cho xã hội. Quá trình phát triển của xã hội hiện đại cho thấy một thực tế hiển nhiên là các cơ quan nhà nước và đội ngũ công chức nhà nước, dù hết sức tận tụy cống hiến hay có tinh thần vì công chúng như thế nào đi chăng nữa, thì cũng không thể dự kiến trước được tất cả các hàng hoá công cộng và dịch vụ mà các công dân muốn có. Việc xuất hiện những biện pháp thay thế của các tổ chức quần chúng, tổ chức phi chính phủ và tư nhân có thể giúp lấp đi những khoảng trống trong việc cung cấp hàng hoá công cộng, cũng như cung cấp những hàng hoá và dịch vụ công nào mà các cá nhân muốn trả bằng 12 tiền của riêng họ. Các đoàn thể nhân dân, các hội có thể vừa là những cộng sự, vừa là những đối thủ cạnh tranh trong việc cung cấp các dịch vụ công. Cuối cùng chúng ta phải khẳng định rằng: “Không thể có “xã hội dân sự” nếu không có “Nhà nước pháp quyền”, ngược lại, “nhà nước pháp quyền”không thể hoạt động tốt, nếu không có “xã hội dân sự”. Tóm lại, XHDS và Nhà nước thường có hai quan hệ chủ yếu sau đây cần khẳng định: - XHDS là một đối tác bình đẳng với nhà nước, cùng tham gia hoạch định chính sách, đồng thời thực hiện và giám sát việc thực hiện các chính sách của nhà nước. Điều quan trọng ở đây là cùng bình đẳng tham gia các chủ trương chính sách cơ sở, mà XHDS không phải là “cánh tay nối dài” của nhà nước; - XHDS là đối quyền với quyền lực nhà nước. Đối quyền ở đây không hoàn toàn là đối lập, có người gọi là đối trọng, mang tính phản biện xã hội nhằm hoàn thiện các chính sách của nhà nước. Tại nhiều nước trên thế giới, vai trò của XHDS rất đặc biệt. Đây là nơi thể hiện quyền tự do nhiều mặt của công dân: Tự do lập hội, ra hội, tự do ngôn luận…Về mặt ý nghĩa chính trị xã hội thì sự xuất hiện của XHDS - Có hoạt động của các tổ chức phi chính phủ - Là một thước đo đánh giá trình độ văn minh, tiến bộ xã hội. Nó nói lên tính đa dạng của thiết chế xã hội và chứng tỏ độ mở về dân chủ trong xã hội. Không những thế, đứng về mặt bằng phát triển thì nó góp phần bảo đảm ổn định xã hội, san sẻ trách nhiệm với nhà nước. Các hoạt động của NGO trong một XHDS phát triển lành mạnh sẽ tạo nhiều sự đồng thuận trong xã hội, thêm động lực cho phát triển bền vững. 1.2.2- Trong mối quan hệ với khu vực tư nhân Trong một xã hội dân chủ, thì XHDS cũng như thị trường kinh tế đều là do các tư nhân tổ chức và điều hành, mà không bị nhà nước không chế, lũng đoạn. Thế nhưng có sự khác biệt về động cơ thúc đẩy hoạt động, đó là XHDS không nhằm tìm kiếm lợi 13 nhuận; trong khi đó thì các công ty, xí nghiệp trong khu vực Thị trường kinh tế chỉ hoạt động với mục đích cốt yếu là để kiếm lời, để làm giàu cho bản thân và cho doanh nghiệp của mình. Mặt khác, Thị trường kinh tế còn bị nhà nước kiểm soát để ngăn ngừa nạn độc quyền, sự khai thác bóc lột nhân công, hay gây xáo trộn thị trường tiêu thụ v.v…Tuy nhiên, các doanh nghiệp lại hỗ trợ tài chính cho các hoạt động từ thiện, nhân đạo hay cho ngành giáo dục, văn hóa… Việc này được nhà nước khuyến khích bằng cách cho miễn phải đóng thuế. Như vậy, chúng ta thấy giữa khu vực thị trường và các tổ chức XHDS có sự phối hợp với nhau, cùng nhau chia sẻ những vấn đề của xã hội với Nhà nước. 1.3- Các hình thức cơ bản của các tổ chức XHDS nói chung và ở nông thôn nói riêng Một cách khái quát không thể phủ nhận được với XHDS đó là một bước tiến của loài người trong tổ chức của cộng đồng, bên cạnh sự tiến bộ của các thiết chế nhà nước ngày càng hợp lý thì xã hội cũng hình thành một loạt các thiết chế xã hội da dạng phong phú, hợp với xu thế phát triển mà các lý luận về chủ nghĩa xã hội của Chủ nghĩa Mác đã nói: Nhà nước sẽ nhỏ đi và xã hội sẽ lớn lên. Vai trò của tự quản trong cộng đồng mạnh lên là một chặng đường thăng tiến đáng kể của nhân loại. Vai trò tự quản ấy chính là nằm ở các tổ chức xã hội với thiết chế riêng bên cạnh thiết chế nhà nước đó là nhân tố bộ phận hợp thành XHDS. Các tổ chức XHDS rất đa dạng về loại hình, tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn này chúng ta phân tích các hình thức cơ bản của các tổ chức XHDS trong nông thôn hiện nay gồm 04 nhóm, bao gồm: Nhóm 1: Các tổ chức xã hội có tính đại diện giới, ở Việt Nam còn gọi là các tổ chức quần chúng hay là các tổ chức chính trị xã hội; bao gồm các tổ chức thuộc hệ thống Mặt trận tổ quốc. 14 Nhóm 2: Các tổ chức xã hội có tính đại diện nghề nghiệp, ngành, lĩnh vực. Ở Việt Nam thường gọi là các tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp hay là các tổ chức xã hội nghề nghiệp; mà đại diện là các Hội, Hiệp Hội… Nhóm 3: Các tổ chức Phi Chính phủ (NGO), hay thường có tên gọi là các Quỹ. Đây là loại hình rất đa dạng và phong phú. Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện nay, có 200 quỹ có phạm vi hoạt động toàn quốc hoặc liên tỉnh như: Quỹ chử thập đỏ, Quỹ bảo trợ nạn nhân chất độc da cam, Quỹ khuyến học, Quỹ tình thương…Ở từng địa phương, tùy tình hình của từng địa phương mà chính quyền cũng đã cho phép thành lập hàng trăm tổ chức các loại quỹ xã hội, quỹ từ thiện Nhóm 4: Các tổ chức cộng đồng; đây là các tổ chức mang tính chất “phi chính thức”, do người dân tự lập ra trong các cộng đồng dân cư. 1.4- Vai trò của các tổ chức XHDS: 1.4.1- Đối với phát triển kinh tế xã hội nói chung: Ở nước ta, trong công cuộc đổi mới, cùng với sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và dân chủ hoá đời sống xã hội, Nhà nước đã từng bước chuyển sang thực hiện chức năng định hướng, bảo trợ, tạo lập môi trường và điều kiện thuận lợi cho người dân được tự do phát triển sản xuất kinh doanh, tổ chức cuộc sống. Nhờ đó, khu vực xã hội dân sự ngày càng có điều kiện phát triển, quan hệ xã hội của người dân được tự do, cởi mở hơn; nhu cầu giao tiếp, liên hệ giữa các cá nhân có điều kiện được thoả mãn; tính tích cực xã hội của người dân, của các đoàn thể nhân dân, các hội, tổ chức phi chính phủ, các nhóm xã hội có tư cách pháp nhân và không có tư cách pháp nhân được phát huy mạnh mẽ, góp phần vào sự phát triển của đất nước. Mặt khác, xu thế đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng đa phương hoá, đa dạng hoá trong quan hệ quốc tế đòi hỏi các quan hệ đối ngoại không chỉ được thực hiện theo con đường của Nhà nước, mà còn bằng các hình thức đối ngoại nhân dân thông qua các đoàn thể nhân dân, các hội, tổ chức phi chính phủ. 15 Nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức quần chúng, các hội trong sự nghiệp đổi mới đất nước, ngay từ năm 1990, trong Nghị quyết số 8B-NQ/ HNTW (khoá VI), Đảng ta đã chủ trương: “Trong giai đoạn mới, cần thành lập các hội đáp ứng nhu cầu chính đáng về nghề nghiệp và đời sống nhân dân hoạt động theo hướng ích nước, lợi nhà, tương thân, tương ái. Các tổ chức hội quần chúng được thành lập theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản và tự trang trải về tài chính trong khuôn khổ pháp luật”. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng tiếp tục khẳng định: “Mở rộng và đa dạng hoá các hình thức tập hợp nhân dân tham gia các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội, các hội nghề nghiệp, văn hoá, hữu nghị, từ thiện - nhân đạo…” Hiện nay, ở nước ta, bên cạnh các đoàn thể nhân dân có truyền thống lịch sử gắn với quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, các hội, tổ chức phi chính phủ đã, đang được thành lập và hoạt động trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội với nhiều mô hình rất đa dạng, phong phú. Tính đến tháng 6 - 2005, đã có 320 hội hoạt động trên phạm vi toàn quốc, hơn 2.150 hội có phạm vi hoạt động tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và hàng chục vạn hội, tổ chức cộng đồng tự quản, tổ hoà giải có phạm vi hoạt động tại các quận, huyện, thị xã, thị trấn, xã, thôn, làng, ấp, bản… Đồng thời, hiện có khoảng 600 tổ chức phi chính phủ nước ngoài có quan hệ với Việt Nam, trong đó có gần 350 tổ chức có chương trình, dự án đối tác với Việt Nam. Nhiều tổ chức đang đề nghị Chính phủ Việt Nam cho lập các văn phòng đại diện, văn phòng dự án… Ngoài các hội, tổ chức phi chính phủ được thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, còn có các hội quần chúng, tổ chức cộng đồng có tính truyền thống hoặc do người dân tự nguyện thành lập, không có tư cách pháp nhân (hay còn gọi là hội không chính thức), như tổ, nhóm tự quản, hội đồng hương… và các câu lạc bộ. Tuỳ tính chất và chức năng, nhiệm vụ của mỗi loại hình tổ chức, bên cạnh việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các hội viên, thành viên, các tổ chức này đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển của đất nước trên nhiều phương diện: 16 - Các tổ chức có tính chất chính trị - xã hội đã tập hợp, giáo dục và phản ánh yêu cầu, nguyện vọng cũng như bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của quần chúng nhân dân, thực sự là cầu nối giữa nhân dân và nhà nước; tham gia có hiệu quả vào việc xây dựng và thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, phát huy và thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa, giám sát đối với các cơ quan nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức; tư vấn và phản biện xã hội đối với các chủ trương, chính sách của Nhà nước. Trong điều kiện hệ thống chính trị do một Đảng duy nhất lãnh đạo và đóng vai trò hạt nhân, dễ xảy ra nguy cơ đội ngũ cầm quyền sẽ xa dân, quan liêu, lạm quyền… Vì vậy, các tổ chức chính trị – xã hội là những thể chế thích hợp để vừa đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, vừa tránh được mọi nguy cơ nói trên, tức là thực hiện sự giám sát và phản biện xã hội đối với Đảng và Nhà nước. Với ý nghĩa đó, các tổ chức chính trị – xã hội không chỉ có chức năng tập hợp, động viên quần chúng, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của đoàn viên, hội viên, mà còn có chức năng thực hành dân chủ, giám sát, phản biện xã hội nhằm bảo đảm cho sự lãnh đạo và điều hành đất nước tránh được những sai lầm, khuyết điểm do tình trạng quan liêu, chủ quan duy ý chí gây nên. - Xã hội dân sự với vai trò phản biện và vai trò trọng tài: Xã hội dân sự là một xã hội tự cân bằng. Chính sự tự cân bằng của xã hội đã tạo ra chức năng và nội dung của hoạt động nhà nước. Ở mỗi một thời đại, mỗi một thể chế chính trị hoặc mỗi một trình độ phát triển, nội dung của xã hội dân sự khác nhau. Gần đây, khi nói đến xã hội dân sự người ta vẫn nói đến các tổ chức độc lập với nhà nước, tức là các tổ chức phi chính phủ. Xã hội dân sự là xã hội phi nhà nước. Xã hội dân sự tồn tại song song với nhà nước. Nó có quy tắc văn hóa để hạn chế tất cả sự cực đoan, tất cả những hành vi không phù hợp với lợi ích công cộng. Trong đời sống dân sự hàng ngày con người ít cần đến nhà nước, con người có những tổ chức phi chính phủ để thể hiện những loại hình ý chí khác nhau của cộng đồng, họ thương thảo với nhau và tạo ra sự đồng thuận xã hội. 17 Sẽ không thể có hoạt động phản biện xã hội nếu xã hội dân sự không được tôn trọng hoặc không có được địa vị hợp pháp của nó. Bởi thứ nhất, phản biện là một quyền tự nhiên, là tiếng nói của xã hội dân sự, xã hội không có địa vị hợp pháp thì có nghĩa là quyền ấy cũng không hợp pháp. Vậy làm thế nào để xã hội thực hiện quyền phản biện? Thứ hai, xã hội cũng chính là trọng tài của các cuộc phản biện, hay nói đúng hơn là trọng tài giữa các khuynh hướng khác nhau tranh luận với nhau thông qua phản biện, Sự đánh giá đúng sai được thể hiện bằng sự hoan hô của xã hội đối với từng loại ý kiến, đối với từng mức độ chất lượng của ý kiến.Nếu xã hội không được tôn trọng, xã hội không có địa vị hợp pháp thì liệu xã hội có thể tự do thể hiện sự hoan hô của mình đối với những ý kiến có chất lượng không? Và khi đó phản biện xã hội liệu có còn tác dụng? Cho nên, vấn đề ở đây là chúng ta cần phải xác định rõ vai trò và địa vị của xã hội dân sự để có được quan niệm đúng đắn về xã hội dân sự, dựa vào đó mà thức tỉnh xã hội về những quyền hợp pháp của mình, đồng thời thức tỉnh nhà nước về việc tôn trọng địa vị hợp pháp của xã hội dân sự. - Các tổ chức xã hội - nghề nghiệp được thành lập nhằm mục đích phối hợp sức mạnh sản xuất kinh doanh, tăng cường khả năng cạnh tranh, góp phần xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, tư vấn thẩm định, phản biện xã hội đối với các chính sách, công trình kinh tế của nhà nước, bảo vệ hàng hoá, chất lượng sản phẩm; tìm hiểu và nắm bắt nhu cầu thị trường, bảo vệ người tiêu dùng, thương lượng giải quyết các tranh chấp thương mại. Vụ kiện áp đặt Luật chống bán phá giá cá Basa và cá da trơn, bán tôm vào thị trường Hoa Kỳ… của Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam (VASEP) là ví dụ điển hình. Đồng thời, nhiều tổ chức này đã bước đầu đảm nhiệm tương đối có hiệu quả việc cung ứng một số dịch vụ công phục vụ xã hội, góp phần thực hiện chủ trương xã hội hoá của Đảng và Nhà nước. - Các hội, tổ chức phi chính phủ đã góp phần khai thác mọi nguồn lực để phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội; vận động hội viên tích cực tham gia vào nhiệm vụ xây dựng xã hội, phát triển kinh tế; phát huy tính năng động, tính tích cực xã hội của mỗi 18 công dân; góp phần cùng Nhà nước giải quyết những khó khăn về kinh tế - xã hội do chiến tranh, do nền kinh tế chậm phát triển cũng như do sự phân hoá giàu nghèo trong quá trình phát triển kinh tế thị trường gây nên. - Mặt khác, các tổ chức đó còn góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân, tăng cường sự hiểu biết, hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa các quốc gia trong việc giải quyết các vấn đề có tính chất toàn cầu, như bảo vệ môi trường sinh thái, chống đói nghèo, giảm nhẹ hậu quả do thiên tai… Tuy nhiên, hiện vẫn còn một số cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức cũng như người dân chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng và tác dụng của khu vực xã hội dân sự trong đời sống xã hội; có biểu hiện xem nhẹ vai trò, tác dụng của các đoàn thể nhân dân, các hội; chậm ban hành, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức, hoạt động và quản lý hội cho phù hợp với tình hình mới. Mặt khác, bản thân các đoàn thể nhân dân, các hội chưa phát huy đầy đủ chức năng đại diện cho lợi ích của quần chúng nhân dân và hội viên của mình. Một số tổ chức đoàn thể nhân dân, hội còn mang tính hình thức, hoạt động kém hiệu quả, chưa đáp ứng được nguyện vọng và lợi ích của đoàn viên, hội viên, hoặc có biểu hiện trông chờ vào sự tài trợ của nhà nước; “hành chính hoá” về mặt tổ chức và hoạt động. Do đó, khả năng thu hút quần chúng của các tổ chức này còn hạn chế; việc tham gia cung cấp dịch vụ công chưa được triển khai đúng với tôn chỉ và mục đích, thậm chí có trường hợp chạy theo lợi nhuận kinh tế đơn thuần. 1.4.2- Đối với phát triển kinh tế xã hội nông thôn nói riêng Trước hết, tỷ lệ dân số sống ở nông thôn đã giảm đi, từ 75,8% năm 2000 xuống 73% năm 2005, tức giảm bình quân 0,7%/năm, trong khi tỷ lệ dân số sống ở thành thị đã tăng lên, từ 24,2% năm 2000 lên 27% năm 2005. theo tổng cục Thống kê, số liệu sơ bộ năm 2009 là tỷ lệ dân số trong nông thôn là 70,40%.
- Xem thêm -