Phát huy vai trò của nhân tố con người trong phát triển bền vững ở việt nam hiện nay

  • Số trang: 94 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 28 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ----------------------------------------------------- ĐINH THỊ MỸ HẠNH PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NHÂN TỐ CON NGƢỜI TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học Hà Nội - 2015 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ----------------------------------------------------- ĐINH THỊ MỸ HẠNH PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NHÂN TỐ CON NGƢỜI TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học Mã số: 60220308 Người hướng dẫn khoa học: TS. Lương Thùy Liên Hà Nội - 2015 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có xuất xứ rõ ràng, các kết luận chưa được công bố trong bất cứ một công trình nào khác. Tác giả luận văn Đinh Thị Mỹ Hạnh LỜI CẢM ƠN Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới T.S Lương Thùy Liên, đã tận tình hướng dẫn, tạo mọi điều kiện, động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn này. Xin cám ơn Khoa Triết học, Phòng đào tạo sau đại học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tiến hành bảo vệ tốt luận văn thạc sĩ. Cuối cùng, tôi cũng xin cảm ơn bạn bè và gia đình đã luôn bên tôi, cổ vũ và động viên tôi những lúc khó khăn để có thể vượt qua và hoàn thành tốt luận văn này. Tôi xin chân thành cảm ơn! MỤC LỤC MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 4 1. Tính cấp thiết của luận văn .......................................................................... 4 2. Tình hình nghiên cứu ................................................................................... 5 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn. ......................................................... 12 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .............................................................. 12 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ................................................ 12 6. Ý nghĩa nghiên cứu .................................................................................... 13 7. Kết cấu ........................................................................................................ 13 NỘI DUNG .................................................................................................... 14 Chƣơng 1. PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NHÂN TỐ CON NGƢỜI TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG .................................................................................................. 14 1.1. Khái niệm nhân tố con ngƣời và phát triển bền vững .................... 14 1.1.1. Khái niệm nhân tố con người ........................................................ 14 1.1.2. Khái niệm phát triển bền vững ...................................................... 20 1.2. Phát huy vai trò của nhân tố con ngƣời trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay: Nội dung và những yếu tố tác động ...................... 26 1.2.1. Phát huy vai trò nhân tố con người trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay: Một số nội dung cơ bản ................................................... 26 1.2.2. Những yếu tố tác động đến phát huy vai trò nhân tố con người trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay ...................................... 33 TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 .............................................................................. 42 Chƣơng 2. PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NHÂN TỐ CON NGƢỜI TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY: THỰC TRẠNG, MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP ................................................... 43 1 2.1. Thực trạng phát huy vai trò của nhân tố con ngƣời trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay ................................................................. 43 2.1.1. Phát huy vai trò của nhân tố con người trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay: Những thành tựu đã đạt được .................................. 43 2.1.2. Phát huy vai trò của nhân tố con người trong phát triền bền vững ở Việt Nam hiện nay: Những mặt còn hạn chế ........................................... 51 2.2. Phát huy vai trò của nhân tố con ngƣời trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay: Một số vấn đề đặt ra ............................................... 58 2.3. Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của nhân tố con ngƣời trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay .................................... 70 TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 .............................................................................. 82 KẾT LUẬN ................................................................................................... 83 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................... 85 2 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BVTV Bảo vệ thực vật CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa GDP Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm trong nước) GNP Gross National Product (Tổng sản phẩm quốc gia) HDI Human Development Index (Chỉ số phát triển con người) IUCN International Union for Conservation of Nature and Natural Resources Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên PTBV Phát triển bền vững UNEP United Nations Environment Programme Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc 3 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của luận văn Phát triển bền vững (PTBV) là yêu cầu xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, mang tính chất toàn cầu trong giai đoạn hiện nay. Hội nghị thượng đỉnh về trái đất lần thứ hai họp tại Johannesburg, Nam phi vào năm 2002 (thường được gọi là Hội nghị cấp cao về phát triển bền vững của trái đất), xác nhận một tình trạng chung đang diễn ra ở các nước trên thế giới, mặc dù kinh tế đã phát triển và đạt được thành tựu đáng kể, nhưng mất cân bằng về xã hội và ô nhiễm môi trường lại diễn ra trầm trọng. Điều này đang đe dọa trực tiếp đến sự sinh tồn của toàn thể nhân loại. Phát triển đất nước theo định hướng phát triển bền vững, Việt Nam cũng giống như một số nước khác trên thế giới rơi vào tình trạng nền kinh tế có tăng trưởng nhưng chưa thực sự ổn định, lạm phát, nghèo đói vẫn còn tồn tại. Song song với kinh tế, tệ nạn xã hội gia tăng, trình độ dân trí thấp, tình trạng thất nghiệp… đã làm cho xã hội mất ổn định. Hơn nữa, do những nguyên nhân khác nhau trong hoạt động sản xuất, tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên nước, tài nguyên sinh vật bị suy thoái, ô nhiễm nghiêm trọng. Như vậy, kéo theo hậu quả là nền kinh tế phát triển chậm, xã hội mất ổn định, môi trường bị suy thoái kéo dài đã ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội, là một khó khăn rất lớn đối với Việt Nam trong tiến trình thực hiện mục tiêu phát triển bền vững. Vấn đề gốc rễ là làm sao khắc phục những khó khăn trên một cách có hiệu quả, điều đó phụ thuộc chủ yếu vào việc phát huy vai trò của nhân tố con người. Nhận thức được quy luật đó, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vai trò của con người trong phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết các vấn đề môi trường, nhằm thực hiện thành công chiến lược PTBV. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời 4 là chủ thể phát triển” [26, 76]; “Phát triển, nâng cao chất lƣợng nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước” [26, 41]. Từ những nhận định trên, chúng tôi đi đến khẳng định: Con ngƣời thực sự là nhân tố, là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất quyết định đến sự thành công của chiến lƣợc phát triển bền vững. Với vai trò quan trọng như vậy, nhân tố con người cần được tập trung phát huy tối đa, để đạt được hiểu quả cao nhất. Mặc dù vậy, trên cơ sở tổng quan một số công trình nghiên cứu về nhân tố con người, phát huy vai trò nhân tố con người, chúng tôi thấy rằng, tuy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu công phu và hệ thống về nhân tố con người, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống vấn đề phát huy vai trò của nhân tố con người trong chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Vì những lý do trên, việc nghiên cứu một cách hệ thống vấn đề phát huy vai trò của nhân tố con người trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay là cần thiết. Hơn nữa, việc làm rõ thực trạng phát huy vai trò của nhân tố con người và đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm phát huy vai trò nhân tố con người trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề cần được quan tâm sâu sắc. Không những thế, đây là một vấn đề mới, có giá trị và cần được khuyến khích cả về mặt lý luận và thực tiễn. Chính vì vậy, mà học viên lựa chọn đề tài “Phát huy vai trò của nhân tố con người trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay” làm luận văn thạc sĩ của mình. 2. Tình hình nghiên cứu Các tài liệu liên quan đến luận văn có thể chia ra làm hai nhóm: Nhóm những nghiên cứu về nhân tố con người và phát huy nhân tố con người trong phát triển kinh tế - xã hội. 5 Nhân tố con người là một trong những vấn đề từ lâu đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Có nhiều công trình, bài viết, đề tài nghiên cứu về nhân tố con người. Cần kể đến một số bài viết, công trình nghiên cứu như: “Phát huy con người – tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta” [55] của Nguyễn Duy Quý (Tạp chí cộng sản số 19/1998), “Vai trò của Đảng trong việc phát huy nhân tố con người” của Đào Duy Cận, (Tạp chí Cộng sản, số 4/1987) [7]. “Bàn về nghiên cứu con người Việt Nam hiện nay” của Lê Thi, (Tạp chí Triết học, số 3/1992) [62]. “Phát huy nhân tố con người trong lực lượng sản xuất” của Nguyễn Đình Hòa, (Tạp chí Triết học số 1/1993) [35]. Phạm Công Nhất, “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế” (Tạp chí Cộng sản số 768/2008) [48]. “ Phát triển con người: Những điều cần làm rõ” [53] của Hồ Sĩ Quý (Tạp chí cộng sản số 10/2000)… Ngoài ra còn một số Luận án tiến sĩ như: Luận án Tiến sĩ Triết học của Trần Thị Thủy. “Nhân tố con người và những biện pháp phát huy nhân tố con người trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay” (2000), Luận án Tiến sĩ Triết học [63], “Nhân tố con người trong sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay” [67], Luận án Tiến sĩ Triết học của Hoàng Thái Triển. “Vai trò quản lý Nhà nước đối với nhân tố con người trong quá trình phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay” [77] Luận án Tiến sĩ Triết học của Nguyễn Thị Phi Yến. Một số sách chuyên khảo như: Phạm Minh Hạc, Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa [31], Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996. Phạm Công Nhất, Phát huy nhân tố con người trong phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay [49], Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007. Trong đó“Nhân tố con người trong sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Triết học của Hoàng Thái Triển. Trong luận án 6 này, tác giả đề cập chủ yếu đến vấn đề phát huy có hiệu quả nhân tố con người trong quá trình tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Để phát huy vai trò của nhân tố con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, luận án chủ yếu đề cập tới vai trò của Đảng và Nhà nước trong việc đưa ra những quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn. Đồng thời, nhấn mạnh vai trò của Đảng và Nhà nước trong việc tổ chức thực hiện có hiệu quả, hiện thực hóa những quan điểm mà Đảng và Nhà nước đã đưa ra để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. “Vai trò quản lý Nhà nước đối với nhân tố con người trong quá trình phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Triết học của Nguyễn Thị Phi Yến. Trong luận án, tác giả đã nêu ra một cách khái quát vai trò quản lý của Nhà nước đối với nhân tố con người trong quá trình phát triển kinh tế, nhấn mạnh đến tác động biện chứng giữa sự quản lý của Nhà nước với việc phát huy nhân tố con người trong phát triển kinh tế. Phạm Minh Hạc, Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996. Cuốn sách này đề cập đến đặc điểm, vai trò nguồn lực con người; khảo sát thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Phạm Công Nhất, Phát huy nhân tố con người trong phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007. Nội dung cuốn sách này thể hiện vai trò quan trọng của nhân tố con người trong lực lượng sản xuất; thực trạng và giải pháp nhằm phát triển lực lượng sản xuất thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH ở nước ta hiện nay. Trong bài “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế” Tạp chí Cộng sản số 768/2008, tác giả Phạm Công Nhất đã phân tích làm rõ thực trạng nguồn nhân lực nước ta về số lượng và chất lượng. Nhấn mạnh 7 của tác giả về chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam đang còn nhiều hạn chế, yếu kém, cho dù nước ta có nguồn nhân lực dồi dào. Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra các nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng trên, đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn lực đáp ứng sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Hướng tiếp cận nghiên cứu về nhân tố con người như là đối tượng của quản lý – một thành phần quan trọng nhất của lực lượng sản xuất. Thể hiện một số công trình như: “Kích thích tính tích cực người lao động thông qua lợi ích cá nhân” của Lê Hữu Tầng (Tạp chí cộng sản số 10/1990) [58]; “Yếu tố con người trong lực lượng sản xuất và việc phát huy yếu tố đó ở nước ta hiện nay” Luận án PTS của Hồ Anh Dũng [18]; “Phát triển nguồn nhân lực – kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta” của Trần Văn Tùng và Lê Ái Lâm, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996 [68]; “Phát triển nguồn nhân lực và phương pháp dùng người trong sản xuất kinh doanh” của Đặng Vũ Chư và Ngô Văn Quế, NXB Lao động, Hà Nội 1996 [11]… Nhìn chung, các bài viết, công trình nghiên cứu trên đã làm rõ những vấn đề lý luận chung về nhân tố con người, coi nhân tố con người là nguồn lực quan trọng nhất trong quá trình biến đổi và phát triển của xã hội. Nêu lên phương hướng nâng cao chất lượng con người, bao gồm cả thể chất lẫn tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất; tìm kiếm những giải pháp hiệu quả nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của con người trong quá trình đổi mới. Qua đó, có thể thấy các công trình nghiên cứu trên đã đem lại những thành tựu quan trọng trong nghiên cứu con người và nhân tố con người. Tuy nhiên, nghiên cứu con người là một vấn đề muôn thủa, rộng lớn, còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu để làm rõ thêm về lý luận và thực tiễn, đặc biệt là vấn đề phát huy vai trò nhân tố con người trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay. 8 Nhóm những nghiên cứu về phát triển bền vững ở Việt Nam và phát huy nhân tố con người trong phát triển bền vững ở Việt Nam. Phát triển bền vững là yêu cầu đặt ra trong mục tiêu phát triển kinh tế xã hội hiện nay, vì vậy có rất nhiều công trình nghiên cứu về phát triển bền vững. Một số công trình, bài báo nghiên cứu như: “Phát triển xã hội bền vững và hài hòa – những vấn đề lý luận và thực tiễn chủ yếu hiện nay” Lương Đình Hải (Tạp chí Triết học số 2/ 2007), [32]. Nguyễn Đức Chiên, “Phát triển bền vững – tiền đề lịch sử và nội dung khái niệm” [8] (Tạp chí con người, số 1, 2005). Lê Văn Khoa (2009), Môi trường và phát triển bền vững [38], NXB Giáo dục, Hà Nội. Phát triển bền vững trên nền tảng sự đồng tiến hóa giữa con người với tự nhiên [36] (Tạp chí Triết học, số 3/2007) của Nguyễn Đình Hòa. Phạm Thị Ngọc Trầm (2006), Quản lý Nhà nước đối với tự nhiên và môi trường vì sự phát triển bền vững dưới góc nhìn xã hội – nhân văn [66] (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội); Hoàng Chí Bảo với “Dân chủ, đoàn kết và đồng thuận xã hội trong phát triển bền vững” [4] (Tạp chí triết học, số 7, 2008) ; Nguyễn Ngọc Hà, “Đảm bảo công bằng xã hội vì sự phát triển bền vững” [29] (Tạp chí triết học số 2, 2007)… Trong đó có thể chú ý tới một số công trình tiêu biểu như sau: Hoàng Chí Bảo với “Dân chủ, đoàn kết và đồng thuận xã hội trong phát triển bền vững” đã đưa ra và luận giải nền tảng của phát triển bền vững chính là vấn đề dân chủ, đoàn kết, đồng thuận xã hội, và với tư cách như những giá trị văn hóa trong phát triển bền vững, xây dựng và thực hành văn hóa phát triển theo hệ dân chủ, đoàn kết, đồng thuận xã hội, trong đó phát triển bền vững có kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. “Tăng trường kinh tế là điều kiện thiết yếu của phát triển nhưng kinh tế không phải là sự cứu cánh, nó phải hướng tới công bằng xã hội, làm cho con người thoát đói, vượt nghèo, trở nên khá giả, giàu có bằng sức lao động chính 9 đáng của mình, dựa trên nguyên lý về sự công bằng – đó là sự công bằng về cơ hội phát triển cho tất cả mọi người” [4, 28]. Đồng thời, tác giả cũng khẳng định, nhiều khi chính sự phát triển của văn minh vật chất, tiến bộ kỹ thuật – công nghệ và sự bùng nổ dữ dội dòng thác thông tin toàn cầu đã tạo ra những tha hóa về cá thể và tập thể bởi sự lệch lạc về định hướng giá trị trong đạo đức, lối sống của những cá thể và tập thể đó. Điều này đã gây những tổn thương nghiêm trọng về môi trường sống, cả tự nhiên lẫn xã hội. Nó đe dọa sự an toàn trong phát triển. Do đó, để có sự phát triển bền vững cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa. Trong bài báo: “ Phát triển xã hội bền vững và hài hòa – những vấn đề lý luận và thực tiễn chủ yếu hiện nay”, tác giả Lương Đình Hải sau khi đã sơ lược qua các quan điểm về phát triển bền vững ở trên thế giới trong thời gian qua và thực tiễn xã hội trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay đã đi đến khẳng định: “… nội dung của quan điểm phát triển xã hội bền vững và hài hòa giờ đây trở nền rộng hơn, phong phú hơn; tăng trưởng kinh tế, hiện đại hóa hay phát triển xã hội gắn liền với việc giữ gìn, bảo vệ và cải thiện (làm tốt hơn) môi trường xung quanh” [32, 33]. Như vậy, theo tác giả phát triển bền vững phải bao gồm ba trụ cột: kinh tế - xã hội – sinh thái, nó được đúc kết từ nhận định: “… về nguyên tắc, quan điểm phát triển bền vững và hài hòa thừa nhận tăng trưởng và phát triển kinh tế nói chung có những giới hạn xác định…” [ 32, 34]. Trong bài báo: “Phát triển bền vững trên nền tảng sự đồng tiến hóa giữa con người với tự nhiên” tác giả Nguyễn Đình Hòa sau khi chứng minh vai trò đặc biệt quan trọng của môi trường tự nhiên, và từ sự phân tích những nguy cơ, hiểm họa môi trường sinh thái ở phạm vi toàn cầu đã cho rằng, một trong những cơ sở, nền tảng chủ yếu của sự phát triển xã hội bền vững chính là sự đồng tiến hóa giữa con người và tự nhiên. Từ đó tác giả khẳng định rằng 10 “… có thể hiểu phát triển bền vững là sự phát triển mà trong đó, bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa mục tiêu kinh tế, mục tiêu xã hội và mục tiêu bảo vệ môi trường” [36, 32]. Các công trình nghiên cứu về phát triển bền vững ở Việt Nam chủ yếu nghiên cứu làm rõ nội dung khái niệm phát triển bền vững. Nhấn mạnh tầm quan trọng của chiến lược phát triển bền vững, đồng thời khẳng định sự phát triển bền vững về mọi mặt của đời sống xã hội trong đó có kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường. Phát triển bền vững là một nội dung lớn, cần được tiếp tục nghiên cứu và bổ xung hoàn thiện về mặt lý luận để ngày càng phù hợp, cũng như phản ánh một cách sâu sắc hơn nữa tầm quan trọng của chiến lược phát triển bền vững trong giai đoạn hiện nay. Nghiên cứu vấn đề phát huy nhân tố con người trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề có ý nghĩa về cả mặt lý luận và thực tiễn, mặc dù vậy chưa có nhiều công trình nghiên cứu nào một cách hệ thống về nó, chỉ có một số bài báo nhỏ liên quan đến vấn đề này, chẳng hạn như bài báo: “Lấy việc phát huy con người làm nhân tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” [30] của Phạm Minh Hạc (Tạp chí xây dựng Đảng số 7/1995). Tác giả Phạm Minh Hạc đã nhấn mạnh quan điểm xuyên xuốt của Đảng và Nhà nước về phát triển nhanh và bền vững, trong đó con người là nhân tố quyết định. Như vậy, có thể thấy những công trình, bài báo, sách chuyên khảo nghiên cứu về vấn đề nhân tố con người, đã và đang được quan tâm nhiều trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp và hệ thống về phát huy vai trò nhân tố con người trong phát triển bền vững. Vì vậy, tác giả tập trung nghiên cứu đề tài “Phát huy vai trò của nhân tố con người trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay”. Hi vọng luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn vấn đề này. 11 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn. a. Mục đích của luận văn: Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát huy vai trò của nhân tố con người trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay. Từ đó, đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của nhân tố con người trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay. b. Nhiệm vụ của luận văn: Để thực hiện được mục đích như trên, luận văn có những nhiệm vụ cụ thể như sau: Thứ nhất, làm rõ một số vấn đề lý luận chung về: Nhân tố con người, phát triển bền vững; nội dung cơ bản và một số yếu tố tác động đến việc phát huy vai trò nhân tố con người trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay. Thứ hai, khảo sát thực trạng, nêu lên một số vấn đề cơ bản đang đặt ra trong việc phát huy vai trò nhân tố con người trong phát triển bền vững ở Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò nhân tố con người thúc đẩy phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Phát huy vai trò của nhân tố con người trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay. - Phạm vi nghiên cứu: Trong luận văn, tác giả giới hạn nghiên cứu phát triển bền vững ở Việt Nam bắt đầu từ năm 1992 đến nay. Bởi vì, năm 1992 là năm diễn ra Hội nghị thượng đỉnh về Trái đất. Tại đây, các đại biểu tham gia trong đó có Việt Nam, đã thống nhất những nguyên tắc cơ bản, phát động một chương trình hành động vì sự phát triển bền vững có tên Chương trình nghị sự 21. 5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu - Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lê nin về con người, kết hợp 12 chặt chẽ với những quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về vấn đề phát huy nhân tố con người trong quá trình phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay. - Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu và trình bày luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp như: phương pháp biện chứng duy vật, và các phương pháp khác, tiêu biểu như: phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp, phương pháp khái quát hoá. 6. Ý nghĩa nghiên cứu Về lý luận: Luận văn nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận chung về phát huy vai trò nhân tố con người trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay, đồng thời đã góp phần làm sáng tỏ những quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước luôn quan tâm và ưu tiên phát huy vai trò nhân tố con người, đặc biệt là trong tiến trình phát triển bền vững, đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm phát huy vai trò của nhân tố con người thực hiện thành công chiến lược phát triển vững ở Việt Nam hiện nay. Về thực tiễn: Nội dung nghiên cứu của luận văn góp phần nhìn nhận rõ vai trò quan trọng của nhân tố con người, thực trạng phát huy vai trò của nhân tố con người trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay, giúp ích cho những ai quan tâm, nghiên cứu đến vấn đề nhân tố con người và vai trò của nhân tố con trong việc thực hiện chiến lược phát triển bền vững hiện nay. Đồng thời, luận văn cũng là tài liệu tham khảo trong các chuyên đề nghiên cứu về con người, nhân tố con người, phát triển bền vững… 7. Kết cấu Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 5 tiết. 13 NỘI DUNG Chƣơng 1 PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NHÂN TỐ CON NGƢỜI TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 1.1. Khái niệm nhân tố con ngƣời và phát triển bền vững 1.1.1. Khái niệm nhân tố con người Xuất phát từ con người hiện thực, chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng: con người là tổng thể các yếu tố sinh vật và yếu tố xã hội cấu thành nên; con người là chủ thể sáng tạo ra mọi quá trình lịch sử xã hội. Những quan điểm này, đã đặt cơ sở phương pháp luận cho việc tiếp cận và nghiên cứu nhân tố con người. Theo quan điểm Mác xít, con người được coi là sản phẩm tiến hóa lâu dài từ tự nhiên, là bộ phận của giới tự nhiên. Con người khác các loài vật khác ở chỗ con người biết lao động. Chính lao động đã đảm bảo và duy trì cuộc sống sinh vật của con người và làm biến đổi hàng loạt bản tính tự nhiên sinh học của con người. Cũng chính lao động cũng hình thành nên những thuộc tính xã hội của con người như: có ngôn ngữ, có ý thức, tư duy, giao tiếp… hình thành nên các mối quan hệ xã hội như: kinh tế, chính trị, pháp luật, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, khoa học, văn hóa… Hơn nữa, con người thông qua hoạt động lao động sản xuất đã tạo nên của cải vật chất, tinh thần cho xã hội, cho nên có thể nói nhân tố con người là nhân tố quan trọng nhất quyết định đến sự tồn tại lâu dài của một xã hội nhất định. Trong khi bàn về sản xuất, C. Mác phân biệt hai loại nhân tố vật và nhân tố người “Những nhân tố vật, hay tư liệu sản xuất và nhân tố người, hay sức lao động” [41, 276], “ Chúng tôi hiểu sức lao động (hay năng lực lao động) là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong 14 một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất một giá trị sử dụng nào đó” [41, 251]. Như vậy, theo C. Mác, chính “lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức độ mà trên một ý nghĩa nào đó chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người” [42, 641]. Với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội, vai trò quyết định của nhân tố con người ngày càng được khẳng định. Đó cũng chính là lý do mà nhiều nhà khoa học trên thế giới cũng như Việt Nam quan tâm nghiên cứu về vấn đề này. Do xuất phát từ các góc độ, mục tiêu, phương pháp nghiên cứu khác nhau nên có nhiều quan điểm khác nhau về nhân tố con người. Ở Việt Nam trong những năm qua, một số quan điểm về nhân tố con người chẳng hạn: “Nhân tố con người với tư cách là một phạm trù triết học xã hội (gắn liền với thực tiễn), nói lên vai trò, vị trí và những ảnh hưởng của con người trong hoạt động thực tiễn nhằm cải tạo thế giới hiện thực, đồng thời tự biểu hiện, tự khẳng định những sức mạnh tiềm năng của bản thân con người trong quá trình phát triển và hoàn thiện bản chất xã hội của nó” [50, 32]. Hay “Nhân tố con người là một hiện tượng nhiều mặt và phức tạp, liên quan đến toàn bộ các hoạt động trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội” [76, 30]. Theo PGS. T.S Phạm Công Nhất, “Nhân tố con người là tổng thể các yếu tố có liên quan đến con người, là sự thống nhất biện chứng giữa các mặt chủ quan và khách quan để tạo nên năng lực, phẩm chất và trí tuệ của con người được hình thành và phát huy tác dụng vào thực tiễn sản xuất vật chất hay trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi cộng đồng, quốc gia trong những giai đoạn lịch sử nhất định” [49, 25]. Kế thừa và tiếp thu chọn lọc các quan điểm trên, chúng tôi cho rằng: Nói đến nhân tố con người là nói đến vai trò chủ thể của con người trong quá trình phát triển và biến đổi xã hội. Qua đó, thể hiện rõ nhân tố con 15 người là tổng hòa những năng lực, phẩm chất của con người được khai thác và sử dụng cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Vai trò chủ thể của con người (với tư cách là cá nhân hay cộng đồng) được thể hiện ở tinh thần chủ động, tích cực, sáng tạo của con người trong hoạt động thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Vai trò đó phục thuộc vào mức độ và khả năng ý thức, nhận thức và ý chí của con người trong hoạt động thực tiễn. Trước hết, nhân tố con người được xem xét chủ yếu dưới góc độ lực lượng lao động sản xuất chính của xã hội. Trong quá trình sản xuất, nhân tố con người là “đầu vào” trực tiếp, đồng thời nhân tố con người cũng là “đầu ra” của quá trình đó, bởi vì mục đích cuối cùng của mọi sự phát triển là hướng đến phục vụ nhu cầu, lợi ích con người. Hoạt động lao động của con người trên một ý nghĩa nào đó không chỉ tạo ra mọi của cải xã hội mà còn góp phần cải tạo chính bản thân mình. Nhân tố con người không chỉ được xem xét dưới góc độ là lực lượng sản xuất chính mà còn được xem xét dưới góc độ nhân cách xã hội, đòi hỏi chúng ta nhìn nhận con người với tư cách là chủ thể của những hoạt động có ý thức, hoạt động sáng tạo của con người. Ở bình diện nhân cách, nhân tố con người thể hiện qua các chức năng và giá trị xã hội. Nhân cách của con người bao gồm những phẩm chất, năng lực của cá nhân được hình thành, phát triển và hiện thực hóa trong quá trình thực hiện chức năng xã hội nhất định. Nhờ có phẩm chất, năng lực con người với có khả năng thực hiện được chức năng xã hội, sáng tạo ra các giá trị vật chất, tinh thần. Đến lượt mình các giá trị văn hóa đó lại trở thành tiền đề, điều kiện để con người tự hoàn thiện bản thân, tiếp tục sáng tạo ra giá trị văn hóa, giá trị nhân cách mới. Trong quá trình vận động và phát triển đó con người chính là sự kết tinh của những giá trị văn hóa và là chủ thể mang giá trị văn hóa cao nhất. Bởi vậy, trong chiến lược phát triển, ngoài tập trung phát triển kinh tế, giữ ổn định xã hội, việc xây dựng văn 16
- Xem thêm -