Phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan phật giáo

  • Số trang: 84 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 39 |
  • Lượt tải: 0
garmetspace

Đã đăng 305 tài liệu

Mô tả:

LUẬN VĂN: Phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo trong đời sống tinh thần của con người Việt Nam mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài ở Việt Nam những tư tưởng triết học Phật giáo, đặc biệt nhân sinh quan Phật giáo, là một trong những nhân tố cấu thành nền văn hóa dân tộc cũng như nhân cách, đạo đức của mỗi người dân. Từ khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo luôn tỏ rõ vai trò quan trọng, có ảnh hưởng sâu rộng và toàn diện trong đời sống xã hội Việt Nam. Những ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo luôn biến đổi trải qua những bước thăng trầm trong lịch sử. Đặc biệt, từ khi công cuộc đổi mới chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa diễn ra trên đất nước ta, thì sự biến đổi của ảnh hưởng nhân sinh quan Phật giáo trong đời sống tinh thần của con người Việt Nam càng diễn ra khá rõ nét và có những biểu hiện mới. Trong thời kỳ đổi mới đất nước hiện nay, xu hướng biến đổi ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo Việt Nam sẽ như thế nào? Cần đánh giá những biến đổi đó theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực? Những nhân tố nào cần phát huy trong điều kiện mới và bằng cách nào để có thể phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo trong đời sống tinh thần của con người Việt Nam là vấn đề đang đặt ra và cần làm sáng tỏ. 2. Tình hình nghiên liên quan đến cứu đề tài Nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống tinh thần của con người Việt Nam là đề tài rộng lớn. Đã có nhiều công trình nghiên cứu và đạt được những kết quả đáng trân trọng. Có thể kể ra một số công trình sau đây: Mấy vấn đề Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam của Viện Triết học, Hà Nội, 1986; Lịch sử Phật giáo Việt Nam của PGS Nguyễn Tài Thư (chủ biên), Viện Triết học, Hà Nội, 1991; Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập I của Nguyễn Tài Thư (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, 1993 ; Thiền học Trần Thái Tông của Nguyễn Đăng Thục, Nxb Văn hóa Thông tin, 1996; Tôn giáo tín ngưỡng hiện nay, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp thiết, Trung tâm Thông tin tư liệu - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1996; Văn hóa Phật giáo và lối sống của người Việt ở Hà Nội và châu thổ Bắc Bộ của Nguyễn Thị Bảy, Nxb Văn hóa thông tin 1997; ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay của Nguyễn Tài Thư (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội 1997; Tư tưởng triết của học Thiền phái Trúc Lâm đời Trần của Trương Văn Chung, Nxb Chính trị quốc gia, 1998; ảnh hưởng của tư tưởng triết học Phật giáo trong đời sống văn hóa tinh thần ở Việt Nam của Lê Hữu Tuấn, Luận án tiến sĩ triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1998; Tư tưởng Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Duy Hinh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1999 ; Phật Giáo với văn hóa Việt Nam của Nguyễn Đăng Duy, Nxb Hà Nội, 1999; Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam, tập I của Nguyễn Hùng Hậu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002 v.v... Có thể nhận xét một cách khái quát, những công trình nghiên cứu trên đều thống nhất ở một số điểm: Phật giáo có ảnh hưởng nhất định trong đời sống xã hội Việt Nam, đặc biệt là đời sống tinh thần. Những triết lý đầy tính nhân sinh của Phật giáo kết hợp với văn hóa truyền thống đã tạo nên sự phong phú của đời sống tinh thần của con người Việt Nam. Những công trình nghiên cứu nói trên, trực tiếp hoặc gián tiếp, ở các mức độ và khía cạnh khác nhau, đã thể hiện tư tưởng triết học Phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với đời sống xã hội Việt Nam. Do đó, việc đánh giá những ảnh hưởng tích cực, tiêu cực của Phật giáo, mà trước hết là nhân sinh quan Phật giáo, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng triết học này trong đời sống xã hội Việt Nam lâu nay, là việc làm hết sức có ý nghĩa. Tuy nhiên, việc làm sáng tỏ sự biến đổi ảnh hưởng của Phật giáo nói chung và nhân sinh quan Phật giáo nói riêng đối với đời sống tinh thần của con người Việt Nam dưới tác động mạnh mẽ của công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay thì hãy còn chưa nhiều. Vì vậy, luận văn có nhiệm vụ là: trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những kết quả nghiên cứu của những công trình đi trước để khảo sát đánh giá sự biến đổi của ảnh hưởng nhân sinh quan Phật giáo trong quá trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay. 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn a) Mục đích Luận văn làm rõ sự biến đổi ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo trong quá trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay. Nêu ra một số giải pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo trong quá trình đổi mới ở nước ta hiện nay. b) Nhiệm vụ Một là, khái quát nội dung nhân sinh quan Phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với đời sống tinh thần truyền thống của con người Việt Nam. Hai là, tìm hiểu sự biến đổi của ảnh hưởng nhân sinh quan Phật giáo trong quá trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay, bao gồm: Phân tích những nhân tố tác động đến sự biến đổi đó; nêu lên một số xu hướng biến đổi của nhân sinh quan Phật giáo. Ba là, đề ra một số phương hướng, giải pháp phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo trong quá trình đổi mới. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu a) Đối tượng - ảnh hưởng nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần của người dân Việt Nam b) Phạm vi nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu sự biến đổi của ảnh hưởng nhân sinh quan Phật giáo trong quá trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay. 5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu a) Cơ sở lý luận Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng. b) Cơ sở thực tiễn Sự biến đổi của ảnh hưởng nhân sinh quan Phật giáo trong quá trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay. c) Phương pháp nghiên cứu Tác giả luận văn sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp; sự thống nhất giữa lôgíc và lịch sử; điều tra phỏng vấn và kết hợp các phương pháp khái quát hóa, trừu tượng hóa v.v... 6. Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn - Luận văn góp phần vào việc tìm hiểu sự biến đổi của ảnh hưởng nhân sinh quan sinh Phật giáo trong quá trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay. - Luận văn bước đầu nêu lên một số giải pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo trong quá trình đổi mới. 7. ý nghĩa thực tiễn của luận văn Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy tôn giáo ở các trường Đại học, Cao đẳng. 8. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 2 chương, 5 tiết. Chương 1 nhân sinh quan Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống tinh thần người Việt Nam 1.1. Nhân sinh quan Phật giáo 1.1.1. Vị trí nhân sinh quan Phật giáo trong tư tưởng triết học Phật giáo Ph.Ăngghen đã nói: "Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế" [17, tr. 73]. Điều đó có nghĩa là, tôn giáo do con người sáng tạo ra, tôn giáo không sáng tạo ra con người song lại có ảnh hưởng lớn tới đời sống của con người trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Phật giáo - một trong mười tôn giáo lớn trên thế giới - ra đời đã hơn 2500 năm nay, đã được truyền bá và ảnh hưởng tới nhiều nước trên thế giới như: Xrilanca, Xiry, Ai Cập, Mianma, Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc và một phần Anh, Đức, Pháp … và nhanh chóng trở thành tôn giáo mang tính thế giới. Trong quá trình du nhập trải qua các thời kỳ lịch sử, Phật giáo lại phụ thuộc vào tình hình kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia mà đã biến đổi ít nhiều. Sự ảnh hưởng của phật giáo đến ngoại bang diễn ra rất sớm và rất nhanh chóng. Ngày nay trên phạm vi quốc tế, Phật giáo đang chiếm vị trí sâu rộng trong đời sống tinh thần của con người, trong đó có Việt Nam. Người sáng lập ra Phật giáo là Hoàng tử Tất Đạt Đa - con vua Tịnh Phạn. Ông sinh năm 563 mất năm 483 trước công nguyên ở ấn Độ. Sau khi tu hành đắc đạo có danh hiệu Thích Ca Mâu Ni. Tương truyền, Hoàng tử Tất Đạt Đa từ khi mới sinh ra đã được vua cha hết đỗi chiều chuộng, "nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa". Hoàng tử, vốn là con độc nhất, được sống trong nhung lụa, được chăm sóc, giáo dục rất đầy đủ, toàn diện. Chẳng bao lâu Hoàng tử đã trở thành người văn võ song toàn. Hoàng tử được vua cha cưới vợ năm 17 tuổi, về sau có một người con trai tên là La Hầu La. Vua không muốn cho Hoàng tử phải chứng kiến quy luật của cuộc sống là sinh - lão - bệnh - tử. Mặc dù vậy, sau những lần dạo chơi ở cổng thành Hoàng tử đã chứng kiến nỗi khổ của con người về sinh - lão - bệnh - tử; thấy được cuộc sống cơ cực của người dân trong xã hội ấn Độ cổ đại lúc bấy giờ, vốn có sự phân chia đẳng cấp nghiệt ngã. Hoàng tử lại là người có tấm lòng từ bi, bác ái vô hạn, sống gần gũi với con người, đầy tình người và trí tuệ. Cái tâm đức Phật thật là từ bi Còn trong Thái tử thời kỳ Xem người cày ruộng mới đi ra ngoài Thấy cò cứ mổ sâu hoài Động lòng thương xót mọi loài chúng sinh. (Từ bi) Chứng kiến đời sống khổ cực và sự bất lực của con người trong xã hội đương thời, đã khiến Hoàng tử Tất Đạt Đa có ý định từ bỏ cuộc sống giàu sang để đi tìm đạo lý cứu đời. Năm 29 tuổi, nhân lúc vua cha, vợ con đang ngủ say, Tất Đạt Đa rời bỏ Hoàng cung ra đi trở thành người tu tập thiền định và bắt đầu cuộc sống khổ hạnh. Qua một thời gian học đạo, Người nhận thấy, cuộc sống giàu sang về vật chất, thỏa mãn dục vọng và cả cuộc sống tu hành khổ hạnh ép xác đều là con đường sai lầm. Người cho rằng, cuộc sống dù giàu sang đến đâu cũng chỉ là tầm thường, còn cuộc đời tu hành khổ hạnh thì tăm tối, mà chỉ có con đường trung đạo mới là con đường đúng đắn. Người nói: "Ta tu khổ hạnh mà như thế này, mà không thấy rõ đạo thì cái tu của ta vẫn chưa phải. Ta nên theo con đường giữa, cứ ăn uống như thường, không say mê việc đời nào vẫn không khắc khổ hại thân rồi mới thành đạo được" [14, tr. 42]. Sau khi tự mình đào sâu suy nghĩ tìm con đường giác ngộ chân lý mới, Tất Đạt Đa quyết định từ bỏ cuộc sống tu hành khổ hạnh để đi vào tư duy trí tuệ. Qua nhiều lần tu tập, sau 49 ngày ngồi thiền định dưới gốc cây Bồ đề, với những suy tư sâu thẳm, Người đã giác ngộ được chân lý. Tất Đạt Đa đã lý giải được nguồn gốc nỗi khổ của con người, cũng như phương pháp giải thoát diệt khổ. Là một tôn giáo, Phật giáo ra đời nhằm xoa dịu nỗi khổ của con người trong xã hội có sự phân chia đẳng cấp khắc nghiệt của xã hội ấn Độ cổ đại. Sinh thời, Đức Phật không viết sách, mà chỉ thuyết giảng cho các học trò của mình bằng lời nói. Sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, các đệ tử đã tập hợp, phát triển tư tưởng của người để xây dựng một học thuyết tôn giáo hoàn chỉnh (kinh, luật và luận tạng). Về sau Phật giáo chia thành Tiểu thừa và Đại thừa với nhiều tông phái khác nhau, du nhập và phát triển ra nhiều nước trên thế giới. Dù đã trải qua lịch sử thăng trầm hơn 2500 năm, với nhiều cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau, nhưng Phật giáo, mà trước hết là triết lý nhân sinh của nó giàu lòng vị tha, thương người, rất gần gũi với con người và mang nặng tính nhân sinh hơn các tôn giáo khác. Giáo lý Phật giáo bao gồm hệ thống quan niệm về nhận thức luận, thế giới quan và nhân sinh quan có kết cấu chặt chẽ. Mỗi yếu tố chứa đựng những nội dung với chức năng riêng là tiền đề và hệ quả của nhau. Nhân sinh quan Phật giáo được bắt nguồn từ thế giới quan. Tuy nhiên, mục đích chủ yếu của Phật giáo là thoát khổ, là giải phóng con người, mang giá trị nhân sinh sâu sắc. Thích Ca Mâu Ni đã nhìn thấy rõ sự đau khổ ở đời sống con người mà sáng lập ra Phật giáo để giải thoát con người khỏi nỗi khổ đau. Triết học phương Đông nghiêng về việc nghiên cứu, tìm hiểu những vấn đề chính trị, xã hội, đạo đức, tôn giáo, đặc biệt là vấn đề con người hơn là việc tìm hiểu giới tự nhiên. Triết học phương Đông nghiên cứu thế giới để làm sáng tỏ con người, vạch ra nguyên tắc ứng xử, giải quyết các mối quan hệ giữa người với người, chú ý đến đời sống tâm linh mà ít quan tâm đến mặt sinh vật của con người. Mục đích nhận thức thế giới của triết học đều nhằm phục vụ cho đời sống của con người và xã hội. Còn triết học phương Tây chú trọng nghiên cứu thế giới, tìm hiểu giới tự nhiên, xây dựng nên các học thuyết, các phạm trù v.v... Cũng như nhiều trào lưu tư tưởng triết học phương Đông, Phật giáo đề cao và nhấn mạnh vấn đề nhân sinh. Đây cũng là một trong những đặc điểm cơ bản khác biệt của triết học phương Đông so với phương Tây. Điều này góp phần vào việc lý giải vì sao mặt vũ trụ quan của thế giới quan của Phật giáo, nhất là Phật giáo nguyên thủy, hơi mờ nhạt, trong khi nội dung nhân sinh quan lại khá rõ ràng và mang tính nổi trội. Mục đích cuối cùng của Phật giáo là giải thoát con người khỏi nỗi khổ trần thế thông qua con đường tu tập về mặt tâm linh. Do đó, Phật giáo hầu như không đề cập và không có chủ trương giải quyết những vấn đề có tính chất siêu hình, như chính lời của Đức Phật thuyết giảng: Giống hệt như người bị thương vì một mũi tên thuốc độc, bạn bè thân thích đưa một ông thầy giải phẫu nhưng anh ta nói: Ta sẽ không để cho rút mũi tên này ra trước khi biết ai làm ta bị thương, hắn ở đẳng cấp nào, tên họ hắn là gì, hắn ta to bé hay trung bình, hắn ta từ đâu tới. Ta sẽ không cho rút mũi tên này trước khi biết nó là loại cung nào, dây cung và mũi tên được làm bằng gì, đầu nhọn mũi tên được làm như thế nào? Con người này sẽ chết đi mà không biết điều đó chúng là vô ích không dẫn ta đến giải thoát. Việc cấp bách là cứu khổ giống như việc lấy mũi tên thuốc độc ra khỏi thân thể con người [12, tr. 266]. Khi các đệ tử hỏi Đức Phật về vấn đề siêu hình trừu tượng như vũ trụ có vĩnh hằng không? Nó vô hạn hay hữu hạn, linh hồn và thể xác là một hay khác nhau, Như Lai sau khi chết có tồn tại hay không?... thì người im lặng vì mục đích chủ yếu là cứu khổ cho con người. Như vậy, qua việc nghiên cứu những nội dung trên cho thấy, đối tượng nghiên cứu chủ yếu của Phật giáo là con người, là giá trị nhân sinh. Qua việc phải chứng kiến nỗi khổ của con người ở đời sống trần thế mà Thích Ca Mâu Ni đã xây dựng học thuyết mang đậm giá trị nhân sinh để giải thoát, cứu khổ cho con người khỏi khổ nạn. Trong xã hội chiếm hữu nô lệ ở ấn Độ, với sự thống trị của tư tưởng duy tâm tôn giáo Bà la môn và chế độ phân biệt đẳng cấp khắt khe, Phật giáo ra đời là tiếng nói trong làn sóng phủ nhận uy thế của kinh Vêđa và đạo Bà la môn, tố cáo chế độ xã hội bất công, đòi tự do tư tưởng và sự bình đẳng xã hội, xóa bỏ nỗi khổ trong đời sống của người dân ấn Độ. Đây là sự thể hiện tinh thần phản kháng của quần chúng nhân dân đối với chế độ xã hội đương thời: Đức Phật tuyên bố: Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ, không có đẳng cấp trong giọt nước mắt cùng mặn, con người sinh ra không phải đã mang sẵn trong bào thai dây chuyền ở cổ hay dấu tin ca (dấu hiệu quý phái của dòng Bà la môn) trên trán. Qua đó thể hiện mặt tích cực của nhân sinh quan Phật giáo trong lĩnh vực sinh hoạt xã hội. Nguyện vọng cứu khổ của Đức Phật mang tính nhân văn sâu sắc, còn có cứu được khổ hay không lại là chuyện khác. Do vậy, Phật giáo rất gần gũi với con người. ở Việt Nam, từ thuở xa xưa, Phật chính là "Bụt". Bụt ở đây là cách dịch âm khác của "Buddha" có nghĩa là Phật, là giác ngộ. Hình ảnh ông Bụt hiện lên trong nhiều câu chuyện cổ tích như truyện Tấm Cám… luôn là người đem lại niềm vui, hạnh phúc cho những người tốt bụng mà gặp điều không may, đồng thời Bụt cũng là người trừng phạt cái xấu, kẻ ác. 1.1.2. Nội dung nhân sinh quan Phật giáo Triết lý nhân sinh Phật giáo bắt nguồn từ thế giới quan, do thế giới quan Phật giáo chi phối. Mặt khác, với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, nhân sinh quan Phật giáo chịu sự qui định của tồn tại xã hội và tác động của các hình thái ý thức xã hội khác. Điều này giải thích tại sao trong lịch sử tồn tại và phát triển, nhân sinh quan Phật giáo có sự biến đổi, không còn giữ nguyên như ở Phật giáo nguyên thủy. Nghiên cứu chi tiết, cho thấy các phái Phật giáo có những quan niệm khác nhau về nhân sinh. Phật giáo Tiểu thừa coi trọng "xuất gia khổ hạnh", chủ trương "ngã không pháp hữu", đề cao sự giải thoát chính mình với mục đích cuối cùng là chứng đắc La Hán. Tư tưởng chủ yếu của Phật giáo Tiểu thừa là "tịnh độ" và "xuất thế gian", nhấn mạnh cuộc đời là bể khổ mà nguyên nhân là do "Thập nhị nhân duyên". Mục đích thoát khổ là phải xuất thế gian, xa rời cuộc sống phàm tục, diệt dục mới có thể rũ bỏ bụi trần để đạt tới cảnh giới Niết bàn. Còn Phật giáo Đại thừa không quá đề cao xuất gia khổ hạnh, chủ trương"ngã pháp đều không", tự giác ngộ và giác ngộ người khác, mục đích tu tập trở thành Phật. Giới luật của Đại thừa cũng có nhiều biến đổi khác với giới luật của Tiểu thừa ở sự tôn nghiêm cũng như nội dung. Nếu giới luật của Tiểu thừa tập trung vào việc đạt quả phúc cho mình, thì giới luật của Đại thừa lại thường hướng đến lợi ích cho người khác... Phật giáo Đại thừa về sau phát triển và lại chia thành nhiều bộ phái khác nhau, xuất phát từ ấn Độ và truyền bá ra các nước xung quanh, triết lý Phật giáo nói chung và nhân sinh quan Phật giáo nói riêng đã biến đổi, phát triển ngày càng đa dạng phong phú để thích nghi với truyền thống của mỗi quốc gia, dân tộc trong những thời kỳ lịch sử nhất định. Vì khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ là có hạn, nên tác giả luận văn chỉ nghiên cứu ảnh hưởng nhân sinh quan phật giáo trong đời sống tinh thần của con người Việt Nam và sự biến đổi của nó trong quá trình đổi mới hiện nay trong thuyết tứ đế của Phật giáo. Nhân sinh quan Phật giáo là một hệ thống gồm các quan điểm về con người, đời sống của con người. Về con người Phật giáo tập trung ở học thuyết cấu tạo con người, học thuyết về sự xuất hiện và tái sinh. Theo Phật con người được cấu tạo từ những yếu tố thể hiện trong thuyết Danh sắc và thuyết Lục đại. Thuyết Danh sắc: Con người được cấu tạo từ hai yếu tố vật chất và tinh thần. Thuyết Lục đại: Con người được cấu tạo từ sáu yếu tố: Địa : Nghĩa là đất, xương thịt. Thủy : Nước, máu, chất lỏng. Hỏa : Lửa, nhiệt khí. Phong : Gió, hô hấp Không : Các lỗ trống trong cơ thể Thức : ý thức tinh thần. Trong 6 yếu tố này thì 5 yếu tố đầu thuộc về vật chất, chỉ có yếu tố cuối cùng thuộc về tinh thần. So với thuyết Danh sắc thì thuyết lục đại xét cấu tạo con người nghiêng nặng về vật chất còn thuyết kia gần như có sự cân bằng, hài hòa về hai lĩnh vực vật chất, tinh thần. Thuyết Ngũ ẩn : Xem con người được cấu tạo từ năm yếu tố. Sắc : Vật chất bao gồm địa, thủy, hỏa, phong. Thụ : Tình cảm, cảm giác con người. Tưởng : Tưởng tượng, tri giác, ký ức. Hành : ý thức, những yếu tố khiến tâm hoạt động. Thức : ý thức theo nghĩa rộng gồm cả thụ, tưởng, hành. Trong các thuyết về cấu tạo con người của Phật giáo, thì thuyết Ngũ uẩn là phổ biến hơn cả. Như vậy, Phật giáo cho rằng, con người không có thực thể là "không", gọi là "nhân vô ngã" (nhân không). Con người được tạo thành từ Ngũ uẩn cho nên không có chủ thể hằng thường tự tại. Con người là sản vật, tự nhiên không có hình thái cố định của tính vật chất nhưng vì đã ăn vật chất trên thế giới nên dần hình thành khối vật chất thô kệch có sự phân biệt tính cách, màu da. Có bốn loại thực: Đoạn thực : Thức ăn là động, thực vật, thức ăn vật chất, là cơm ăn nước uống hàng ngày. Xúc thực : Thức ăn là những cảm xúc, cảm giác. Tư thực : Thức ăn là sự suy tư, nghĩ ngợi. Thức thực : Thức ăn là tinh thần, là thức ăn ở cõi vô sắc, sống bằng tinh thần thanh cao. Phật giáo quan niệm sự vật đều luôn vận động biến đổi, không có cái gì là thường hằng, bất biến. Xuất phát từ duyên khởi luận, Phật giáo cho rằng thế gian hết thảy đều biến hóa, vô ngã, vô thường. Theo Phật giáo, có hai loại vô thường. Đó là sát na vô thường và tương tục vô thường. Trong đó, sát na vô thường chỉ sự biến hóa trong khoảng thời gian cực ngắn. Còn tương tục vô thường chỉ trong một chu kỳ nối tiếp nhau đều có sinh - trụ - dị - diệt (đối với sinh vật), hay thành - trụ - hoại - không (đối với sự vật), đối với con người là sinh - lão - bệnh- tử. Quan niệm của nhà Phật cho rằng, con người là sự kết hợp động của những yếu tố động, cho nên là giả tạm, suy cho cùng là vô ngã. Với cách nhìn như thế, Phật giáo cho rằng, mọi sự vật hiện tượng là giả danh không có thực, con người chỉ là giả hợp của Ngũ uẩn tùy duyên giả hợp mà thành, cho nên là hư vọng huyễn hóa. Đủ nhân duyên hợp lại thì gọi là sống, hết nhân duyên tan ra gọi là chết. Sống, chết là giả hợp tan của Ngũ uẩn. Do mê lầm, mà vô thường con người tưởng là thường, vô ngã mà tưởng có ngã. Thân xác con người là nguồn gốc của mọi khổ đau. Mọi đau khổ như đói khát, sinh, lão, bệnh, tử, nóng, giận, dâm dục v.v... đều có gốc từ con người mà ra. Điều này cho thấy, Phật giáo nhìn nhận cuộc đời con người là khổ. Nếu quan niệm chết là hết là chưa hiểu đúng Phật giáo, mà theo Phật giáo, chết là điều kiện để có cái sinh mới sắp tới. Phật giáo giải thích sự chết của con người bằng thuyết luân hồi nghiệp báo… Khi con người hình thành thì mọi suy nghĩ, hành động được ghi lại ở một nơi là Alaya, cứ thế tích tụ thành Karma - Luật vô hình đặc trưng của người. Khi con người chết luật vô hình quay lại gặp điều kiện thuận lợi tạo thành sinh linh mới chịu quả ở kiếp trước và nhân ở kiếp sau cứ thế luân hồi. Cuộc đời con người là một mắt xích trong chuỗi dài vô tận, chỉ là một gợn sóng trên mặt biển bao la. Cuộc sống của con người trên trần thế không thay đổi được, nó do nghiệp cũ quy định theo luật nhân quả; mọi việc làm của con người đều là nhân của sự kết hợp Ngũ uẩn tiếp theo. Học thuyết nhân quả của Phật giáo cho rằng, con người gieo nhân nào hưởng quả ấy, ở hiền gặp lành, gieo gió gặt bão. Đời này ra sức học tập thì đời sau thông minh sáng suốt; đời này lười biếng thì đời sau ngu đần dốt nát; đời này sát sinh thì đời sau chết yểu; đời này phóng sinh thì đời sau sống lâu; đời này làm khổ chúng sinh thì đời sau đau khổ; đời này có tâm vỗ về an ủi người khác thì đời sau hạnh phúc; đời này giận dữ cáu kỉnh thì đời sau tướng mạo xấu xí... Đức Phật có nói: "Những kẻ tạo nghiệp ác dù có lên trời, xuống biển hay vào hang núi cũng không nơi nào có thể trốn thoát" [12, tr. 275]. Có thể nói, Phật giáo quan niệm mối quan hệ nhân quả là mối quan hệ phổ biến và chi phối tất cả. Phật giáo nguyên thủy cho thế giới này không có nguyên nhân đầu tiên cũng như cuối cùng, thế giới không do một đấng tối cao nào sáng tạo ra; từ đó đi đến bác bỏ mọi quan niệm cho rằng Thượng đế hay linh hồn là lực lượng đầu tiên sáng tạo ra muôn vật. Tuy nhiên, quan niệm về mối liên hệ nhân quả mà Phật giáo đề cập và nhấn mạnh thuộc lĩnh vực đạo đức, tinh thần, tâm lý cá nhân. Theo quan niệm của Phật giáo, xét đến cùng muôn vật trong vũ trụ là hệ thống nhân duyên của nhau, cứ thế sinh sinh diệt diệt mãi nối tiếp nhau vô cùng tận; thế giới là vô thủy vô chung, không có cái gì là trường tồn bất biến. Mọi cái đều biến đổi vận động không ngừng, không có cái vĩnh hằng; mọi vật đều tuân theo quy luật sinh, trụ, dị, diệt. Con người cũng thuộc về thế giới hiện tượng. Thân xác con người được đề cập trong các thuyết Danh sắc, thuyết Lục đại, thuyết Ngũ uẩn của Phật giáo. Theo luật nhân quả của Phật giáo, những việc làm của con người là nguyên nhân tạo ra sự ngũ uẩn tiếp theo. Bản thân nghiệp này do kiếp trước quy định; cứ thế con người ở trong vòng luân hồi sinh tử không ngừng từ đời này sang đời khác. Điều đó ít nhiều mang tính biện chứng. Tuy nhiên, do tuyệt đối hóa sự vận động và gắn sự vận động với tính giả tạm vô thường của sự vật, cho nên Phật giáo không có được quan niệm đúng đắn về sự thống nhất biện chứng giữa vận động và đứng im tương đối, không thấy được sự vận động bao giờ cũng gắn với sự phát triển. Về cuộc đời con người Triết học Phật giáo bác bỏ Brahma và Atman, nhưng lại tiếp thu tư tưởng luân hồi Samsara và nghiệp Karma của Upanisad cho rằng, mọi vật mất đi ở chỗ này là để sinh ra ở chỗ khác, trong quá trình biểu hiện sinh tử theo nghiệp nhân quả luân hồi. Để giải thoát chúng sinh khỏi nghiệp nhân quả luân hồi sinh - tử; tử - sinh, Đức Phật nêu ra Tứ diệu đế và Thập nhị nhân duyên. Tứ diệu đế là bốn chân lý giải thoát tuyệt diệu, thiêng liêng mà mọi người đều phải nhận thức được đó là: Khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế. Khổ đế Triết lý nhân sinh Phật giáo cho rằng, bản chất cuộc đời con người là khổ: "Đời là bể khổ, đời là cả những chuỗi bi kịch liên tiếp, bốn phương đều là bể khổ, nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước biển, vị mặn của máu và nước mắt chúng sinh mặn hơn nước biển" [16, tr. 12]. Khổ đế nói lên bản chất của nhân sinh. Quan niệm nhân sinh trong triết học Phật giáo mang tính tiêu cực yếm thế, coi đời chỉ là ảo hóa tạm bợ. Do vô minh, con người không nhận thức được điều đó, do đó cứ lặn lội mãi trong biển sinh tử, luân hồi. Cuộc đời con người đầy rẫy những nỗi khổ, nhưng không ai nhìn thấy tường tận và rõ ràng. Đức Phật chỉ rõ: "Ba giới không chút nào yên như là lò lửa, nỗi khổ đầy rẫy trong đó, thật là đáng sợ" (Kinh Pháp Hoa); "ta thấy các chúng sinh đắm chìm trong bể khổ" (Kinh Pháp Hoa, Thọ Lượng Phẩm). Nỗi khổ của thế gian là khôn cùng, song có thể chia làm ba loại khổ hay tám thứ khổ. Ba loại khổ (Tam khổ) là: khổ khổ, hoại khổ và hành khổ. Khổ khổ: Muốn nói tới cái khổ chồng chất nối tiếp cái khổ. Mỗi chúng sinh là nạn nhân của bao cái khổ. Cái khổ có ở ngay thể xác như bệnh tật hiểm nghèo… lại có cái khổ khác bên ngoài thể xác như thiên tai, chiến tranh... Tất cả những cái khổ đó liên tiếp dồn dập đến với con người. Hoại khổ: Do sự thay đổi tạo nên tuân theo luật vô thường - không có cái vĩnh hằng. Ca dao có câu "nước chảy đá mòn", để nói một sự vật vững chắc, cứng rắn như đá nhưng cùng với thời gian chịu tác động của ngoại cảnh cũng phải thay đổi rồi bị hủy diệt tan biến. Con người cũng vậy, không thể nằm ngoài quy luật chung đó. Hành khổ: Những nỗi khổ về tinh thần con người, do không làm chủ được mình bị lôi kéo vào những dục vọng làm cho tâm bị dằn vặt sinh ra buồn vui, giận hờn, yêu ghét… Tám thứ khổ (Bát khổ): Đức phật tóm tắt thành tám thứ khổ trong cuộc đời của một con người gồm: sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly, oán tăng hội, sở cầu bất đắc, thủ ngũ uẩn khổ. Tám thứ khổ này là sự cụ thể hóa, tỉ mỉ hơn về các nỗi khổ của chúng sinh ở trần thế, song nội dung thì được bao hàm bởi ba khổ trên. Sinh khổ: con người khi sinh ra đã cất tiếng khóc chào đời; trước đó còn ở trong bụng mẹ thì chật chội tăm tối; người mẹ mang thai con thì vất vả mệt nhọc, kém ăn, mất ngủ, chịu bao cái khác thường so với người khác. Trong cuộc sống hàng ngày, con người muốn tồn tại được thì trước hết phải ăn, uống, mặc ở, sinh hoạt, đi lại… Muốn vậy, con người phải lao động hết sức vất vả, cực khổ, tất bật trong công việc. Đó là về mặt vật chất, còn những nỗi khổ về tinh thần dày vò con người cũng không kém nỗi khổ về vật chất, nó làm con người suy kiệt, ốm yếu,... (lão khổ). Con người đến lúc già, tuổi cao, thân thể hao mòn già yếu các giác quan, hoạt động kém; mắt mờ, chân chậm, tai điếc... dễ sinh bệnh gây đau ốm cho người bệnh và người thân xung quanh. Tử: đến một thời điểm nhất định con người phải chết, xa lìa trần thế để lại nỗi xót thương vô hạn cho người thân, bè bạn. Ai cũng vậy, sợ phải xa lìa người thân, bè bạn, bởi cuộc sống biết bao điều thú vị. ái biệt ly: nỗi khổ khi phải xa cách chia ly người mình mến thương như vợ chồng, cha mẹ, anh em… Nỗi khổ này bao gồm cả nỗi khổ sinh tử biệt ly: Sống phải xa nhau đã khổ, nhưng người ở lại người đi vào thế giới khác thì đó là nỗi khổ tình thương, tuyệt vọng biết nhường nào. Oán tăng hội khổ: nỗi khổ vì phải sống cùng với người mà mình không hề yêu thích; ở chung với những người như vậy giống như gai đâm vào mắt mà không làm gì được. Sở cầu bắt đắc khổ: là những nỗi khổ do con người mong muốn, ước ao mà không được, con người phải lao tâm khổ tứ biết bao, mong có được ngày thành đạt; nếu điều đó không thành thì nỗi khổ ấy thật khủng khiếp dày vò con người, khiến con người tuyệt vọng… Ngũ thụ uẩn khổ gây ra bởi sắc, thọ, tưởng, hành, thức làm cho thân tâm phải chịu hết thảy những nỗi khổ. Thích Ca nói với chúng sinh: già là khổ, bệnh khổ, chết khổ, cái gì của ta mà phải xa rời là khổ, cái gì không ưa thích mà phải hợp là khổ, cái gì muốn mà không được là khổ. Tóm lại là triền miên trong ngũ trọc giả hợp. Học thuyết khổ đế đã chỉ ra những nỗi khổ lớn nhất trong cuộc đời con người. Với lòng từ bi thương người của mình, Đức Phật muốn chúng sinh biết hết mọi nỗi khổ có ở đời để khi gặp phải không làm cho tinh thần hoảng loạn, mà phải biết bình tĩnh suy xét tìm cách giải khổ, làm chủ được bản thân, vượt lên trên số phận. Điều này cho thấy, Phật giáo không hề trốn tránh cuộc sống trần gian, cũng như không tô hồng nó, mà đã dũng cảm nhìn vào hiện thực cuộc đời con người. Tập đế Tập đế nói lên sự tập hợp, tích chứa những nguyên nhân đưa tới cái khổ. Đức Phật cho rằng, mọi cái khổ đều có nguyên nhân của nó (Thập nhị nhân duyên). Phật Thích Ca thuyết pháp cho môn đệ phép màu nhiệm về nguyên nhân sự khổ. Đó là lòng tham sống mà luân hồi sinh tử: càng tham, càng muốn, càng được lại càng tham. Con người tham sống, tham sướng, tham mạnh v.v... Nguyên nhân của lòng tham là vô minh, nghĩa là không sáng suốt, không nhận thức được thế giới, không thấy mọi sự vật đều là ảo giả, mà cứ cho là thực; không nhận thức được ngay chính bản thân mình, cả thế giới khách quan lẫn bản thể chủ quan đều chỉ là vô thường vô ngã trong vòng luân hồi trôi chảy bất tận, chính cái này dẫn đến lòng tham sống ở trong con người. Phật giáo nói đến đau khổ chủ yếu là chỉ tinh thần bức bách. Trong 12 nguyên nhân đưa ra thì Đức Phật cho rằng, vô minh và ái dục là hai nguyên nhân chủ yếu đưa đến đau khổ cho con người. Sự kết hợp giữa ái dục và vô minh xuất phát từ nguồn gốc của ba thứ mà phật gọi là tam độc: tham, sân, si. Tham: Biểu hiện sự tham lam của con người làm xúi dục con người hành động để thỏa mãn lòng tham của mình. Lòng tham của con người không có giới hạn, đây là nguyên nhân gây bao nỗi thống khổ cho con người như chém giết, xâm hại lẫn nhau. Sân: Sự cáu gắt, bực tức, nóng giận khi con người không hài lòng về điều gì đó, làm cho con người không kiểm soát hết hành động của mình (giận quá mất khôn); như thế cũng đem lại những điều khổ đau, không hay cho con người. Sách Phật ghi rằng, một đốm lửa giận có thể đốt hết muôn mẫu rừng công đức và một niệm sân hận nổi lên, thì trăm ngàn, cửa nghiệp chướng mở. Si: Sự si mê, lú lẫn, làm cho con người không phân biệt điều hay dở; điều đó gây bao tội lỗi, đau khổ cho mọi người. Nếu tham sân nổi lên mà có trí sáng suốt sẽ ngăn chặn được tham, sân. Tiếp đến Đức Phật trình bày những nguyên nhân của 12 nỗi khổ (Thập nhị nhân duyên). Duyên hành: là hành động có ý thức; ở đây đã có sự dao động của tâm, có mầm mống của nghiệp. Duyên thức: Tâm thức từ chỗ cân bằng trong sáng đến dần dần mất cân bằng, tùy theo nghiệp mà tâm thức tìm đến các nhân duyên để hình thành cuộc đời khác. Duyên danh sắc: là sự tụ hợp của các yếu tố vật chất tinh thần ;với các loài hữu tình thì sự hội nhập của danh sắc sinh ra các cơ quan cảm giác, trầm sức, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Duyên lục nhập: Quá trình tiếp xúc với thế giới khách quan, lục căn tiếp xúc với lục trần sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp Duyên xúc: Là sự tiếp xúc phối hợp giữa lục căn, lục trần và thức xúc, là quả của lục nhập, là nguyên nhân của thụ. Duyên thụ: Là cảm giác do tiếp xúc với thế giới bên ngoài mà sinh ra yêu,ghét,buồn, vui. Duyên ái: Là yêu nảy sinh dục vọng, mong muốn. Duyên thủ: Có ái thì có thủ, đã yêu thì muốn chiếm lấy, giữ lấy cho mình Duyên hữu: Tiến tới xác định chủ thể chiếm hữu (cái ta); từ đây chứng tỏ có nguyên nhân chứa đựng nguyên nhân. Duyên sinh: Đã có tạo nghiệp là nhân tất yếu sẽ sinh ra quả; là hiện hữu là tu sinh ra ở thế giới để làm người, hay súc sinh. Duyên lão tử: Đã có sinh tất yếu có già và có chết. Sinh - lão - bệnh - tử là kết thúc một chu kỳ, đồng thời là nguyên nhân của một chu kỳ tiếp theo, bắt đầu một vòng luân hồi mới. Cứ như thế tiếp diễn ở trong vòng đau khổ sinh tử. Diệt đế Đức Phật khẳng định, cái khổ có thể tiêu diệt được, chấm dứt được luân hồi. Đức Phật đã giảng cho môn đệ về vấn đề này ở thành Ba Nại Na: "Này các Thầy xa môn đến đạo diệt khổ, diệt lòng tham sinh hợp với thích thú và nhục dục tìm thích thú ở chỗ này chỗ khác nhất là tham dục, tham sinh, tham vô minh, diệt hết những dục vọng ấy sẽ khỏi khổ". Vì vậy, mỗi chúng sinh phải tu dưỡng thân tâm, đoạn trừ "vô minh", để cho Phật tính bừng sáng, nó sẽ là ngọn đèn pha dẫn bước chúng sinh đến cõi Niết bàn. Muốn diệt trừ "vô minh" phải có trí tuệ vì: "Có trí tuệ thì hết đam mê, luôn luôn tự thức tỉnh và tự dò xét, không để lầm lỗi có thể có được, trí tuệ chân thật là chiếc thuyền chắc chắn nhất vượt bể sinh, lão, bệnh, tử. Là ngọn đèn sáng nhất đối với hắc ám vô minh... là búa sắt chặt cây phiền não" [27. tr 36-37] Diệt đế nói lên thế giới của sự giải thoát, thế giới không còn khổ đau. Đạo đế Sau khi chỉ ra các nỗi khổ ở cuộc đời con người cũng như nguyên nhân gây nên các nỗi khổ ấy. Đức Phật khẳng định, có thể tiêu diệt được khổ, tiêu diệt nỗi khổ nhân sinh bằng trải qua tu luyện để thoát khổ đạt đến cõi Niết bàn tuyệt đối tịch tịnh sung sướng, an lạc và tốt đẹp nhất. Cuối cùng ngài đưa ra con đường để thoát khổ thực chất là diệt trừ vô minh, con đường đó là bát chính đạo. Đây là con đường tương đối phổ biến, là môn pháp chính được đề cập đến nhiều nhất đến nỗi có người lầm tưởng đạo đế và bát chính đạo là một, đồng nhất. Chính kiến: Là sự hiểu biết đúng đắn, nhận thức rõ về tứ diệu đế, hiểu đúng sự vật khách quan. Người có chính kiến sẽ biết phân biệt đúng sai, chi phối mọi hành động, tâm trí sáng suốt. Chính tư duy: Sự suy nghĩ phán xét đúng với lẽ phải. Người tu hành theo chính tư duy biết suy xét vô minh là nguyên nhân của khổ đau, tìm ra phương pháp tu luyện để thoát khổ cho mình và mọi người; đó là diệt trừ vô minh, tam độc. Chính ngữ: Lời nói ngay thẳng, là đưa chính tư duy vào thực hành trong lời nói cụ thể: không nói dối, không tạo ra sự bất hòa giữa mọi người, không nói lời ác dữ, không thừa lời vô ích. Người tu hành trước khi nói năng phải suy nghĩ người nghe, nói lời đoàn kết dịu hiền. Chính nghiệp: Đức Phật dạy chúng sinh rằng: Nếu là tà nghiệp như sát sinh, trộm cắp, tà dâm, thì phải cải tạo, cải tà quy chính, làm điều thiện tránh điều ác. Còn nếu là chính nghiệp việc làm hợp với lẽ phải, có ích cho mọi người thì phải giữ gìn. Trong chính nghiệp lại có thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp. Thân nghiệp: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm. Khẩu nghiệp: Không nói dối, không nói ác, không nói hai lưỡi, không nói thêu dệt. ý nghiệp: Không tham dục, không nóng giận, không tà kiến. Chính mệnh: Lối sống trong sạch, lương thiện, ngay thẳng của con người; không tham lam gian ác, ăn bám kẻ khác, không gian dối bất chính; sống chân chính bằng nghề nghiệp chính đáng. Có thể nói đây là phong cách sinh hoạt lành mạnh giúp cho con người luôn thoải mái nhẹ nhàng; như thế giúp cho sức khỏe - vốn là cái quí giá nhất ở con người để họ làm việc có hiệu quả.
- Xem thêm -