Pháp luật Việt Nam về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài trong tương quan so sánh với vài quốc gia trên thế giới

  • Số trang: 93 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 21 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

MỤC LỤC Trang Lời cam đoan Danh mục các thuật ngữ viết tắt Mở đầu…………………………………………..…………………… 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI……………………………… 1.1. Khái quát chung................................................................ 1.1.1. Hôn nhân .......................................................................... 1.1.2. Hôn nhân có yếu tố nước ngoài........................................ 9 9 9 11 1.2. Nội dung cơ bản của pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nƣớc ................................................................. 1.2.1. Đối tượng điều chỉnh........................................................ 1.2.2. Nguồn điều chỉnh……………………………………….. 1.2.3. Phương pháp điều chỉnh………………………………... Kết luận Chƣơng 1.................................................................... 17 18 18 31 34 CHƢƠNG 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI………….…………………………………………………... 2.1. Quy định về kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài....................... 2.1.1. Về điều kiện kết hôn......................................................... 36 36 37 2.1.2. Về nghi thức kết hôn......................................................... 48 2.1.3. Hủy việc kết hôn trái pháp luật ......................................... 52 2.2. Quy định về quan hệ pháp lý giữa vợ và chồng có yếu tố nƣớc ngoài.............................................................................. 2.2.1. Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng…………………… 2.2.2. Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng……………………….. 2.3. Quy định về chấm dứt quan hệ hôn nhân……………… 2.3.1. Trường hợp một bên chết hoặc bị tuyên bố là chết……... 2.3.2. Trường hợp ly hôn………………………………………. Kết luận Chƣơng 2.................................................................... 54 56 59 62 62 63 69 CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI……………………………………………..…………... 3.1. Thực trạng pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nƣớc ngoài tại Việt Nam……………………………… 3.2. Một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nƣớc ngoài……………………………………………………………. Kết luận Chƣơng 3…………………………………………….. Kết luận …………………………………………..…………………… Danh mục tài liệu tham khảo ………………………………...……... 72 72 85 94 96 100 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hôn nhân, một cách chung nhất có thể được định nghĩa là sự kết hợp đặc biệt giữa nam giới và nữ giới, dựa trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện và tiến bộ, hướng tới mục tiêu xây dựng một gia đình hòa thuận, hạnh phúc và bền vững. Hôn nhân hình thành khi các chủ thể đảm bảo các điều kiện kết hôn do pháp luật quy định và được xác lập bằng sự kiện pháp lý: đăng ký kết hôn. Sự kiện đó làm phát sinh quan hệ tài sản và nhân thân giữa vợ - chồng (gọi tắt là quan hệ pháp lý giữa vợ và chồng) và chấm dứt bởi sự kiện ly hôn, một trong hai người chết hoặc bị Tòa án tuyên bố đã chết. Quan hệ hôn nhân (sau đây viết tắt là QHHN), xét ở nhiều góc độ, vừa là quan hệ pháp luật vừa là quan hệ xã hội đa dạng, phức tạp và nhạy cảm. Với xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ như hiện nay, phạm vi phát sinh các QHHN không chỉ bó hẹp giữa các cá nhân có cùng quốc tịch và cùng cư trú trên lãnh thổ một quốc gia mà được mở rộng giữa các cá nhân có quốc tịch khác nhau hoặc cư trú tại các nước khác nhau. Đồng nghĩa với các QHHN có yếu tố nước ngoài phát sinh ngày càng nhiều. Hôn nhân có yếu tố nước ngoài là một trong những chế định quan trọng của pháp luật Việt Nam. Cùng với quá trình hội nhập quốc tế của đất nước, pháp luật điều chỉnh QHHN có yếu tố nước ngoài đã có sự chuyển biến tích cực và ngày càng phát triển. Nhà nước CHXHCN Việt Nam đã quan tâm, chú trọng và tạo dựng khung pháp lý để ghi nhận, bảo hộ QHHN có yếu tố nước ngoài. Hiến pháp sửa đổi năm 2013 đã khẳng định: “1. Nam, nữ có quyền kết hôn , ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau. 2. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em”. [29] Luật HN&GĐ năm 2000 và Luật HN&GĐ năm 2014 (được thông qua ngày 19/6/2014, có hiệu lực từ ngày 01/01/2015) cùng khẳng định nguyên tắc: 1 “Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ” và: “Trong quan hệ hôn nhân và gia đình với công dân Việt Nam, người nước ngoài tại Việt Nam được hưởng các quyền và có nghĩa vụ như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác. Nhà nước CHXHCN Việt Nam bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong QHHN và gia đình phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế” [30, Điều 2, Điều 100], [31, Điều 2, Điều 121]. So với các quy định trước, Luật HN&GĐ năm 2000 đã thể hiện sự chuyển biến tích cực khi lần đầu tiên quy định khái niệm hôn nhân có yếu tố nước ngoài (Khoản 14 Điều 8) và dành riêng một chương để điều chỉnh nội dung trên. Ngoài ra hệ thống các văn bản dưới luật và 11 Điều ước quốc tế đa phương đã gia nhập cùng 33 Hiệp định song phương về tương trợ tư pháp Việt Nam ký kết với 25 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đóng góp hiệu quả trong quá trình làm ổn định và phát triển các giao lưu dân sự quốc tế; là công cụ đắc lực bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân các nước có liên quan đồng thời thực hiện nhiệm vụ đặc thù, quan trọng của tư pháp quốc tế - hài hòa hóa các xung đột pháp luật. Bên cạnh những ưu điểm như đã nêu, Luật HN&GĐ năm 2000 vẫn tồn tại một số hạn chế, bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn hiện nay, cần được sửa đổi bổ sung, đó là: quy định về tuổi kết hôn chưa đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất với quy định về người đã thành niên trong BLDS; chưa quy định về vấn đề kết hôn giữa những người cùng giới tính, vấn đề cho phép mang thai hộ; quy định chưa rõ ràng về chế độ sở hữu tài sản của vợ chồng, thiếu cơ chế công khai minh bạch về tài sản chung, tài sản riêng; chưa mở rộng quy định người đại diện và quyền được yêu cầu giải quyết ly hôn cho người vợ hoặc chồng bị mất năng lực hành vi dân sự dẫn đến việc giải quyết các vụ án ly hôn còn vướng mắc… [6, tr. 13 - 43] 2 Khắc phục những tồn tại nêu trên, Luật HN&GĐ năm 2014 đã bãi bỏ quy định “cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính” nhưng quy định cụ thể “không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”; nâng độ tuổi kết hôn của nữ thành “đủ 18 tuổi”; chính thức cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo; bổ sung quy định chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận đồng thời quy định cụ thể việc áp dụng tập quán trong hôn nhân gia đình… Mặc dù đã thể hiện những bước đột phá mang tính tiến bộ, Luật HN&GĐ năm 2014 nói riêng và hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung còn tồn tại một số vấn đề trong thực tiễn chưa được quy định như chế định ly thân, hoặc đã quy định nhưng chưa cụ thể như QHHN giữa những người cùng giới tính; vấn đề thiếu vắng các quy phạm xung đột lựa chọn pháp luật điều chỉnh một số QHHN có yếu tố nước ngoài như quan hệ pháp lý giữa vợ và chồng, tính hợp pháp của nghi thức kết hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật. Ngoài ra, một số quy định về thủ tục tố tụng giải quyết QHHN có yếu tố nươc ngoài chưa thực sự phù hợp với thực tiễn, gây khó khăn, làm ảnh hưởng tới việc thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự … Trong lộ trình thực hiện những mục tiêu của công cuộc cải cách tư pháp đã được Bộ Chính trị nhấn mạnh tại Nghị quyết số 49 - NQ/TW ngày 02/6/2005 về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, một trong những mục tiêu, quan điểm được xác định là: “Cải cách tư pháp phải kế thừa truyền thống pháp lý dân tộc, những thành tựu đã đạt được của nền tư pháp xã hội chủ nghĩa Việt Nam: tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp với hoàn cảnh nước ta và yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế; đáp ứng được xu thế phát triển của xã hội trong tương lai” [2, tr.2 ]. Chính vì lẽ đó, việc nghiên cứu pháp luật Việt Nam điều chỉnh QHHN có yếu tố nước ngoài, đồng thời đặt trong mối tương quan so sánh với pháp luật một số quốc gia có trình độ, kỹ thuật lập pháp cao (như Nhật Bản, Pháp, Đức) và một số quốc gia có những nét gần gũi, tương đồng về văn hóa, quan điểm với Việt Nam (như Trung Quốc, Campuchia, Hàn Quốc, Thái Lan, Nga)... là một yêu cầu quan trọng và cấp bách. Thông qua đó, góp phần thực hiện mục tiêu tiếp tục phát huy những ưu điểm đã đạt được và 3 nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm quốc tế nhằm đề xuất những giải pháp khắc phục tồn tại của pháp luật quốc gia. Từ thực trạng, nguyên nhân và những mục tiêu trên, tác giả chọn đề tài “Pháp luật Việt Nam về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài trong tương quan so sánh với một số quốc gia trên thế giới” làm luận văn thạc sĩ luật học với hy vọng góp phần đáp ứng được tính cấp thiết và có giá trị về lý luận cũng như thực tiễn hiện nay. 2. Tình hình nghiên cứu QHHN có yếu tố nước ngoài là vấn đề pháp lý có nội hàm rộng và lý thú, đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều độc giả với những công trình nghiên cứu như: Luận án tiến sĩ “Pháp luật điều chỉnh QHHN có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam” năm 2003 của tác giả Nông Quốc Bình, Luận văn thạc sĩ “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam trong xu thế hội nhập” năm 2011 của tác giả Nguyễn Cao Hiến; Luận văn thạc sĩ “Vấn đề kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài theo pháp luật Việt Nam, so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới” năm 2012 của tác giả Hoàng Như Thái. Ngoài ra, một số cuốn sách chuyên khảo có liên quan như: “Giới thiệu nội dung cơ bản của Luật HN&GĐ năm 2000” của tác giả Đinh Trung Tụng, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh năm 2000, “Quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế” của tác giả Nông Quốc Bình – Nguyễn Hồng Bắc, Nhà xuất bản Tư pháp Hà Nội năm 2006 và nhiều bài viết sâu sắc khác đánh giá về vấn đề QHHN có yếu tố nước ngoài... Một điểm chung của các công trình nêu trên là đề cập đến một quan hệ pháp luật cụ thể mà chưa nghiên cứu toàn diện về pháp luật điều chỉnh các QHHN có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam trong tương quan so sánh với một số quốc gia trên thế giới. Do đó, nghiên cứu về QHHN có yếu tố nước ngoài không phải là một hiện tượng mới song lại là một đề tài cần có sự nghiên cứu nghiêm túc và kỹ lưỡng để bao quát vấn đề một cách toàn diện và khai thác ở cấp độ sâu 4 sắc hơn. Dù vậy, những tài liệu đã được công bố nêu trên là nguồn tài liệu có giá trị cho tác giả tham khảo trong quá trình thực hiện luận văn. Đối với luận văn này, trên cơ sở tham khảo một số tài liệu có liên quan, học viên đã tiếp cận vấn đề một cách nghiêm túc. Từ việc nghiên cứu pháp luật quốc tế, pháp luật của một số quốc gia trên thế giới và pháp luật Việt Nam về QHHN, tác giả đã đưa ra một số giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật trong nước về vấn đề này. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 3.1. Mục đích nghiên cứu: Thông qua phương pháp so sánh với pháp luật một số quốc gia trên thế giới, trên cơ sở nghiên cứu những quy định của pháp luật quốc tế, nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng về QHHN ở Việt Nam nhằm giúp nhận thức rõ những ưu điểm, thành công và một số tồn tại, bất cập. Học viên đề xuất, kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam điều chỉnh QHHN có yếu tố nước ngoài phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế, có tính đến việc học tập kinh nghiệm quốc tế về QHHN. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: - Nghiên cứu tổng quan pháp luật Việt Nam điều chỉnh về QHHN có yếu tố nước ngoài, bao gồm các nội dung: kết hôn (điều kiện và nghi thức kết hôn), các quan hệ pháp lý giữa vợ và chồng (quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản) và ly hôn; - So sánh các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam với một số quốc gia trên thế giới; - Phân tích, đánh giá kết quả đã đạt được, những hạn chế, bất cập của pháp luật Việt Nam điều chỉnh QHHN có yếu tố nước ngoài; - Đề xuất và luận chứng những kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam điều chỉnh QHHN có yếu tố nước ngoài. 4. Tính mới và những đóng góp của Đề tài Nội dung về QHHN có yếu tố nước ngoài là một đề tài nhận được sự quan tâm của nhiều độc giả, nhiều nhà nghiên cứu, nên những công trình liên quan 5 đến nghiên cứu vấn đề QHHN có yếu tố nước ngoài đã được trình bày, công bố nhiều. Tuy nhiên nghiên cứu về pháp luật Việt Nam điều chỉnh các nội dung của QHHN có yếu tố nước ngoài trong tương quan so sánh với pháp luật một số quốc gia trên thế giới thì chưa có nhiều. Đề tài nghiên cứu mang tính xây dựng, trên cơ sở tham khảo bài viết của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học đã đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật trong nước về vấn đề này. 5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn gồm các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý của việc điều chỉnh QHHN có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam. Trình bày mang tính chất tham khảo pháp luật điều chỉnh QHHN có yếu tố nước ngoài của pháp luật một số quốc gia trên thế giới. Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những nội dung pháp lý liên quan tới các quy định của pháp luật điều chỉnh QHHN có yếu tố nước ngoài, bao gồm: kết hôn, quan hệ pháp lý giữa vợ - chồng và chấm dứt quan hệ vợ chồng. Trong quá trình nghiên cứu, các quy định tương ứng của pháp luật một số nước được vận dụng để so sánh với pháp luật Việt Nam. 6. Phƣơng pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu Đề tài, tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó có phương pháp cụ thể sau: Thứ nhất, phương pháp phân tích: Học viên phân tích về mặt lý luận những quy định của pháp luật điều chỉnh QHHN có yếu tố nước ngoài trong phạm vi quốc gia và phạm vi quốc tế. Thứ hai, phương pháp so sánh: Được học viên áp dụng khi xem xét các vấn đề về pháp luật điều chỉnh QHHN có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong tương quan đối chiếu với một số nước trên thế giới. Đặc biệt phương pháp này sẽ được áp dụng nhằm rút ra những điểm chưa phù hợp trong quy định của pháp luật so với thực tiễn, với mục đích hoàn thiện các quy định đó. Thứ ba, phương pháp tổng hợp: Được học viên áp dụng nhằm rút ra những vấn đề cơ bản về mặt lý luận. Phương pháp giúp nhận thức rõ những ưu 6 điểm và hạn chế của quy định điều chỉnh QHHN có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Tổng quan pháp luật điều chỉnh QHHN có yếu tố nước ngoài. Chương 2: Pháp luật Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới điều chỉnh QHHN có yếu tố nước ngoài. Chương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh QHHN có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam. 7 Chƣơng 1: TỔNG QUAN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI 1. 1. KHÁI QUÁT CHUNG 1.1.1. Hôn nhân Nhu cầu sinh tồn và phát triển đã buộc con người tham gia rất nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau để đáp ứng những nhu cầu về vật chất, văn hóa hoặc tinh thần… Trong các mối quan hệ xã hội thì quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng) bao gồm quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động luôn diễn ra sôi động, đa dạng và gắn liền với bất cứ chủ thể nào. Hôn nhân là hiện tượng xã hội, phát sinh và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Đây cũng là vấn đề luôn được các nhà triết học, xã hội học, luật học nghiên cứu bởi bản chất là “sự liên kết giữa người nam và người nữ dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng theo điều kiện và trình tự luật định, nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc và hòa thuận” [40] và bởi “qua hôn nhân còn thể hiện sắc thái văn hóa của một tộc người” [27, tr.1]. Sự bền vững của hôn nhân là cơ sở tạo nên quan hệ vợ chồng và từ đó giúp hình thành các quan hệ phái sinh khác là quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng mà tổng hợp các mối quan hệ này là gia đình. Nói cách khác, hôn nhân là cơ sở của gia đình và tạo nên gia đình với tư cách là tế bào của xã hội. Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu, và của Nhà nước”, Ph. Ăng ghen đã chứng minh chế độ gia đình đã trải qua các loại hình tương ứng với ba hình thái kinh tế - xã hội, đó là loại hình gia đình huyết tộc của thời đại mông muội, loại hình gia đình cặp đôi của thời đại dã man và loại hình gia đình một vợ một chồng của thời đại văn minh. Trong quá trình phân tích và ca ngợi chế độ hôn nhân một vợ - một chồng, Ph. Ăng ghen khẳng định hôn nhân được hình thành trên cơ sở tình yêu và điều kiện quyết định sự tồn 8 tại của hôn nhân cũng là tình yêu: “Trong lý thuyết đạo đức cũng như trong thơ ca, không một quan niệm nào được xác lập bất di, bất dịch và vững chắc bằng quan niệm cho rằng bất cứ một cuộc hôn nhân nào không dựa trên tình yêu thương lẫn nhau và trên sự thỏa thuận thực hiện sự tự do giữa hai vợ chồng, đều là vô đạo đức cả” [21, tr.125]. Quan hệ hôn nhân (QHHN) - dưới góc độ pháp lý là một quan hệ pháp luật đặc thù bởi khác với các quan hệ dân sự bình thường, mục đích của các chủ thể không phải là nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất hoặc tinh thần trong một thời điểm nhất định mà nhằm xác lập mối quan hệ lâu dài. Nền tảng tạo dựng và điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của hôn nhân là yếu tố tình cảm. Các yếu tố khác ngoài tình cảm tự nguyện giữa các chủ thể, không thể là nền tảng của hôn nhân, hoặc nếu có, đã làm sai lệch bản chất thực sự của hôn nhân. QHHN được hình thành trên cơ sở của hôn nhân, khi các chủ thể đáp ứng điều kiện kết hôn (cả về nội dung và nghi thức) theo luật định và được xác lập bằng sự kiện pháp lý: đăng ký kết hôn. Sự kiện đó dẫn tới sự phát sinh và thay đổi các quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản giữa các chủ thể (nay đã được công nhận là vợ - chồng). Mặc dù khác biệt với các quan hệ dân sự bình thường bởi mục đích xác lập mối quan hệ lâu dài, điều đó không có nghĩa hôn nhân tồn tại vĩnh viễn mà sẽ bị chấm dứt trong những trường hợp nhất định. “Tính ràng buộc vĩnh viễn của hôn nhân cũng bị sứt mẻ trong hàng nghìn trường hợp” [21, tr. 127], khi đó sự kiện ly hôn hoặc sự kiện chết của một trong hai bên sẽ chấm dứt QHHN. Như vậy, nội hàm của quan hệ pháp luật hôn nhân bao gồm: sự kiện kết hôn (khi các chủ thể thỏa mãn điều kiện và nghi thức kết hôn) - giai đoạn bắt đầu hôn nhân; tổng thể các quyền lợi, nghĩa vụ pháp lý về tài sản và nhân thân giữa vợ và chồng - giai đoạn tồn tại hôn nhân và ly hôn - sự kiện kết thúc hôn nhân. 1.1.2. Hôn nhân có yếu tố nƣớc ngoài Sự hợp tác về mọi mặt giữa các quốc gia ngày càng phát triển đã tạo điều kiện hình thành các QHHN khác với QHHN truyền thống - QHHN có yếu tố 9 nước ngoài. Không giống QHHN thông thường, QHHN có yếu tố nước ngoài thường liên quan tới ít nhất hai hệ thống pháp luật trở lên. Một thực tế là mặc dù cùng điều chỉnh một quan hệ pháp luật, giữa các quốc gia luôn tồn tại những quan điểm khác biệt nhau. Điều đó dẫn đến sự “phức tạp hóa” của đối tượng điều chỉnh của pháp luật điều chỉnh QHHN có yếu tố nước ngoài. Việc làm sáng tỏ khái niệm và nhận diện đúng “yếu tố nước ngoài” trong QHHN do đó có vai trò hết sức quan trọng, bởi bên cạnh ý nghĩa giúp các chủ thể thực hiện đầy đủ các quyền lợi, nghĩa vụ của bản thân và xác định đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết, thì một mục đích quan trọng khác, đó là lựa chọn hệ thống pháp luật điều chỉnh để áp dụng giải quyết, nhằm “hài hòa hóa” các xung đột pháp luật. Căn cứ vào thực tiễn của các nước và ở Việt Nam thì mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau, song “yếu tố nước ngoài” của quan hệ dân sự (trong đó có QHHN) được nhận diện dựa vào một trong ba dấu hiệu: Thứ nhất, QHHN giữa các cá nhân có quốc tịch khác nhau hoặc có cùng quốc tịch nhưng cư trú ở các quốc gia khác nhau (dấu hiệu chủ thể có quốc tịch khác nhau). Thứ hai, khách thể của QHHN là tài sản và các quyền tài sản ở nước ngoài, được thực thi ở nước ngoài hoặc theo pháp luật của nước ngoài (dấu hiệu khách thể có liên quan đến nước ngoài). Thứ ba, căn cứ phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ tại nước ngoài (dấu hiệu sự kiện pháp lý xảy ra ở nước ngoài). Thực tiễn soạn thảo pháp luật dân sự của Nhà nước ta đã dựa trên cơ sở lý luận nêu trên để quy định về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005. Theo đó, Điều 758 BLDS năm 2005 quy định: "Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài" [28]. So với Điều 826 của BLDS năm 1995, các nội dung cơ bản về căn cứ để xác định quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài vẫn được kế thừa. Tuy nhiên, Điều 10 758 BLDS năm 2005 đã làm rõ hơn một số vấn đề như sau: Thứ nhất, về chủ thể của quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, đã xác định rõ có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài (thay vì quy định chung là có người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tham gia - như BLDS 1995). Thứ hai, về căn cứ pháp lý làm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, đã xác định rõ trường hợp quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài. Cụ thể hóa quy định trên, theo khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2015), quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; Quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài [31]. Như vậy, các tiêu chí để nhận diện yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam là: Thứ nhất, sự khác nhau về quốc tịch của chủ thể tham gia QHHN. Theo đó, một bên trong QHHN là công dân Việt Nam, còn bên kia là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư tại nước ngoài. Ví dụ: sự kiện kết hôn giữa nam công dân Singapore với nữ công dân Việt Nam; hoặc sự kiện nam công dân Việt Nam đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu ly hôn với vợ là người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Với tiêu chí này, cơ sở pháp lý để xác định yếu tố nước ngoài là sự khác nhau giữa quốc tịch của vợ và chồng (ngoại trừ trường hợp các chủ thể có cùng quốc tịch Việt Nam thì phải có ít nhất một trong bên là người Việt Nam định cư tại nước ngoài). Còn cơ sở pháp lý để xác định chủ thể có phải là người nước ngoài hay không là yếu tố quốc tịch. Khái niệm người nước ngoài đã được tiếp nhận khá sớm trong khoa học pháp lý ở nước ta, từ Tuyên bố về chính sách của Chính phủ liên hiệp lâm thời ngày 01/01/1946, Quyết định số 122/CP ngày 11 25/4/1977 của Hội đồng Chính phủ về chính sách đối với người nước ngoài cư trú, làm ăn sinh sống ở Việt Nam đến Luật Quốc tịch năm 1998 và Luật Quốc tịch năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Theo đó, người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam; người không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài [32]. Như vậy, “người nước ngoài” theo quy định của pháp luật Việt Nam bao gồm người có một hoặc nhiều quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch. Còn người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Các định nghĩa trên của pháp luật Việt Nam cũng phù hợp với pháp luật các nước trên thế giới. Chẳng hạn, theo Điều 14 Luật Quốc tịch Liên bang Nga năm 2002, công dân nước ngoài là người mang quốc tịch của một nước khác và không có quốc tịch Cộng hoà liên bang xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga. Người không quốc tịch là người không thuộc quốc tịch của Cộng hoà liên bang xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga và không có chứng cứ chứng tỏ người đó mang quốc tịch của nước khác [41]. Hoặc Điều 4, Luật Quốc tịch Thái Lan năm 1965 quy định: "Người nước ngoài có nghĩa là một người không có quốc tịch Thái Lan” [36]. Để tham gia vào QHHN có yếu tố nước ngoài, công dân Việt Nam và người nước ngoài phải đáp ứng đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự theo quy định. Việc xác định năng lực pháp luật và năng lực hành vi đối với công dân Việt Nam dựa trên quy định của pháp luật dân sự Việt Nam, còn đối với người nước ngoài, phải căn cứ theo pháp luật nước mà người đó là công dân hoặc nước nơi thường trú (đối với người không quốc tịch). Theo BLDS Việt Nam năm 2005, năng lực pháp luật và năng lực hành vi của người nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người đó mang quốc tịch. Trong trường hợp người nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài được xác định theo pháp luật CHXHCN Việt Nam [18, Đ. 761, 762]. Thứ hai, sự kiện pháp lý do các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt QHHN xảy ra ở nước ngoài (hoặc 12 theo pháp luật nước ngoài). Đó có thể là sự kiện kết hôn (phát sinh quan hệ), sự kiện ly thân giữa vợ - chồng (thay đổi quan hệ) hoặc sự kiện phán quyết có hiệu lực của Tòa án có thẩm quyền chấp nhận ly hôn giữa vợ - chồng (chấm dứt QHHN). Về sự kiện pháp lý làm phát sinh QHHN: Ví dụ, hai công dân Việt Nam kết hôn tại Anh, được cơ quan có thẩm quyền của Anh xác nhận. Trường hợp này, các bên có cùng quốc tịch nhưng việc kết hôn được tiến hành ở nước ngoài, trước cơ quan có thẩm quyền của nước mà cả hai đều không mang quốc tịch. Để giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan tới điều kiện kết hôn, trong trường hợp này, pháp luật được áp dụng để xác định điều kiện kết hôn về nội dung và nghi thức sẽ là pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật Anh. Cụ thể, pháp luật Việt Nam điều chỉnh điều kiện kết hôn đối với công dân Việt Nam (dựa trên nguyên tắc luật quốc tịch) còn pháp luật của Anh điều chỉnh về nghi thức kết hôn (trên cơ sở nguyên tắc luật nơi tiến hành kết hôn). Khi các bên đáp ứng điều kiện kết hôn theo pháp luật Việt Nam và việc thực hiện nghi thức đảm bảo phù hợp với pháp luật của Anh thì sự kiện pháp lý kết hôn chính thức làm phát sinh QHHN có yếu tố nước ngoài. Như vậy, trong trường hợp này sự kiện xảy ra ở nước ngoài nên đòi hỏi phải áp dụng pháp luật nước ngoài để giải quyết. Về sự kiện pháp lý làm thay đổi QHHN: Ví dụ, nam – nữ công dân Việt Nam đang sinh sống tại Cộng hòa Pháp đề nghị Tòa án nước này giải quyết yêu cầu xin ly thân. Trong trường hợp này, sự kiện Tòa án ban hành một bản án hoặc quyết định cho phép các bên ly thân được coi là sự kiện pháp lý làm thay đổi QHHN. Theo quyết định này, hôn nhân chưa bị chấm dứt nhưng quan hệ vợ chồng đã thay đổi, dẫn tới sự thay đổi trong quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân của vợ chồng. Cụ thể, chế độ tài sản chung giữa vợ và chồng chấm dứt kể từ thời điểm ly thân tuy nhiên, có thể hai bên vẫn có trách nhiệm cưu mang lẫn nhau khi ly thân hoặc một bên vẫn chịu một phần trách nhiệm nợ nếu trong thời gian ly thân, bên kia mắc nợ vì nhu cầu sinh sống [57].Trong trường hợp này, pháp luật được áp dụng điều chỉnh có thể là pháp luật của Pháp (nguyên tắc luật nơi cư trú). 13 Về sự kiện pháp lý làm chấm dứt QHHN thông thường là sự kiện ly hôn. Ngoài ra QHHN cũng chấm dứt khi một trong hai bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là chết hoặc mất tích và bên kia có yêu cầu ly hôn. Trong những trường hợp trên (trừ sự kiện chết) thì thời điểm bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực chính là sự kiện làm chấm dứt QHHN. Ví dụ, nam nữ công dân Việt Nam ly hôn với nhau ở Trung Quốc, trước cơ quan có thẩm quyền của Trung Quốc. Trong trường hợp này, pháp luật Việt Nam và pháp luật của Trung Quốc cùng có thể được áp dụng. Pháp luật Việt Nam được áp dụng dựa trên cơ sở dấu hiệu quốc tịch của chủ thể còn pháp luật Trung Quốc được viện dẫn áp dụng trên nguyên tắc luật nơi có Tòa án. Để giải quyết, Tòa án trước tiên sẽ căn cứ điều ước quốc tế mà hai nước đã ký kết để áp dụng, sau đó sẽ căn cứ pháp luật của Trung Quốc (nguyên tắc luật nơi có Tòa án) để giải quyết. Do sự kiện làm chấm dứt QHHN xảy ra ở nước ngoài nên vấn đề chọn luật nước ngoài được đặt ra. Như vậy, trong những trường hợp trên, chủ thể trong QHHN đều là công dân Việt Nam nhưng sự kiện pháp lý phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ xảy ra ở nước ngoài. Sự kiện đó xảy ra ở nước ngoài, phải phù hợp với pháp luật nước ngoài và trong một số trường hợp chỉ có hiệu lực khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành, công nhận. Thứ ba, khách thể của quan hệ hôn nhân là tài sản ở nước ngoài. Tài sản, theo Điều 163 BLDS Việt Nam năm 2005 gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”, được phân loại thành bất động sản và động sản. Khi nói đến tài sản với tư cách là khách thể của QHHN có yếu tố nước ngoài, tài sản đó phải có mối liên quan đến QHHN và đang tồn tại ở nước ngoài. Khi giải quyết các tranh chấp giữa các chủ thể về tài sản, đa số pháp luật các quốc gia đều lựa chọn nguyên tắc luật nơi có tài sản để áp dụng giải quyết. Ví dụ, nam - nữ công dân Việt Nam đề nghị Tòa án Việt Nam giải quyết yêu cầu ly hôn và phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là bất động sản tại nước Đức. Trong trường hợp này, đối tượng liên quan là tài sản ở nước ngoài nên cần xác định đây là QHHN có yếu tố nước ngoài. Do tài sản là 14 bất động sản nên căn cứ BLDS năm 2005, Tòa án sẽ áp dụng pháp luật của Đức để điều chỉnh quan hệ tài sản của vợ và chồng [28, Đ.766]. Phân tích nội dung điều luật này cho thấy, Việt Nam đã sử dụng chủ yếu nguyên tắc luật nơi có vật (Lex rei sitae) để xác định việc xác lập, thực hiện, thay đổi hoặc chấm dứt quyền sở hữu đối với tài sản. Tóm lại, từ những cơ sở lý luận và phân tích trên, có thể rút ra nhận định: QHHN đáp ứng một trong ba tiêu chí sau thì được coi là có yếu tố nước ngoài: có ít nhất một bên chủ thể là người nước ngoài; căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt QHHN ở nước ngoài; tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài. Yếu tố nước ngoài trong QHHN được quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 khá tương đồng với pháp luật các quốc gia trên thế giới. 1.2. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI Để tổ chức và quản lý xã hội, Nhà nước sử dụng nhiều phương tiện, biện pháp khác nhau, nhưng pháp luật luôn là một trong những phương tiện quan trọng nhất. Với tư cách là phương tiện thể chế hóa đường lối chính sách của Đảng, là công cụ đắc lực giúp Nhà nước điều chỉnh các quan hệ xã hội, pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp thống trị. Pháp luật điều chỉnh QHHN có yếu tố nước ngoài là tổng hợp các nguyên tắc, quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh QHHN phát sinh giữa các chủ thể khác quốc tịch; hoặc giữa các chủ thể cùng quốc tịch nhưng sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ ở nước ngoài hoặc tài sản liên quan tới quan hệ ở nước ngoài. Pháp luật điều chỉnh QHHN có yếu tố nước ngoài mang đặc điểm chung là tính giai cấp và tính xã hội. Tuy nhiên, do xuất phát từ đặc trưng của đối tượng điều chỉnh là các QHHN có liên quan tới hai quốc gia trở lên, nên pháp luật điều chỉnh QHHN có yếu tố nước ngoài chứa đựng những đặc điểm riêng, cụ thể: - Nguồn luật điều chỉnh QHHN có yếu tố nước ngoài không chỉ là các quy định được ghi nhận trong pháp luật quốc gia mà còn gồm các quy định được ghi nhận trong điều ước quốc tế, tập quán quốc tế và án lệ. 15 - Phương pháp điều chỉnh quan hệ có yếu tố nước ngoài là việc chọn hệ thống pháp luật để giải quyết hiện tượng xung đột pháp luật, gồm hai phương pháp thực chất và phương pháp xung đột, gắn liền với loại quy phạm thực chất và quy phạm xung đột. 1.2.1. Đối tƣợng điều chỉnh của pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nƣớc ngoài Như trên đã trình bày, QHHN có yếu tố nước ngoài với những tiêu chí đặc trưng về chủ thể, căn cứ pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt và khách thể là đối tượng điều chỉnh của pháp luật điều chỉnh QHHN có yếu tố nước ngoài. Những nội hàm của QHHN được điều chỉnh gồm: kết hôn, quan hệ pháp lý về tài sản và nhân thân giữa vợ chồng, hủy bỏ hôn nhân trái pháp luật và ly hôn. 1.2.2. Nguồn của pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nƣớc ngoài Xét về phương diện pháp lý, nguồn của Tư pháp quốc tế là những hình thức biểu hiện hoặc chứa đựng các quy phạm và các nguyên tắc được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ pháp luật thuộc đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế. QHHN có yếu tố nước ngoài là một bộ phận thuộc đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế, nên nguồn luật của Tư pháp quốc tế đương nhiên là nguồn luật điều chỉnh QHHN có yếu tố nước ngoài, bao gồm các loại: Pháp luật quốc gia; Điều ước quốc tế; Tập quán quốc tế và án lệ. Mặc dù giữ vị trí khác nhau, các loại nguồn trên có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung cho nhau nhằm thực hiện chức năng điều chỉnh QHHN có yếu tố nước ngoài. Xét về quan hệ thứ bậc và trình tự áp dụng pháp luật đối với các loại nguồn điều chỉnh QHHN có yếu tố nước ngoài, thì Điều ước quốc tế được ưu tiên áp dụng đầu tiên, sau đó tới pháp luật quốc gia. Trong trường hợp điều ước quốc tế có quy định khác pháp luật quốc gia thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó. Án lệ sẽ được quan tâm áp dụng nếu đảm bảo đủ chính xác để tạo nên một tiền lệ làm cơ sở để các Thẩm phán sau đó có thể áp dụng trong các trường hợp tương tự, và đương nhiên phải phù hợp với các quy định của pháp luật quốc gia. Tập quán quốc tế thường được áp dụng trong trường hợp vấn đề phát 16 sinh chưa được điều ước quốc tế hoặc pháp luật quốc gia hoặc điều chỉnh; với điều kiện việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng tập quán quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc gia. [26] 1.2.2.1. Pháp luật quốc gia Pháp luật quốc gia bao gồm các văn bản do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước ban hành là hình thức chứa đựng các nguyên tắc, quy phạm pháp luật điều chỉnh QHHN có yếu tố nước ngoài. Đây được coi là nguồn cơ bản, phổ biến và quan trọng của Tư pháp quốc tế. Tùy theo đặc điểm của từng nước, pháp luật điều chỉnh các quan hệ có yếu tố nước ngoài có thể được tập trung trong một đạo luật riêng biệt (Luật tư pháp quốc tế Tiệp Khắc (cũ) năm 1963, Luật tư pháp quốc tế Ba Lan năm 1965…) hoặc được quy định rải rác trong các văn bản pháp luật riêng rẽ (như Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp, Thái Lan…). Trước hết, các nguyên tắc và quy phạm điều chỉnh quan hệ hôn nhân được ghi nhận trong Hiến pháp của các quốc gia. Hiến pháp là văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất, là đạo luật gốc ghi nhận những quy định mang tính cơ bản về mặt pháp lý đối với tất cả các vấn đề quan trọng nhất của một quốc gia, trong đó có QHHN. Trên cơ sở các nguyên tắc của Hiến pháp, các quy định điều chỉnh QHHN được các quốc gia cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật như: Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Tố tụng Dân sự… Hầu hết các quốc gia cho rằng, QHHN là một loại quan hệ pháp luật dân sự đặc biệt nên nguồn luật chung điều chỉnh là Bộ luật dân sự. Ví dụ: Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 (Điều 144 – 309), Bộ luật Dân sự Nhật Bản năm 1896 (Điều 731 – 771), Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan năm 1925 (Điều 1435 – 1535), Bộ luật Dân sự Campuchia năm 2011 (Điều 938 – 984)… Như đã trình bày nêu trên, do QHHN với tính chất là cơ sở tạo nên gia đình - tế bào của xã hội nên còn chịu sự điều chỉnh trực tiếp của luật chuyên ngành - Luật hôn nhân và gia đình. Ví dụ: Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Luật Hôn nhân của CHND Trung Hoa, Luật Gia đình của Philipines, Luật Gia đình Australia, Luật Gia đình Liên bang Nga, Luật hôn nhân Thụy Điển... Trong Bộ luật dân sự hoặc Luật Hôn nhân và gia đình của nhiều nước trên thế giới như Canada, Thuỵ Điển, 17 Trung Quốc, Nhật, Pháp, Thái Lan không có quy định riêng về QHHN và gia đình có yếu tố nước ngoài mà thường chỉ quy định về nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật đối với quan hệ này. Ngoài ra, trong một số quan hệ đặc biệt, QHHN và gia đình có yếu tố nước ngoài có thể được quy định trong một số luật chuyên ngành như luật nhập cư, luật tư pháp quốc tế hoặc luật quốc tịch. [16]. Ngoài ra QHHN còn chịu sự điều chỉnh bởi các luật quy định về thủ tục tư pháp trong quá trình các bên đăng ký kết hôn hoặc thủ tục tố tụng để giải quyết yêu cầu ly hôn (Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật Hộ tịch, Luật Quốc tịch…). Tại Việt Nam, vấn đề hôn nhân, trong đó có QHHN yếu tố nước ngoài ở nước CHXHCN Việt Nam chủ yếu được quy định trong các văn bản pháp luật sau đây: * Hiến pháp Quyền về hôn nhân được coi là quyền cơ bản của công dân và được ghi nhận trong các bản Hiến pháp của Việt Nam từ Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và gần đây nhất là Hiến pháp năm 2013. Trong tất cả các bản Hiến pháp này, quyền về hôn nhân được coi là quyền của con người và được pháp luật bảo hộ (Điều 9 Hiến pháp năm 1946, Điều 24 Hiến pháp năm 1959, Điều 64 Hiến pháp năm 1980, Điều 64 Hiến pháp năm 1992). So với các Hiến pháp trước đây, Hiến pháp năm 2013 thể hiện sự tiến bộ khi lần đầu tiên thừa nhận quyền kết hôn của công dân. Điều 36 Hiến pháp quy định: “Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em”. Trên cơ sở được quy định trong Hiến pháp, các nguyên tắc trong hôn nhân được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật như Bộ luật Dân sự, Luật hôn nhân gia đình và các văn bản pháp luật liên quan khác. * Bộ luật Dân sự Bộ luật Dân sự năm 2005 được thông qua tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá XI ngày 14/6/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006. Bộ luật quy định quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân 18
- Xem thêm -