Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính lý luận và thực tiễn

  • Số trang: 131 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 152 |
  • Lượt tải: 1
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT BÙI TIẾN ĐẠT PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH: LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2008 1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT BÙI TIẾN ĐẠT PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH: LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Chuyên ngành Mã số : : Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật 60 38 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. Phạm Hồng Thái HÀ NỘI - 2008 2 MỤC LỤC Trang 1 Mở đầu CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH 1.1. Xử phạt vi phạm hành chính và pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính 1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của xử phạt vi phạm hành chính 5 5 5 1.1.2. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính 1.2. Nội dung của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính 1.2.1. Khái niệm vi phạm hành chính 1.2.2. Các nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính 1.2.3. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp khắc phục hậu quả 1.2.4. Các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử phạt vi phạm hành chính 1.2.5. Thẩm quyền quy định vi phạm hành chính, hình thức xử phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả 8 11 11 20 21 1.2.6. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính 1.2.7. Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính 1.3. Sơ lƣợc quá trình phát triển của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính ở nƣớc ta 1.3.1. Giai đoạn 1945 – 1975 1.3.2. Giai đoạn 1975 – 1986 1.3.3. Giai đoạn từ 1986 đến nay 26 27 29 CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH 2.1. Thực trạng quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính 2.1.1. Hình thức các văn bản quy phạm pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính 2.1.2. Nội dung của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính 2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính 2.2.1. Áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính 2.2.2. Chấp hành pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính 2.3. Đánh giá thực trạng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính 2.3.1. Cấu trúc hệ thống pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính hiện hành 2.3.2. Những thành tựu 2.3.3. Những hạn chế 2.3.4. Nguyên nhân của những hạn chế 1 24 25 29 30 31 37 37 37 40 71 71 76 79 79 80 81 86 CHƢƠNG 3: PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH 3.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong giai đoạn hiện nay 3.1.1. Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách pháp luật trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền 3.1.2. Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính phục vụ yêu cầu hội nhập quốc tế, bảo đảm sự tương thích của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế 3.1.3. Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính nhằm bảo vệ quyền con người 3.2. Phƣơng hƣớng hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính ở nƣớc ta hiện nay 3.2.1. Xây dựng triết lý về vi phạm hành chính và pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính 3.2.2. Xác định lại mối quan hệ giữa pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính và pháp luật hình sự 3.2.3. Xây dựng lại cấu trúc hệ thống pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính 3.3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính ở nƣớc ta hiện nay 3.3.1. Xây dựng Luật Xử phạt vi phạm hành chính 89 89 89 90 95 97 97 101 102 102 102 3.3.2. Xác định lại thẩm quyền quy định vi phạm hành chính, hình thức xử phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả 3.3.3. Xác định mối quan hệ giữa Luật Xử phạt vi phạm hành chính và các luật, pháp lệnh chuyên ngành quy định về xử phạt vi phạm hành chính 3.3.4. Xác định rõ khái niệm “vi phạm hành chính”, “xử phạt vi phạm hành chính” 104 3.3.5. Bổ sung nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính 3.3.6. Bổ sung hình thức xử phạt vi phạm hành chính, xác định lại tính chất của các hình thức đó 3.3.7. Bổ sung các biện pháp khắc phục hậu quả và phân loại theo từng lĩnh vực 3.3.8. Quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, thẩm quyền áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả 3.3.9. Sửa đổi, bổ sung các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và đảm bảo xử phạt vi phạm hành chính theo hướng bảo vệ quyền con người 3.3.10. Quy định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính phù hợp với từng lĩnh vực 3.3.11. Hợp lý hóa thủ tục xử phạt vi phạm hành chính và tăng tính hiệu lực, hiệu quả thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính 113 114 111 112 115 115 116 116 117 118 122 KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 2 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VPHC Vi phạm hành chính XLVPHC XPVPHC Xử lý vi phạm hành chính Xử phạt vi phạm hành chính PLXPVPHC PLXLVPHC BLXPVPHC Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính Bộ luật Xử phạt vi phạm hành chính BLXLVPHC LXPVPHC Bộ luật Xử lý vi phạm hành chính Luật Xử phạt vi phạm hành chính LXLVPHC VBQPPL Luật Xử lý vi phạm hành chính Văn bản quy phạm pháp luật HĐND Hội đồng nhân dân UBND Ủy ban nhân dân TAND Tòa án nhân dân 3 LỜI NÓI ĐẦU 1. Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài Đấu tranh phòng chống các vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm pháp luật hành chính nói riêng luôn là nhiệm vụ trọng yếu của nhà nước ta. Trong bối cảnh hiện nay, hệ thống pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Tính hiểu quả của các biện pháp xử phạt chưa cao; thủ tục xử phạt còn rườm rà; tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản… là những điều bức xúc của người dân cũng như bộ máy hành chính. Do đó, Nghị quyết của Quốc hội số 11/2007/NQ-QH12 ngày 21 tháng 11 năm 2007 về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XII (2007-2011) và năm 2008 đã đưa dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính vào chương trình chính thức. Với dự án luật này, nhà nước ta mong muốn tạo một đột phá trong lịch sử phát triển pháp luật về xử lý vi phạm hành chính (trong đó có xử phạt vi phạm hành chính) của Việt Nam. Hiện nay, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính 2002 quy định xử lý vi phạm hành chính gồm xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính khác. Xét về mặt lý luận cũng như thực tiễn, xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính khác có bản chất, mục đích, đối tượng, các biện pháp áp dụng, thủ tục áp dụng… khác nhau. Và trên thế giới có nhiều nước xây dựng một đạo luật riêng về xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, việc nghiên cứu riêng về vấn đề pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính được đặt ra có ý nghĩa lý luận và thực tiến lớn. Vì vậy, học viên thực hiện Luận văn thạc sĩ với đề tài “Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính: Lý luận và thực tiễn” để góp phần vào việc nghiên cứu đó. 2. Tình hình nghiên cứu Học viên đã tiếp cận một số công trình khoa học về vấn đề xử phạt vi phạm hành chính được công bố trong khoảng 10 năm gần đây như: a. Công trình khoa học nghiên cứu liên quan nhiều tới đề tài luận văn: Nguyễn Văn Thạch (1997), Trách nhiệm hành chính, Luận văn thạc sĩ luật học, Viện Nhà nước và pháp luật. Luận văn này nghiên cứu về chế định trách nhiệm hành chính - một cách tiếp cận gần gũi nhưng vẫn có nhiều điểm khác biệt với vấn đề pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính. Hơn nữa, luận văn này được nghiên cứu hơn 10 năm trước đây nên cần có sự nghiên cứu cập nhật với hiện tại. b. Các công trình khoa học nghiên cứu một vấn đề nhỏ trong việc xử phạt vi phạm hành chính hoặc pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính 4 - Vũ Thư (2000), Chế tài hành chính – Lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. - Đỗ Hoàng Yến (2002), “Tăng cường và đổi mới cơ chế kiểm tra, giám sát trong xử lý vi phạm hành chính”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (8). - Bùi Xuân Đức (2006), “Về vi phạm hành chính và hình thức xử phạt hành chính: những hạn chế và giải pháp đổi mới”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật (2). - Đỗ Hoàng Yến (2007), “Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và việc xây dựng Bộ luật Xử lý vi phạm hành chính”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (5). - Nguyễn Ngọc Bích (2007), “Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và những bất cập trong quy định pháp luật hiện hành”, Tạp chí luật học (8). - Trương Khánh Hoàn (2008), “Bất cập của các quy định về biện pháp khắc phục hậu quả trong xử lý vi phạm hành chính”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (31,32). c. Các công trình khoa học nghiên cứu về việc xử phạt vi phạm hành chính trong một lĩnh vực quản lý nhà nước cụ thể - Đàm Đức Tuyền (2006), Vi phạm hành chính và áp dụng trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực hải quan tại thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh. - Kim Long Biên (2007). Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan ở nước ta hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật học, Viện Nhà nước và pháp luật phối hợp đào tạo với Đại học Luật TPHCM. - Bùi Huy Tùng (2007), Hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật - ĐHQGHN. d. Các công trình khoa học nghiên cứu tổng thể về pháp luật về xử lý vi phạm hành chính (bao gồm cả pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính) - Đỗ Hoàng Yến (2007), “Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính ở một số nước trên thế giới”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (10). - Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2005), Bình luận khoa học Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002, NXB Tư pháp, Hà Nội. - Bộ Tư pháp (2007), Báo cáo đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. - Bộ Tư pháp, Cơ quan phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) - Dự án VIE/02/015 (2008), Kỷ yếu Hội thảo Định hướng xây dựng Luật Xử lý vi phạm hành chính, Quảng Ninh, 08-09/5/2008. e. Các Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam của Khoa Luật – ĐHQGHN, Trường Đại học Luật Hà Nội đề cập về trách nhiệm hành chính. 5 Các công trình khoa học trên hoặc đã cũ hoặc chỉ đề cập đến một tiểu vấn đề hoặc chưa trực diện nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, việc nghiên cứu đề tài luận văn này vừa là sự kế thừa, phát triển các công trình trên nhưng cũng là cách tiếp cận mới về mặt khoa học và có ý nghĩa về mặt thực tiễn. Các công trình trên là tài liệu tham khảo quan trọng cho luận văn thạc sĩ này. 3. Mục đích của đề tài Với đề tài này, tác giả mong muốn: - Làm rõ cơ sở lý luận của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính. - Phân tích thực trạng quy định và thực hiện pháp luật xử phạt vi phạm hành chính; chỉ ra những hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật này. - Đề ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong giai đoạn hiện nay. 4. Phạm vi nghiên cứu Đề tài đi sâu nghiên cứu hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và nội dung các quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính. Vấn đề thực hiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính không phải là vấn đề trọng tâm nhưng cũng được xem xét nhằm đánh giá thực trạng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn được thực hiện bằng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau: 1. Phương pháp phân tích, tổng hợp Luận văn kế thừa, tổng kết lại những kết quả của các công trình nghiên cứu về xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, đây không phải là sự sao chép vì đã có sự sắp xếp theo kết cấu khác theo góc nhìn của tác giả. 2. Phương pháp so sánh So sánh pháp luật xử phạt vi phạm hành chính của nước ta trong từng giai đoạn; So sánh pháp luật xử phạt vi phạm hành chính của nước ta với các nước trên thế giới. 3. Phương pháp lịch sử Xem xét pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính theo từng thời kỳ. Mỗi giai đoạn sẽ có pháp luật phù hợp. Từ đó tìm ra quy luật của sự phát triển pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính. 4. Phương pháp thống kê xã hội học Từ những kết quả thống kê, điều tra, khảo sát về thực trạng vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính để đề ra những giải pháp hợp lý. 5. Các phương pháp của xã hội học pháp luật 6 Phân tích cơ sở xã hội của việc xử phạt vi phạm hành chính. 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên về pháp luật xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, giảng viên, học viên, sinh viên. - Luận văn đưa ra những kiến nghị để hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho các nhà lập pháp. - Những điểm mới nhất của luận văn là: đưa ra triết lý về về vi phạm hành chính và pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính; đưa ra cấu trúc mới của hệ thống pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính; đưa ra các giải pháp dựa trên yêu cầu hoàn thiện pháp luật hiện nay cũng như kinh nghiệm trên thế giới. 7. Cơ cấu của luận văn Luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH 1.1. Xử phạt vi phạm hành chính và pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính 1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của xử phạt vi phạm hành chính 1.1.1.1. Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí nhà nước của giai cấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích trật tự và ổn định xã hội vì sự phát triển bền vững của xã hội [61, tr. 288]. Pháp luật có ba chức năng: điều chỉnh, bảo vệ và giáo dục. Sở dĩ pháp luật có chức năng bảo vệ vì trong xã hội vẫn tồn tại những “vi phạm pháp luật” – là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến các lợi ích của xã hội, quyền và lợi ích của công dân, do người có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách có lỗi [61, tr. 537]. Và người vi phạm pháp luật phải chịu trách nhiệm pháp lý – hậu quả của vi phạm pháp luật và được thể hiện trong việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế (chế tài xử lý) [61, tr. 550]. Vi phạm hành chính là một trong những loại vi phạm pháp luật xảy ra khá phổ biến và có ảnh hưởng lớn tới xã hội1. Vi phạm hành chính là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp luật, có lỗi (cố ý hoặc vô ý) do cá nhân có năng lực trách nhiệm hành vi hành chính hoặc tổ chức thực hiện, xâm phạm trật tự nhà nước và xã hội, trật tự quản lý, sở hữu của Nhà nước, của tổ chức và của cá nhân, xâm phạm các quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của công dân mà theo quy định của pháp luật phải chịu trách nhiệm hành chính [81, tr. 393]. Và chủ thể thực hiện vi phạm hành chính phải chịu trách nhiệm hành chính - là hậu quả của vi phạm hành chính, thể hiện ở sự áp dụng bởi cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền những chế 1 Theo báo cáo của Công an các tỉnh, thành phố trên cả nước trong năm 1990 đã phát hiện 523.030 vụ vi phạm hành chính. Vậy mà, đến 2003, chỉ tính riêng trong lĩnh vực giao thông đường bộ, theo số liệu công bố của Bộ Công an thì trong 10 tháng đầu năm 2003 có 3.000.000 trường hợp vi phạm pháp luật về giao thông với số tiền nộp phạt là 347 tỷ đồng, đã quyết định tạm giữ trên 20.000 ôtô, 43,4, vạn môtô, xe máy mắc lỗi nặng, lập biên bản gần 1000 trường hợp hối lộ sau khi vi phạm (Nguồn: Báo An ninh thủ đô số 1097 ra ngày 03/11/2003 – [44, tr. 8] 8 tài pháp luật hành chính đối với chủ thể vi phạm hành chính theo thủ tục do luật hành chính quy định. Đó là sự phản ứng tiêu cực của Nhà nước đối với người thực hiện vi phạm hành chính, kết quả là chủ thể thực hiện vi phạm hành chính phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, thiệt hại về vật chất và tinh thần so với tình trạng ban đầu của họ [81, tr. 397]. Theo lý luận về trách nhiệm hành chính thì có hai nhóm biện pháp trách nhiệm hành chính là các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp khôi phục các quyền và lợi ích đã bị vi phạm hành chính xâm hại [81, tr. 402]. Tiếp nhận lý luận trên, trong thực tiễn, nhà nước ta thực hiện các hoạt động “xử phạt vi phạm hành chính” “để đấu tranh phòng ngừa và chống vi phạm hành chính, góp phần giữ vững an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước” (Phần mở đầu của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính 2002). Và khoản 2 Điều 1 PLXLVPHC quy định “xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”. Và Pháp lệnh cũng quy định 3 nhóm biện pháp có thể được áp dụng đối với vi phạm hành chính: 1. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính; 2. Các biện pháp khắc phục hậu quả; 3. Các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và đảm bảo việc xử phạt vi phạm hành chính. Áp dụng các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả chính là hai nhóm biện pháp trách nhiệm hành chính theo lý luận nêu trên. Còn các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và đảm bảo việc xử phạt vi phạm hành chính là các biện pháp ngăn chặn hành chính, được áp dụng trong các trường hợp cần thiết phải ngăn chặn, dập tắt những vi phạm hành chính, đảm bảo việc xử phạt hay ngăn chặn những hậu quả thiệt hại do vi phạm hành chính gây ra [81, tr. 378]. Vậy, có thể kết luận xử phạt vi phạm hành chính là việc các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền áp dụng những biện pháp cưỡng chế hành chính (gồm các hình thức xử phạt vi phạm hành chính; các biện pháp khắc phục hậu quả; các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và đảm bảo việc xử phạt vi phạm hành chính) đối với những cá nhân, tổ chức thực hiện vi phạm hành chính nhằm đảm bảo trật tự và kỷ luật trong quản lý nhà nước. Theo quy định của pháp luật hiện hành, khái niệm xử phạt vi phạm hành chính nằm trong khái niệm xử lý vi phạm hành chính khi Điều 1 PLXLVPHC 2002 quy định rằng “Xử lý vi phạm hành chính bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và các 9 biện pháp xử lý hành chính khác”. Pháp lệnh XLVPHC 1995 và 2002 đều không đưa ra định nghĩa mang tính lý luận về XLVPHC, XPVPHC và các biện pháp xử lý hành chính khác mà chỉ quy định trực tiếp những hình thức, biện pháp thuộc nội hàm của các chế định này. Chúng ta cần xem xét liệu điều đó đã đúng về mặt lý luận hay chưa? Ở đây, cần phải thấy rằng khái niệm “xử lý vi phạm hành chính” là khái niệm mới xuất hiện và được chính thức quy định lần đầu tiên trong PLXLVPHC 1995. Trước đó, trong một số văn bản pháp luật có sử dụng cụm từ “xử lý hành chính” hàm nghĩa chỉ các biện pháp phi hình sự như xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính. PLXPVPHC 1989 có khái niệm “xử phạt vi phạm hành chính” chỉ các biện pháp xử phạt thông dụng như cảnh cáo, phạt tiền, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm… Việc xuất hiện khái niệm “xử lý vi phạm hành chính” trong PLXLVPHC 1995 nhằm đưa ra một khái niệm chung bao hàm các chế tài tài xử phạt hành chính theo Pháp lệnh 1989 và các biện pháp xử lý hành chính khác mới được đưa vào Pháp lệnh 1995 trên cơ sở các quy định trước đây như Nghị quyết 49/NQ-TVQH ngày 20/06/1961 của UBTVQH về tập trung giáo dục cải tạo, Thông tư số 68/TTg-VG của Thủ tướng Chính phủ ngày 13/07/1964 về việc thành lập các trường giáo dục thiếu niên hư, Quyết định số 217/TTG/CN ngày 18/12/1967 về việc tổ chức lại các trường giáo dục thiếu niên hư… Khi Điều 1 Pháp lệnh XLVPHC 2002 quy định “Các biện pháp xử lý hành chính khác được áp dụng đối với cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại các điều 23, 24, 25, 26 của Pháp lệnh này” đã chứng tỏ vấn đề “các biện pháp xử lý hành chính khác” được lồng ghép vào Pháp lệnh là một sự khiên cưỡng. Bởi vì các biện pháp hành chính khác (hay còn gọi là các biện pháp cưỡng chế hành chính đặc biệt) về cơ bản không phải là biện pháp xử lý vi phạm hành chính mà có bản chất rất khác nhau, đa phần trong số đó là các biện pháp tư pháp hình sự. Trong Bộ luật Tố tụng Hình sự đã có một số biện pháp tương tự bởi đối tượng áp dụng các biện pháp này không chủ yếu là đối tượng VPHC [81, tr. 383]. Và chính vì “các biện pháp xử lý hành chính khác” là một sự lồng ghép không đúng chỗ nên khái niệm “xử lý vi phạm hành chính” cũng là một phép cộng khiên cưỡng khi Pháp lệnh quy định một cách máy móc “Xử lý vi phạm hành chính bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính khác”. Do đó, có thể khẳng định khái niệm xử lý vi phạm hành chính theo tinh thần Pháp lệnh không có tính khoa học. 1.1.1.2. Đặc điểm của xử phạt vi phạm hành chính 1. Cơ sở để xử phạt vi phạm hành chính là vi phạm hành chính 10 Không có VPHC thì không có trách nhiệm hành chính, cũng như cơ sở của trách nhiệm hình sự là tội phạm, của trách nhiệm dân sự là vi phạm quan hệ dân sự, của trách nhiệm kỷ luật là vi phạm kỷ luật. 2. Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính chủ yếu do các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và do đó được áp dụng theo thủ tục hành chính do các quy phạm thủ tục hành chính quy định. Vì VPHC là những vi phạm nhỏ và phổ biến nên việc XPVPHC không theo thủ tục tư pháp như đối với truy cứu trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự, mà theo thủ tục hành chính và chủ yếu do các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thực hiện. Không phải bất kỳ cơ quan quản lý nhà nước nào cũng có thẩm quyền XPVPHC mà chỉ có một số cơ quan nhất định trong số đó được nhà nước trao quyền hạn này. Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính, cũng như việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính nói chung, nằm ngoài hoạt động xét xử của Tòa án. Còn các biện pháp trách nhiệm hình sự, dân sự được thực hiện theo trình tự xét xử của Tòa án. Tuy nhiên, Tòa án cũng có thẩm quyền XPVPHC trong trường hợp ngoại lệ đặc biệt (đó là đối với những hành vi gây rối trật tự tại phiên tòa). Thủ tục XPVPHC đơn giản hơn so với thủ tục áp dụng cưỡng chế hình sự và dân sự. 3. Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính không chỉ nhằm đảm bảo thực hiện, bảo vệ các quy phạm vật chất của ngành luật hành chính mà còn bảo đảm thực hiện và bảo vệ các quy phạm vật chất của các ngành luật khác (như luật tài chính, ngân hàng, đất đai, môi trường…) 4. Giữa cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền thực hiện xử phạt vi phạm hành chính và chủ thể bị áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính không có quan hệ trực thuộc. Đây là đặc điểm quan trọng phân biệt việc áp dụng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp cưỡng chế kỷ luật – dạng cưỡng chế mà cơ quan quản lý nhà nước cũng có quyền áp dụng rộng rãi trong hoạt động của mình. Giữa chủ thể có thẩm quyền áp dụng cưỡng chế kỷ luật và người bị áp dụng biện pháp cưỡng chế đó phải có quan hệ trực thuộc. 1.1.2. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính 1.1.2.1. Khái niệm pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính Trong những năm vừa qua, cùng với sự phát triển nhanh chóng của đời sống kinh tế xã hội thì tình trạng vi phạm hành chính cũng ngày càng diễn ra phổ biến và đa dạng về hình thức biểu hiện, gây ảnh hướng lớn đến an ninh trật tự an toàn xã hội 11 và sự phát triển nói chung, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước trên mọi lĩnh vực. Trước thực trạng VPHC diễn ra hết sức phổ biến và đa dạng, phức tạp như vậy, Nhà nước ta đã dần hoàn thiện thể chế pháp lý về XPVPHC, đồng thời kiện toàn bộ máy XPVPHC bao gồm cả con người, trang thiết bị phương tiện và những vấn đề liên quan nhằm đáp ứng hữu hiệu yêu cầu hiện nay.Từ khi thành lập nước đến nay, hệ thống pháp luật về XPVPHC nước ta ngày càng hoàn thiện hơn. Sau cách mạng tháng Tám, Nhà nước Việt Nam mới bên cạnh nhiệm vụ tiến hành công cuộc kháng chiến bảo vệ nền độc lập còn non trẻ và cũng để phục vụ sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc đó đã bắt đầu thực hiện những biện pháp bảo đảm an ninh trật tự. Trong lĩnh vực hành chính Nhà nước cũng bắt đầu thi hành các biện pháp “có tính cách hành chính” thể hiện bằng việc ban hành văn bản quy định các hình thức xử phạt đối với các hành vi vi phạm các chính sách của Nhà nước lúc bấy giờ. Các văn bản của Nhà nước giai đoạn này quy định về vi phạm hành chính và chế tài hành chính thường có trong nhiều văn bản và trực diện đưa ra các vi phạm và biện pháp chế tài cụ thể đi liền. Giai đoạn tiếp theo từ năm 1954 đến năm 1989, xét về mặt kỹ thuật lập quy cũng như hoạt động xử phạt hành chính so với giai đoạn trước đó, cũng chưa có nhiều biến chuyển. Việc quy định hành vi vi phạm hành chính và các chế tài đối với chúng (ngoài những quy định cũ vẫn hiện hành) vẫn do nhiều cơ quan (từ Chính phủ đến Bộ, Uỷ ban nhân dân) quy định trong các văn bản khác nhau và vẫn theo cách xử lý tình hưống chứ chưa thành hệ thống, chưa có tính tổng thể, toàn diện. Điểm đặc trưng là giai đoạn này nổi lên khía cạnh quản lý nhằm xác lập và bảo vệ các quan hệ xã hội chủ nghĩa. Chính điều này có ảnh hưởng rõ rệt đến việc quy định các hành vi vi phạm và hệ thống chế tài đối với chúng. Thời kỳ này đã có một văn bản quy định riêng về XPVPHC là Điều lệ xử phạt vi cảnh ban hành kèm theo Nghị định số 143/CP ngày 27-5-1977 của Hội đồng Chính phủ. Năm 1989 được lấy làm mốc cho giai đoạn mới của sự phát triển của pháp luật xử phạt hành chính. Đấy là năm nước ta ban hành một văn bản chung thống nhất có tính pháp điển hoá cao cho lĩnh vực xử phạt hành chính – Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính - và vì cũng từ đây pháp luật xử phạt vi phạm hành chính nói riêng và pháp luật nói chung song hành với công cuộc đổi mới, vừa phục vụ sự nghiệp đổi mới, vừa tự đổi mới trong đó phản ánh tư duy mới về dân chủ hoá xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bước phát triển (hay có thể coi là hoàn thiện) tiếp theo về quy định hành vi vi phạm hành chính và chế tài hành chính gắn với việc ban hành Pháp lệnh mới về xử lý vi phạm hành chính được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 6-7-1995 – Pháp lệnh xử lý 12 vi phạm hành chính năm 1995.Do yêu cầu của công cuộc đổi mới, để kịp thời và đủ hiệu lực đấu tranh với các vi phạm hành chính trong điều kiện mới nhất là các vi phạm có liên quan đến mở cửa, hội nhập, pháp luật về xử phạt hành chính lại được ban hành mới. Ngày 2-7-2002, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính mới – Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (đến nay đã được sửa đổi bổ sung hai lần vào các năm 2007 và 2008). Pháp lệnh XLVPHC 2002, các nghị định của Chính phủ, các thông tư, quyết định, chỉ thị của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ đã tạo thành hệ thống VBQPPL về XPVPHC và là cơ sở pháp lý vững chắc trong công tác đấu tranh phòng chống vi phạm hành chính, tạo nên sự chuyển biến lớn trong thời gian qua. Nội dung của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính gồm các vấn đề quy định về vi phạm hành chính, các nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính, các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp khắc phục hậu quả, các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử phạt vi phạm hành chính, thẩm quyền quy định vi phạm hành chính, hình thức xử phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả, quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, quy định thủ tục xử phạt vi phạm hành chính. Vậy, có thể định nghĩa pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính là một chế định pháp luật trong hệ thống luật hành chính nước ta, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động xử phạt vi phạm hành chính (tức là trong việc các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền áp dụng những biện pháp cưỡng chế hành chính (gồm các hình thức xử phạt vi phạm hành chính; các biện pháp khắc phục hậu quả; các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và đảm bảo việc xử phạt vi phạm hành chính) đối với những cá nhân, tổ chức thực hiện vi phạm hành chính nhằm đảm bảo trật tự và kỷ luật trong quản lý nhà nước). 1.1.2.2. Đặc điểm pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính 1. Có mối quan hệ chặt chẽ với pháp luật hình sự, kế thừa nhiều chế định của luật hình sự Điểm khác biệt chủ yếu giữa tội phạm và VPHC là mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm cao hơn VPHC. Do đó, việc phân biệt này nhiều khi phụ thuộc quan niệm mang tính chủ quan của nhà làm luật trong từng thời kỳ. Có nhiều hành vi được coi là tội phạm khi đã bị xử phạt VPHC vì hành vi đó. Vì vậy, trong thực tiễn áp dụng pháp luật, nhiều hành vi bị “nhập nhằng” giữa truy cứu trách nhiệm hình sự và truy cứu trách nhiệm hành chính. 13 Lịch sử lập pháp ở nước ta, pháp luật về XPVHHC luôn đi sau pháp luật hình sự và kế thừa những quan điểm lập pháp của luật hình sự. Nhiều khái niệm, chế định của luật hình sự được tiếp nhận trong pháp luật về XPVPHC như tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, sự kiện bất ngờ, hình thức xử phạt chính và bổ sung, các biện pháp ngăn chặn… 2. Hệ thống pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính gồm nhiều văn bản quy phạm pháp luật hợp thành Không như hệ thống pháp luật hình sự quy định tội phạm và hình phạt trong duy nhất Bộ luật hình sự, hệ thống pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính được hợp thành bởi nhiều VBQPPL khác nhau. Pháp lệnh XLVPHC 2002 chỉ quy định những vấn đề cơ bản mang tính nguyên tắc về XPVPHC. Nhiều vấn đề của Pháp lệnh được các nghị định của Chính phủ và các thông tư, quyết định, chỉ thị của Bộ quy định chi tiết. Đặc biệt, toàn bộ các vi phạm hành chính và các biện pháp xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả cụ thể trong từng lĩnh vực được quy định rải rác ở rất nhiều nghị định về XPVPHC trong các lĩnh vực quản lý nhà nước. 3. Vi phạm hành chính và các biện pháp chế tài đối với vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực thường được quy định ở nhiều văn bản dưới luật Pháp lệnh XLVPHC đã ủy quyền cho Chính phủ quy định các vi phạm hành chính và các biện pháp xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả cụ thể trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước. 4. Hệ thống pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính không có tính ổn định cao Các VBQPPL về XPVPHC không có tính ổn định cao do thường xuyên thay đổi. Từ 1989 đến nay, chúng ta đã có 3 Pháp lệnh quy định về XPVPHC. Nhưng đặc biệt, các nghị định quy định về XPVPHC trong các lĩnh vực quản lý nhà nước thì thay đổi nhiều hơn. 5. Việc áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính chủ yếu do các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện. 1.2. Nội dung của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính 1.2.1. Khái niệm vi phạm hành chính Cơ sở của việc XPVPHC là có VPHC được pháp luật quy định. Việc nghiên cứu về khái niệm vi phạm hành chính vừa có ý nghĩa lý luận quan trọng vừa mang tính thực tiễn sâu sắc, bởi lẽ, chỉ khi định nghĩa đúng về hành vi VPHC mới có thể xác định được các VPHC cụ thể trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước. Xác định được đúng hành vi VPHC (tức là xác định đúng cơ sở xử phạt) thì việc thực hiện xử phạt hành chính mới đúng đắn, mới đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của 14 nhà nước, của tổ chức và cá nhân, phát huy được hiệu quả và mục đích của việc xử phạt hành chính là nhằm lập lại trật tự quản lý nhà nước bị xâm hại, góp phần giáo dục người vi phạm và cảnh báo, phòng ngừa vi phạm trong tương lai và tránh được sự tùy tiện trong xử phạt hành chính. Trong thực tiễn thi hành và áp dụng pháp luật hiện nay, VPHC thường được hiểu một cách chung nhất là hành vi vi phạm các quy tắc quản lý của nhà nước nhưng không phải là tội phạm và bị xử lý theo thủ tục hành chính mà không viện đến Tòa án và các thủ tục tư pháp. Trước đây, khi Nhà nước ta chưa ban hành Pháp lệnh XPVPHC 1989 thì các văn bản pháp luật chỉ đề cập đến khái niệm “vi cảnh”2. Khái niệm “vi cảnh” theo Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, NXB Đà Nẵng, 1997, tr. 1073) được định nghĩa là việc “vi phạm luật lệ sinh hoạt ở nơi công cộng”, chẳng hạn vi phạm quy định về giữ gìn vệ sinh công cộng, trật tự công cộng, trật tự an toàn giao thông… Đây là cách hiểu thông dụng nhất về khái niệm “vi cảnh”. Sau này, trong các văn bản pháp luật, khái niệm “vi cảnh” được hiểu rộng hơn: không chỉ là những vi phạm luật lệ sinh hoạt nơi công cộng mà được hiểu là những vi phạm nhỏ chưa đến mức hình sự. Theo Điều 2 của Điều lệ xử phạt vi cảnh ban hành kèm theo Nghị định số 143/CP ngày 27/05/1977 của Hội đồng Chính phủ, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 200-HĐBT ngày 06/07/1985 của Hội đồng Bộ trưởng thì “vi cảnh” được định nghĩa là “những hành vi xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội mà có tính chất đơn giản, rõ ràng và hậu quả không nghiêm trọng, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa đến mức xử phạt bằng các biện pháp hành chính khác là phạm pháp vi cảnh”. Về cụ thể, hành vi vi phạm vi cảnh được các văn bản pháp luật trước đây quy định rất đa dạng, có những hành vi mang tính chất đặc trưng của thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám 1945 (thời kỳ nhà nước ta phải đấu tranh với “giặc đói”, “giặc dốt” và giữ gìn chính quyền cách mạng non trẻ mới được thành lập) như: “người trên 8 tuổi mà không biết đọc, viết chữ quốc ngữ, hạn sau một năm thì bị phạt tiền” (Sắc lệnh số 20 ngày 08/09/1945 của 2 Khái niệm này chính thức được sử dụng trong “Điều lệ xử phạt vi cảnh” ban hành kèm theo Nghị định số 143/CP ngày 27/05/1977. Theo quy định của Điều lệ xử phạt vi cảnh thì tất cả những hành vi xâm hại đến trật tự an toàn xã hội có tính chất đơn giản, rõ ràng hoặc hậu quả không nghiêm trọng, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc áp dụng các biện pháp hành chính khác là phạm pháp vi cảnh. Hình thức xử phạt vi cảnh được chia thành 4 loại: cảnh cáo; phạt tiền từ 01 đến 10 đồng; phạt lao động công ích từ 01 đến 03 ngày; phạt giam từ 01 đến 03 ngày. Nghị định cũng quy định tịch thu phương tiện dùng vào việc vi phạm tùy theo tính chất, mức độ của vi phạm; quy định thẩm quyền xử phạt với hình thức phạt cảnh cáo, phạt tiền cho cán bộ có thẩm quyền của các ngành Kiểm lâm, Thủy sản, Thương nghiệp Y tế, Giao thông vận tải… trong khi thừa hành công vụ ngoài lực lượng cán bộ, chiến sĩ công an là lực lượng có thẩm quyền áp dụng tất cả các hình thức xử phạt mà Nghị định quy định. 15 Chính phủ lâm thời); vi phạm về sử dụng điện thoại như “bị bắt quả tang đã sửa đổi hoặc đặt thêm những đường dây hay máy móc điện thoại thuê bao mà không được Chính phủ cho phép” (Sắc lệnh số 174 ngày 06/09/1946 của Bộ nội vụ); “thành lập, hoạt động hội trái pháp luật; không chịu nộp thuế, không chịu đi dân công” (Nghị định số 273/TTg ngày 25/05/1953 của Thủ tướng Chính phủ); “những hành vi đã phạm tội nhưng chưa đáng phạt tù như làm tay sai cho địch, chưa thực sự hối cải, lưu manh chuyên nghiệp”… Một số hành vi vi cảnh được quy định trong các văn bản pháp luật thời đó rất giống với các vi phạm hành chính thời nay như “vi phạm quy tắc sử dụng ánh sáng trên đường giao thông và trên phương tiện vận tải” (Nghị định số 273/TTg ngày 25/05/1953 của Thủ tướng Chính phủ); “phơi rơm rạ, thóc lúa và các thứ khác trên đường phố, đường ôtô, đường xe lửa; buộc súc vật vào cây cối, vào cọc tiêu, cột báo hiệu ở hai bên đường” (Nghị định số 200-HĐBT ngày 06/07/1985 của Hội đồng Bộ trưởng)… Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm “vi phạm hành chính” lần đầu tiên được định nghĩa một cách chính thức tại Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính 1989. Khoản Điều 1 Pháp lệnh quy định “vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”. Định nghĩa này sau đó đã được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn thi hành pháp luật và đưa vào các giáo trình giảng dạy về pháp luật. Định nghĩa này cho chúng ta thấy được các dấu hiệu pháp lý cơ bản của VPHC là: hành vi, tính trái pháp luật của hành vi, có lỗi, và bị xử phạt hành chính. Ngoài mặt khách quan và mặt chủ quan thể hiện qua các dấu hiệu trên, định nghĩa này cũng đề cập đến yếu tố chủ thể của cấu thành pháp lý của VPHC. Đến Pháp lệnh XLVPHC 1995 và Pháp lệnh XLVPHC 2002 thì khái niệm vi phạm hành chính không được định nghĩa riêng biệt nữa mà được suy ra từ khái niệm “xử phạt vi phạm hành chính”. Điều 1 Pháp lệnh XLVPHC 2002, khoản 1 quy định “Xử lý vi phạm hành chính bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính khác” và khoản 2 quy định: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”. Theo tinh thần đó, VPHC được hiểu là hành vi cố ý hoặc vô ý của cá nhân, tổ chức, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính. 16 Chúng ta có thể thấy định nghĩa về VPHC trong các Pháp lệnh về xử phạt/xử lý VPHC 1989, 1995, 2002 khác nhau về ngôn ngữ thể hiện nhưng về bản chất là giống nhau. Khái niệm VPHC cần phải được định nghĩa rõ ràng vì đây là khái niệm cốt lõi của pháp luật về XPVPHC (giống như khái niệm tội phạm trong pháp luật hình sự). Nó là xuất phát điểm quan trọng để xác định các hành vi vi phạm trong từng lĩnh vực cụ thể và các chế tài áp dụng một cách đúng đắn, chính xác và hiệu quả. Hơn nữa, nó còn thể hiện sự phân định với tội phạm – điều có ý nghĩa rất quan trọng để áp dụng trách nhiệm hành chính với thủ tục khác hẳn khi áp dụng trách nhiệm hình sự. Trước tiên cần phải khẳng định VPHC là một loại vi phạm pháp luật. Nó mang đầy đủ những dấu hiệu đặc trưng của vi phạm pháp luật: đó là hành vi khách quan được thể hiện thông qua hành động (hoặc không hành động) của con người trái với các quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra bằng các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành; hành vi đó thể hiện ý chí của chủ thể thực hiện bằng sự cố ý hoặc vô ý đối với việc thực hiện và nó xâm hại đến lợi ích của cộng đồng, trật tự xã hội và lợi ích của nhà nước và bị áp dụng chế tài pháp lý mang tính cưỡng chế nhà nước. Các loại VPPL có thể là: vi phạm hành chính, vi phạm pháp luật dân sự, vi phạm pháp luật về công chức, công vụ và vi phạm pháp luật hình sự. Tương ứng với các loại VPPL nói trên có bốn loại trách nhiệm pháp lý được áp dụng, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, đó là trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm kỷ luật và trách nhiệm hình sự. Các dấu hiệu pháp lý và yếu tố cấu thành pháp lý của vi phạm hành chính gồm: mặt khách quan, khách thể, chủ thể, mặt chủ quan. 1. Mặt khách quan Mặt khách quan của VPHC bao gồm các dấu hiệu: hành vi, tính trái pháp luật của hành vi, hậu quả gây thiệt hại mà hành vi gây ra cho xã hội, quan hệ nhân quả, thời gian, địa điểm, phương tiện vi phạm… - Bất kỳ một hiện tượng nào cũng có hình thức biểu hiện của nó. VPHC có hình thức biểu hiện là hành vi. Không có hành vi thì không có vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm hành chính nói riêng. Hành vi VPHC có thể biểu hiện dưới hình thức hành động (làm hàng giả, kinh doanh trái phép, vượt đèn đỏ…) hoặc không hành động (không có phương tiện phòng cháy chữa cháy, điều khiển môtô không có giấy phép lái xe...). VPHC là hành vi có tính chất trái pháp luật thể hiện ở chỗ hành vi đó được thực hiện ngược lại với yêu cầu của quy phạm pháp luật. Nói cách khác, đó là những hành vi xâm phạm những quy định pháp luật nói chung được chế định trách nhiệm hành chính bảo vệ. Cụ thể hơn, đó là hành động bị pháp luật hành chính 17 cấm, hoặc không thực hiện hay thực hiện không đúng hành động mà pháp luật hành chính buộc phải thực hiện. - Khi VPHC đã xảy ra hậu quả, cần xem xét mối liên hệ nhân quả giữa hành vi VPHC và hậu quả của hành vi. - Khi xem xét mặt khách quan của VPHC trong những vụ việc cụ thể cần tính đến một số yếu tố như thời gian, địa điểm, hoàn cảnh, phương tiện vi phạm. 2. Khách thể Khách thể của vi phạm pháp luật là cái mà vi phạm đó xâm hại. Khách thể của VPHC là những quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật hành chính bảo vệ. Khách thể là yếu tố quan trọng quy định tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi trái pháp luật. Khách thể của VPHC rất đa dạng. Đó là trật tự nhà nước và xã hội, trật tự quản lý, quyền sở hữu, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Như vậy, khách thể của VPHC không chỉ là trật tự quản lý nếu hiểu theo nghĩa hẹp của các khái niệm đó. Mặt khác, không phải toàn bộ các quan hệ quản lý nhà nước là khách thể của VPHC, mà chỉ những quan hệ được bảo vệ bằng các biện pháp trách nhiệm hành chính trong số đó mà thôi. Nếu các quan hệ quản lý nhà nước đó không được các quy phạm pháp luật hành chính bảo vệ thì đó không phải là khách thể của VPHC, mà có thể là khách thể của tội phạm, vi phạm kỷ luật, vi phạm dân sự. Đồng thời, các biện pháp trách nhiệm hành chính không chỉ được áp dụng để bảo vệ các quan hệ xã hội do luật hành chính điều chỉnh, mà còn bảo vệ cả các quan hệ tài chính, đất đai, lao động… do các ngành luật tương ứng điều chỉnh. Như vậy, khách thể của VPHC còn là các quan hệ pháp luật lao động, đất đai, tài chính… 3. Chủ thể Chủ thể của VPHC là cá nhân hay tổ chức có năng lực trách nhiệm hành chính đã thực hiện hành vi VPHC. Pháp luật hành chính quy định chỉ truy cứu trách nhiệm hành chính đối với những cá nhân có năng lực hành vi pháp luật hành chính. Người có năng lực hành vi pháp luật hành chính là người có khả năng nhận thức được tính chất nguy hại cho xã hội của hành vi, hậu quả của hành vi và điều khiển được hành vi đó. Những người hành động trong tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng và sự kiện bất ngờ, hoặc không có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình thì không phải chịu trách nhiệm hành chính, nghĩa là không bị xử phạt VPHC. Các chủ thể phải chịu trách nhiệm hành chính gồm: a. Cá nhân - Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hành chính về mọi VPHC. 18
- Xem thêm -