Pháp luật về quản trị ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam

  • Số trang: 114 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 26 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt Danh mục các sơ đồ MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG 7 THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN 1.1. Khái niệm và vai trò của quản trị ngân hàng thương mại cổ phần 7 1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại cổ phần 7 1.1.2. Khái niệm và vai trò của quản trị ngân hàng thương mại cổ phần 13 1.2. Mô hình quản trị trong ngân hàng thương mại cổ phần 17 1.2.1. Mô hình quản lý hai cấp 17 1.2.2 Mô hình quản trị ngành dọc theo hướng chuyên môn hóa 19 1.2.3. Mô hình công ty mẹ, công ty con 21 1.3. Pháp luật về quản trị ngân hàng thương mại cổ phần 22 1.3.1. Sự cần thiết phải có pháp luật về quản trị ngân hàng thương mại cổ phần 22 1.3.2. Nội dung của pháp luật về quản trị ngân hàng thương mại cổ phần 29 Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ QUẢN 34 TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM 3.1. Đại hội đồng cổ đông 35 2.1.1. Quyền và nghĩa vụ của cổ đông 35 2.1.1.1. Quyền của cổ đông 35 2.1.1.2. Nghĩa vụ của cổ đông 38 2.1.1.3. Tỷ lệ sở hữu cổ phần 38 2.1.1.4. Một số quy định cần bổ sung so với Luật Doanh nghiệp 40 2.1.2. Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông 42 2.1.3. Quyền và nghĩa vụ của Đại hội đồng cổ đông 42 2.2. Hội đồng quản trị 44 2.2.1. Cơ cấu Hội đồng quản trị 44 2.2.2. Cuộc họp Hội đồng quản trị 47 2.2.3. Quyền và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị 49 2.3. Ban kiểm soát 52 2.3.1. Cơ cấu Ban kiểm soát 53 2.3.2. Quyền và nghĩa vụ của Ban kiểm soát 53 2.4. Tổng giám đốc (Ban Tổng giám đốc) 55 2.4.1. Vị trí của Tổng giám đốc trong ngân hàng thương mại cổ phần 55 2.4.2. Nhiệm vụ quyền hạn của Tổng giám đốc 57 2.5. Một số bộ phận điều hành đặc biệt 58 2.6. Tiêu chuẩn thành viên trong ngân hàng thương mại cổ phần 61 2.6.1. Tiêu chuẩn thành viên Hội đồng quản trị 62 2.6.2. Tiêu chuẩn thành viên Ban kiểm soát 65 2.6.3. Tiêu chuẩn Tổng giám đốc 65 2.6.4. Những trường hợp không cùng đảm nhiệm chức vụ 67 2.7. Công khai hóa thông tin và minh bạch trong hoạt động quản trị 72 Chương 3: CÁC ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 76 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM 3.1. Định hướng hoàn thiện các quy định về quản trị ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam 76 3.1.1. Nâng cao năng lực quản trị trong từng ngân hàng thương mại cổ phần 79 3.1.2. Đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng 79 3.1.3. Tăng tính tự chủ cho các ngân hàng thương mại cổ phần 80 3.1.4. Đặt trong giải pháp tổng thể hoàn thiện pháp luật ngân hàng 81 3.2. Một số giải pháp hoàn thiện các quy định về quản trị ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam 83 3.2.1. Về cơ cấu tổ chức của các ngân hàng thương mại cổ phần 83 3.2.2. Về mô hình quản trị ngân hàng thương mại cổ phần 84 3.2.3. Về điều kiện, tiêu chuẩn cho các chức danh quản lý, điều hành 86 KẾT LUẬN 89 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 PHỤ LỤC 95 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BKS : Ban kiểm soát ĐHĐCĐ : Đại hội đồng cổ đông HĐQT : Hội đồng quản trị NHNN : Ngân hàng Nhà nước NHTM : Ngân hàng thương mại NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ Số hiệu Tên sơ đồ Trang sơ đồ 1.1. Bộ máy quản trị NHTM 20 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngành ngân hàng đang đứng trước áp lực cạnh tranh ngày một lớn từ các cam kết mở cửa thị trường tài chính - ngân hàng sau khi Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Trước tình hình đó, môi trường pháp lý cho các ngân hàng hoạt động tại Việt Nam đang được cải thiện đáng kể. Các hội, đoàn đang có những vận động tích cực để kiến nghị tập trung vào việc đẩy nhanh ban hành các văn bản, hướng dẫn để tạo thuận lợi cho các ngân hàng hoạt động, nhiều hội thảo đóng góp ý kiến để xây dựng đã và sắp diễn ra để hoàn thiện văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động quản trị ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP). Các tiêu chí về tăng tính trách nhiệm trong quá trình ra quyết định; giảm khả năng xung đột lợi ích giữa việc ra quyết định và việc điều hành công việc hàng ngày của ngân hàng và đặc biệt là để tạo sự kiểm tra và cân bằng quyền lực, đảm bảo ngân hàng hoạt động lành mạnh, đảm bảo các quyết định của các cấp điều hành, quản lý là khách quan, vì lợi ích tốt nhất của ngân hàng là những mục đích cho quá trình ra đời, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật này trong thời gian tới. Tác giả chọn đề tài "Pháp luật về quản trị ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam" vì những lý do sau đây: 1.1. Mong muốn được nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống những quy định pháp luật về quản trị NHTMCP. Quản trị được nghiên cứu trong đề tài này là quản trị theo nghĩa hẹp, hay nói cách khác là quản trị nội bộ, tức là chỉ những hoạt động và mối quan hệ giữa các cơ quan quản lý, điều hành trong NHTMCP như Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ), Hội đồng quản trị (HĐQT), Ban kiểm soát (BKS), Giám đốc và các chức danh điều hành khác. 1.2. Việt Nam đã là thành viên của WTO, ngành tài chính - ngân hàng đang đứng trước thách thức trong việc cạnh tranh với các ngân hàng nước 1 ngoài, nếu không có những định hướng tích cực, các ngân hàng Việt Nam sẽ nhường thị phần cho những đối tác này. Trước hết, các quy định pháp luật cần có những định hướng cơ bản cho hoạt động quản trị của các ngân hàng. Việc nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần vào việc thực hiện mục tiêu trên. 1.3. Hiện nay cơ sở pháp lý cho vấn đề hoạt động và quản trị ngân hàng hiện nay là Nghị định 59/2009/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại vừa được ban hành, thay thế cho Nghị định 49/2000/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12/09/2000 về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại (NHTM). Nghị định số 49/2000/NĐ-CP và các quyết định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã và đang bộc lộ những bất cập. Cụ thể như, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐQT và Tổng giám đốc chưa được phân định rõ ràng và hợp lý. Điều này dẫn tới tình trạng, có những ngân hàng HĐQT can thiệp quá sâu vào việc điều hành, hoặc ngược lại có những ngân hàng Ban điều hành lấn át HĐQT…, hay chưa có chế độ báo cáo và công bố thông tin rõ ràng, minh bạch sẽ dẫn đến tình trạng thông tin bất đối xứng… Ngoài những bất cập đó còn có những điểm chưa phù hợp so với các văn bản mới được ban hành như Luật Doanh nghiệp năm 2005 và các văn bản trong hoạt động ngân hàng. Hay các quy tắc chung về quản trị của thế giới vẫn chưa được nghiên cứu triệt để như: 8 nguyên tắc quản trị ngân hàng lành mạnh của Ủy ban Basel, 6 nguyên tắc về quản trị ngân hàng của OECD, 25 nguyên tắc cơ bản của Ủy ban Basel để đảm bảo ngân hàng hoạt động an toàn, lành mạnh… Nghị định 59/2009/NĐ-CP ra đời đã khắc phục được một số bất cập này, tuy nhiên một số quy định vẫn chưa được rõ ràng, đầy đủ, ngoài ra sự không thống nhất giữa Nghị định 59/2009/NĐ-CP với các quyết định của NHNN khiến các quy định về quản trị NHTMCP vẫn chưa đáp ứng được đúng sự mong đợi của các ngân hàng trên thực tế. 1.4. Trước tình trạng số lượng các NHTMCP đang ngày một tăng [11], thì dường như việc quan tâm đến vấn đề quản trị của các ngân hàng đang tồn 2 tại cũng như kế hoạch quản trị cho các ngân hàng sắp được thành lập đang bị bỏ rơi. Nhiều vụ việc xảy ra trên thực tế như HĐQT và Ban điều hành là một, quyền lợi của cổ đông thiểu số không được coi trọng hay sự mâu thuẫn giữa HĐQT và Ban điều hành trên thực tế đã là một trong những lý do làm suy giảm niềm tin của nhà đầu tư vào các NHTMCP cũng như ảnh hưởng nhiều đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Thông qua việc nghiên cứu thực tiễn hoạt động quản trị của các ngân hàng Việt Nam và tham khảo các hoạt động quản trị ngân hàng nước ngoài, luận văn sẽ đưa ra những nhận xét và đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong việc điều chỉnh lĩnh vực này. Việc nghiên cứu những quy định về hoạt động và quản trị của ngân hàng một cách thấu đáo sẽ giúp cho hoạt động của các ngân hàng hiệu quả hơn. 2. Tính cấp thiết của đề tài Quản trị đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp nói chung, mà đặc biệt là các NHTM. Với tính rủi ro cao trong hoạt động ngân hàng, NHTM có hệ thống quản trị càng tốt, họ càng có đủ công cụ để phục vụ thị trường, đồng thời tự xây dựng được sự bảo vệ hạn chế rủi ro ở mức tối đa đối với các dịch vụ. Đứng trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, đòi hỏi về công tác quản trị trong các NHTM Việt Nam ngày càng cao hơn. Một ngân hàng yếu kém trong quản trị sẽ không chỉ gây tổn thất cho chính ngân hàng đó, mà còn tạo nên những rủi ro nhất định mang tính dây chuyền và có thể ảnh hưởng tới toàn xã hội. Vì vậy, để đảm bảo cho NHTM hoạt động có hiệu quả và an toàn, những yêu cầu về quản trị, tổ chức hoạt động phải được quy định chặt chẽ bởi pháp luật. Tuy nhiên ở Việt Nam các vấn đề về quản trị NHTM lại chưa nhận được sự quan tâm thích đáng của pháp luật. Pháp luật về quản trị NHTMCP của Việt Nam hiện nay đang có khoảng cách so với các chuẩn mực về quản trị theo thông lệ quốc tế. Chính vì vậy, việc đánh giá thực trạng pháp luật về quản trị NHTMCP của Việt Nam, đồng thời 3 nghiên cứu các thông lệ quốc tế về quản trị nhằm đưa ra những kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật là vô cùng cấp thiết. 3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề pháp lý cũng như cơ sở lý luận của vấn đề hoạt động và quản trị trong NHTMCP của Việt Nam trên cơ sở so sánh, phân tích các quy định pháp luật của Việt Nam và các quy tắc của thế giới. Trong nội dung trình bày, tác giả sẽ đưa ra những nhận xét, đánh giá thực tiễn cũng như đánh giá xu hướng của việc áp dụng các quy định pháp luật về hoạt động và quản trị của NHTMCP của nước Việt Nam cũng như của các nước trên thế giới. Qua đó nêu lên những kiến nghị có thể áp dụng cho Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này đồng thời xây dựng cơ chế áp dụng một cách phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế. Đề tài nghiên cứu vấn đề quản trị (theo nghĩa hẹp) trong NHTMCP. Không bao gồm phạm vi ngân hàng thương mại do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ, ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài và ngân hàng thương mại liên doanh. 4. Tình hình nghiên cứu về vấn đề này ở Việt Nam và ý nghĩa lý luận của đề tài Về vấn đề quản trị, thì quản trị trong công ty cổ phần đã được nghiên cứu trong tổng thể nhiều vấn đề của công ty như: "Quản trị công ty: Giám sát người quản trị các doanh nghiệp" được in trong sách "Chuyên khảo Luật kinh tế" của tác giả Phạm Duy Nghĩa; "So sánh pháp luật về quản trị doanh nghiệp của một số nước trên thế giới - Bài học kinh nghiệm và kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật công ty ở Việt Nam" Đề tài đặc biệt cấp Quốc gia do PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa (chủ biên); "Báo cáo nghiên cứu rà soát văn bản pháp luật về thành lập, tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp" của CIEM; "Quản trị công ty: Nâng cao năng lực cạnh tranh và tiếp cận nguồn vốn trên 4 thị trường toàn cầu" sách do CIEM dịch với sự tài trợ của GTZ; Các tài liệu nghiên cứu của CIEM và Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ về dự án xây dựng Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp thống nhất… và các công trình có đề cập tới quản trị công ty như: "Nghiên cứu so sánh quản lý công ty cổ phần theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa", Luận án tiến sĩ Luật học của Ngô Viễn Phú; "Quản lý, điều hành trong Công ty cổ phần ở Việt Nam", Luận văn thạc sĩ Luật học của Đậu Anh Tuấn,… Tuy nhiên, tình hình nghiên cứu về hoạt động quản trị trong NHTMCP thì vẫn còn khoảng trống. Hiện nay ở nước ta, ngoài một số bài báo đề cập hoặc nghiên cứu các khía cạnh của vấn đề quản trị và hoạt động trong NHTMCP, và các công trình nghiên cứu về quản trị trong công ty cổ phần như kể trên, thì các đề tài nghiên cứu đầy đủ về vấn đề quản trị nói riêng cho NHTMCP vẫn chưa nhiều. Đề tài này mang ý nghĩa lý luận cho việc xây dựng những quy phạm pháp luật đầy đủ, làm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các quy định về hoạt động quản trị và điều hành trong NHTMCP. Những kiến nghị của đề tài hy vọng sẽ đem lại những kết quả thiết thực cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật của Việt Nam để quản trị và hoạt động trong NHTMCP được thực hiện một cách tốt hơn, trợ giúp cho hoạt động ngân hàng tài chính đang phát triển với tốc độ rất nhanh hiện nay. Tác giả hy vọng rằng với sự đầu tư thích đáng, kết quả nghiên cứu sẽ là một tài liệu tham khảo có giá trị. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Tác giả sử dụng phương pháp phân tích, so sánh các quy định pháp luật quốc tế và luật pháp của một số quốc gia điển hình, thu thập kinh nghiệm thực tiễn của một số quốc gia trong việc áp dụng các quy định về quản trị và hoạt động trong NHTMCP ở Việt Nam, từ đó rút ra những ưu điểm trong quy định của pháp luật quốc tế và luật pháp của một số nước điển hình trên thế 5 giới về vấn đề vấn đề này; xem xét tính phù hợp với điều kiện của Việt Nam để hướng tới việc hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam. 6. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quản trị ngân hàng thương mại cổ phần. Chương 2: Pháp luật về quản trị ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam hiện hành. Chương 3: Các định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản trị ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam. 6 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN 1.1. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÕ CỦA QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN 1.1.1. Khái niệm ngân hàng thƣơng mại cổ phần Việc định nghĩa và phân loại các loại hình ngân hàng sẽ là cơ sở để hiểu đưa ra khái niệm về hoạt động quản trị trong các ngân hàng. Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế. Có nhiều khái niệm khác nhau về NHTM ở các nước trên thế giới. Ở Mỹ, NHTM là một loại hình tổ chức tín dụng cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng tiết kiệm và dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Còn ở Pháp, NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở nào thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ đang cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính [34, tr. 13-14] Hay ở Ấn Độ, NHTM là các cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay hay tài trợ đầu tư. Như vậy, có thể thấy NHTM được định nghĩa thông qua hoạt động nghiệp vụ chủ yếu của nó. Với những nghiệp vụ nhiều rủi ro và mang tính ảnh hưởng lớn đến cả một nền kinh tế, các ngân hàng đòi hỏi phải có sự quản lý, giám sát chặt chẽ của nhà nước trong hoạt động. Bởi vì, nếu một ngân hàng kinh doanh thua lỗ hay bị sụp đổ, sẽ kéo theo hàng loạt những hệ quả và ảnh hưởng nặng nề khác, đặc biệt ảnh hưởng lớn đến dân chúng gửi tiền. Trên thế giới vẫn xảy ra những tranh chấp trong việc định nghĩa ngân hàng là gì. Các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng (các dịch vụ) được thực hiện trong nền kinh 7 tế. Tuy nhiên, vấn đề là không chỉ chức năng của các ngân hàng đang thay đổi mà chức năng của các đối thủ cạnh tranh chính sách của ngân hàng cũng không ngừng thay đổi [34]. Đối thủ cạnh tranh chính sách của ngân hàng ở đây bao gồm các tổ chức tài chính phi ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty tài chính, công ty bảo hiểm đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng. Do đó, ngân hàng cũng đối phó với các đối thủ cạnh tranh này bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ, hướng về lĩnh vực bất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, và thực hiện nhiều dịch vụ mới khác. Do vậy, nếu định nghĩa không rõ ràng, thì một số tổ chức sẽ luôn tìm cách mở rộng phạm vi hoạt động của mình sang lĩnh vực ngân hàng, vốn là ngành cần phải được Nhà nước quản lý chặt chẽ. Pháp luật Việt Nam cũng đã dự liệu được điều này, vấn đề tên gọi các "ngân hàng" đã được ghi nhận trong văn bản luật gần đây nhất là Nghị định số 59/2009/NĐ-CP: "Các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng không được phép sử dụng thuật ngữ "ngân hàng" trong tên của tổ chức, trong các phần phụ thêm của tên, văn bản, thông báo hoặc quảng cáo của mình mà thuật ngữ đó có thể gây nhầm lẫn cho công chúng về việc tổ chức của mình là một ngân hàng" [4]. Như vậy, chỉ một số tổ chức nhất định mới được gọi tên là "ngân hàng". Pháp luật Việt Nam đã đưa ra khái niệm về ngân hàng và NHTM khá thống nhất với pháp luật của các quốc gia khác trên thế giới. Theo khoản 2 Điều 20 Luật Các tổ chức tín dụng quy định: Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác [31]. 8 Theo đó, khoản 7 quy định: "Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán" [31]. Luật Các tổ chức tín dụng không trực tiếp đưa ra khái niệm về NHTM, mà chỉ định nghĩa thông qua các khái niệm ngân hàng và hoạt động ngân hàng. Khái niệm NHTM được đề cập ở Nghị định 59/2009/NĐ-CP: "Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật" (khoản 1 Điều 5). Trong đó "Ngân hàng thương mại cổ phần là ngân hàng thương mại được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần" (khoản 3 Điều 5). Việc thành lập các ngân hàng ở Việt Nam cũng khác so với các tổ chức khác. Sau khi nhận được Giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng của NHNN, ngân hàng vẫn phải tiến hành đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật doanh nghiệp. Về cơ bản, cơ cấu quản trị ngân hàng vẫn được áp dụng theo các quy định tại Luật Doanh nghiệp, ngoài ra, với tính chất đặc thù của ngân hàng nên Luật Các tổ chức tín dụng và các văn bản chuyên ngành khác có quy định một số yêu cầu khác chi tiết hơn về các cơ quan tham gia quản trị cũng như điều kiện để trở thành thành viên của các cơ quan này. Nghị định số 141/2006/NĐ-CP của Chính phủ vào tháng 11/2006 về danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng, đặc biệt là Quyết định số 24/2007/QĐ-NHNN vào tháng 6/2007 của NHNN về điều kiện thành lập ngân hàng mới, việc thành lập NHTMCP đã trở nên khó khăn hơn. Đáng chú ý là mức vốn điều lệ tối thiểu của một NHTMCP đô thị tăng từ 70 tỉ đồng lên 1.000 tỉ đồng. Thực ra các cổ đông sáng lập cùng tham gia vào cuộc đua thành lập NHTMCP mới đều có lý do khá thuyết phục. Có thể nêu lên một số khía cạnh chủ yếu sau đây: 9 Một là, nền kinh tế Việt Nam trước thời điểm và sau khi gia nhập WTO, tiếp tục có những chuyển biến tích cực. Đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp nước ngoài, kim ngạch xuất nhập khẩu, lượng khách du lịch quốc tế... tăng trưởng mạnh. Do đó nhu cầu về dịch vụ ngân hàng tăng lên rất lớn. Hai là, theo đề án thanh toán không dùng tiền mặt được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt mới đây thì từ đầu năm 2008, trước tiên các đơn vị chi lương từ nguồn ngân sách nhà nước, tiếp đến là các đơn vị sự nghiệp… phải trả lương qua hệ thống tài khoản ngân hàng. Đây là một cơ hội lớn cho các NHTM, cùng theo chiều hướng đó thì việc chi trả lương của các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp có đông công nhân cũng phát triển rất mạnh. Ba là, tiềm năng thị trường dịch vụ ngân hàng ở nước ta còn rất lớn. Tính bình quân trong hơn 3 năm qua, các NHTM ở nước ta có tốc độ tăng trưởng các chỉ tiêu kinh doanh chủ yếu đạt tới trên 30%/năm. Bốn là, hàng loạt thị trường khác như: chứng khoán, bất động sản, du lịch, thị trường lao động trong và ngoài nước… tiếp tục phát triển mạnh. Các hoạt động giáo dục, đào tạo, y tế, chăm sóc sức khỏe, dịch vụ công cộng... đang được xã hội hóa mạnh mẽ làm cho nhu cầu dịch vụ ngân hàng cũng tăng mạnh [11]. Có thể thấy, cuộc đua thành lập NHTMCP diễn ra giữa năm 2007 đã được rất nhiều nhà đầu tư quan tâm, với số vốn điều lệ đều trên 1.000 tỷ đồng (xem phụ lục 1). Việc phân loại các NHTM hiện nay có quy định khác nhau tại các văn bản. Theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997, được sửa đổi năm 2004: Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng 10 đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác [31, khoản 3 Điều 1]. Trong khi đó theo định nghĩa tại Nghị định số 59/2009/NĐ-CP, có định nghĩa các Ngân hàng: - Ngân hàng thương mại Nhà nước là ngân hàng thương mại trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ. NHTMNN bao gồm ngân hàng thương mại do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và NHTMCP do Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ. - Ngân hàng thương mại cổ phần là ngân hàng thương mại được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần. - Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài là ngân hàng thương mại được thành lập tại Việt Nam với 100% vốn điều lệ thuộc sở hữu nước ngoài; trong đó phải có một ngân hàng nước ngoài sở hữu trên 50% vốn điều lệ (ngân hàng mẹ). Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc từ hai thành viên trở lên, là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam. - Ngân hàng thương mại liên doanh là ngân hàng thương mại được thành lập tại Việt Nam, bằng vốn góp của bên Việt Nam (gồm một hoặc nhiều ngân hàng Việt Nam) và Bên nước ngoài (gồm một hoặc nhiều ngân hàng nước ngoài) trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Ngân hàng thương mại liên doanh được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên, là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam. Như vậy, qua từng thời kỳ, cách phân loại về ngân hàng đã có sự khác nhau. Nghị định 59/2009/NĐ-CP đã có cách phân loại khác với Luật Các tổ chức tín dụng, và đã lấy những tiêu chí phân loại dựa theo mô hình các doanh nghiệp được quy định tại Luật doanh nghiệp 2005. Tuy nhiên, các cách phân chia này vẫn chưa thống nhất với Luật Doanh nghiệp [19]. Theo Nghị định 11 59/2009/NĐ-CP, các NHTM vừa được phân chia theo hình thức sở hữu, vừa được phân chia theo mô hình doanh nghiệp. Luật Doanh nghiệp năm 2005 chỉ phân chia các doanh nghiệp theo mô hình tổ chức. Nếu phân chia như trên sẽ có độ vênh so với Luật Doanh nghiệp. Hiện nay Luật Doanh nghiệp phân chia thành các loại hình: Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân. Tất cả các doanh nghiệp trước đây thành lập với loại hình, tên gọi khác nhau sẽ phải chuyển đổi tương ứng theo 4 loại hình doanh nghiệp này, như doanh nghiệp nhà nước, hay doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (sẽ hoạt động dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên), doanh nghiệp liên doanh… Mặc dù ngân hàng là một lĩnh vực chuyên biệt nhưng ngoài văn bản chuyên ngành thì các NHTM vẫn phải tuân thủ các quy định của Luật Doanh nghiệp đối với những nội dung mà các văn bản luật chuyên ngành chưa đề cập đến. Do đó, việc phân loại các ngân hàng theo mô hình tổ chức sẽ phù hợp với Luật Doanh nghiệp hơn và phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam về nguyên tắc đối xử quốc gia. Theo Quyết định số 24/2007/QĐ-NHNN ban hành Quy chế cấp phép thành lập và hoạt động NHTMCP ngày 07/6/2007 của NHNN, NHTMCP khi thành lập phải có tối thiểu 100 cổ đông tham gia góp vốn thành lập ngân hàng, trong đó có tối thiểu 03 cổ đông sáng lập là tổ chức có tư cách pháp nhân đáp ứng đủ điều kiện (khoản 3 Điều 5): - Có thời gian hoạt động tối thiểu là 05 năm; - Cam kết hỗ trợ ngân hàng trong trường hợp ngân hàng khó khăn về vốn hoặc khả năng thanh khoản; - Là doanh nghiệp (không phải là ngân hàng thương mại) có vốn chủ sở hữu tối thiểu 500 tỷ đồng, kinh doanh có lãi trong 03 năm liền kề năm xin thành lập ngân hàng; - Là ngân hàng thương mại phải đảm bảo: Có tổng tài sản tối thiểu 10.000 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu nhỏ hơn 2% tổng dư nợ tại thời điểm xin góp vốn 12 thành lập ngân hàng; không vi phạm các qui định về an toàn trong hoạt động ngân hàng theo qui định của NHNN Việt Nam trong năm liền kề đến thời điểm được cấp giấy phép; kinh doanh có lãi trong 03 năm liền kề năm xin thành lập ngân hàng. Rất khó để một doanh nghiệp có vốn sở hữu ít nhất 500 tỷ đồng, kèm với điều kiện 03 năm liền kề kinh doanh có lãi. Với những điều kiện chặt chẽ trên, cơ hội thành lập NHTMCP đang được siết chặt và trở nên khó khăn. Đặc biệt, theo Nghị định số 141/2006/NĐ-CP của Chính phủ vào tháng 11/2006 về danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng, mức vốn điều lệ tối thiểu của một NHTMCP đã tăng từ 70 tỉ đồng (theo Nghị định số 82/1998/NĐ-CP ngày 03/10/1998) lên 1.000 tỉ đồng. Với số lượng cổ đông lớn buộc các ngân hàng phải có cơ chế quản trị riêng, có sự phân tách giữa quyền sở hữu công ty và quyền quản trị công ty. Đây cũng là điểm khác biệt giữa quản trị trong công ty cổ phần với hình thức quản trị theo kiểu thành viên góp vốn đứng ra trực tiếp điều hành, quản lý hoạt động của công ty như doanh nghiệp tư nhân, hoặc mọi thành viên trong công ty đều có quyền tham gia trong hoạt động điều hành, nhân danh công ty trong mọi giao dịch như các thành viên hợp danh trong công ty hợp danh. 1.1.2. Khái niệm và vai trò của quản trị ngân hàng thƣơng mại cổ phần Thuật ngữ Corporate Governance tạm dịch là quản trị doanh nghiệp đã được thừa nhận rộng rãi và được nhiều quốc gia trên thế giới nghiên cứu. Theo hệ thống dân luật, doanh nghiệp có những quan hệ hướng nội (quan hệ giữa các thành viên, giữa các cơ quan quản lý, điều hành trong công ty) và quan hệ hướng ngoại (quan hệ giữa công ty và các bên thứ ba như người lao động, cơ quan nhà nước, đối tác, các tổ chức tài chính...) [23, tr. 357]. Các quy định điều chỉnh mối quan hệ giữa các thành viên, giữa các cơ quan quản lý, điều hành trong ngân hàng là nội dung chính của quản trị ngân hàng theo ý nghĩa đề tài này hướng đến. 13 Theo Tổ chức hợp tác và phát triển (OECD): Quản trị công ty là một hệ thống các cơ chế, các hành vi quản lý. Cơ chế này xác định việc phân chia các quyền và nghĩa vụ giữa cổ đông, Hội đồng quản trị, các chức danh quản lý và những người có lợi ích liên quan, quy định trình tự ban hành các quyết định kinh doanh. Bằng cách này, công ty tạo ra một cơ chế xác lập mục tiêu hoạt động, tạo ra phương tiện thực thi và giám sát việc thực hiện các mục tiêu đó [50]. Theo Ngân hàng Thế giới (WB): Quản trị công ty là một hệ thống các yếu tố pháp luật, thể chế và thông lệ quản lý của các công ty. Nó cho phép công ty có thể thu hút được các nguồn tài chính và nhân lực, hoạt động có hiệu quả, và nhờ đó tạo ra các giá trị kinh tế lâu dài cho các cổ đông, trong khi vẫn tôn trọng quyền lợi của những người có lợi ích liên quan và của xã hội. Đặc điểm cơ bản nhất của một hệ thống quản trị công ty là: (i) tính minh bạch của các thông tin tài chính, kinh doanh và quá trình giám sát nội bộ đối với hoạt động quản lý, (ii) bảo đảm thực thi các quyền của tất cả các cổ đông, (iii) các thành viên trong Hội đồng quản trị có thể hoàn toàn độc lập trong việc thông qua các quyết định, phê chuẩn kế hoạch kinh doanh, tuyển dụng người quản lý, trong việc giám sát tính trung thực và hiệu quả của hoạt động quản lý và trong việc miễn nhiệm người quản lý khi cần thiết [46]. Các định nghĩa này cho thấy, quản trị công ty nhằm bảo vệ lợi ích của các bên liên quan chính trong các doanh nghiệp kinh doanh. Như đã có nhận xét: "Quản trị công ty trước hết bao gồm các thiết chế điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ sở hữu với nhau và giữa họ với bộ máy điều hành trong những doanh nghiệp qui mô lớn mà sở hữu và điều hành đã bắt đầu tách rời" [23, tr. 400]. 14 Như vậy, trong nền kinh tế thị trường, một công ty có nhiều đối tượng hưởng lợi và những đối tượng này được phân chia thành các nhóm có lợi ích xung đột với nhau. Việc quản trị sẽ cân bằng các ảnh hưởng đó một cách tối ưu cho công ty nhằm phát huy được tính hiệu quả, công khai, minh bạch, góp phần bảo vệ nhà đầu tư tốt hơn và cải thiện sức cạnh tranh cho chính bản thân doanh nghiệp. Điều này cho thấy, thuật ngữ "quản trị công ty" hoàn toàn khác với cách hiểu "quản trị kinh doanh" (theo môn học kinh tế) thường được hiểu là tri thức và kỹ năng của những người quản lý. Quản trị kinh doanh chính là áp dụng các nguyên tắc và lý luận của khoa học quản trị vào việc quản trị một cơ sở kinh doanh mà mục tiêu chủ yếu là lợi nhuận. Như vậy, về thực chất, quản trị kinh doanh là một quá trình, một hoạt động có hướng đích, có tổ chức của chủ thể quản trị (nhà quản trị) lên đối tượng quản trị (cấp dưới) để điều hành, phối hợp các nguồn lực (tài sản hữu hình, tài sản vô hình, thời gian và các mối quan hệ) trong điều kiện cạnh tranh thị trường nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh với hiệu quả cao [10, tr. 16]. Tương tự, quản trị trong ngân hàng cũng được thiết lập dựa trên những cơ sở cốt lõi này. Trong luận văn chỉ đề cập đến việc quản trị trong NHTMCP, bởi những lý do: NHTMNN tuy chiếm thị phần lớn (theo báo cáo của NHNN, năm 2007, năm ngân hàng thương mại thuộc sở hữu nhà nước chiếm khoảng 80% tổng tài sản của các ngân hàng thương mại, các khoản cho vay của ngân hàng thương mại thuộc sở hữu nhà nước chiếm gần 80% trong tổng số dư nợ ngân hàng, phần lớn các khoản cho vay dành cho các doanh nghiệp nhà nước) nhưng sự tăng trưởng rất nhanh chóng hiện nay của NHTMCP sẽ là một dấu hiệu nhận biết sự định hướng trong tương lai của các ngân hàng. Hiện nay vị thế của các NHTMNN có được là nhờ quan hệ kinh doanh với những khách hàng hiển nhiên là các Tổng công ty, công ty nhà nước lớn. Tuy các 15
- Xem thêm -