Pháp luật về ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển và việc thực thi công ước Marpol 73 78 tại Việt Nam

  • Số trang: 124 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 497 |
  • Lượt tải: 19
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

®¹i häc quèc gia hµ néi khoa luËt TrÇn Ngäc Toµn ph¸p luËt vÒ ng¨n ngõa « nhiÔm m«i tr-êng biÓn vµ viÖc thùc thi c«ng -íc marpol 73/78 t¹i viÖt nam luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc Hµ néi – 2011 ®¹i häc quèc gia hµ néi khoa luËt TrÇn Ngäc Toµn ph¸p luËt vÒ ng¨n ngõa « nhiÔm m«i tr-êng biÓn vµ viÖc thùc thi c«ng -íc marpol 73/78 t¹i viÖt nam Chuyªn ngµnh : LuËt quèc tÕ M· sè : 60 38 60 luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc Ng-êi h-íng dÉn khoa häc: TS. Vò Quang Hµ néi - 2011 MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt Danh mục các bảng Danh mục các biểu đồ MỞ ĐẦU Chương 1: 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGĂN NGỪA Ô NHIỄM MÔI 5 TRƯỜNG BIỂN VÀ CÔNG ƯỚC MARPOL 73/78 1.1. Tổng quan về ô nhiễm môi trường biển 5 1.1.1. Một số khái niệm cơ bản 5 1.1.2. Các nguồn gây ô nhiễm môi trường biển 7 1.1.3. Nguy cơ ô nhiễm môi trường biển Việt Nam 11 1.1.4. Ô nhiễm môi trường biển do dầu 11 1.1.5. Ô nhiễm biển từ tàu, cảng biển và công trình biển 14 Nội dung một số công ước quốc tế liên quan đến ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển 16 1.2.1. Các Công ước quốc tế liên quan đến ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển 17 1.2.2. Các Công ước trực tiếp quy định về ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển từ tàu 20 Một số nội dung cơ bản của công ước marpol 73/78 về ngăn ngừa ô nhiễm biển từ tàu 22 1.2. 1.3. 1.3.1. Khái quát chung về công ước 22 1.3.2. Các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm biển do dầu từ tàu 24 1.3.3. Ngăn ngừa ô nhiễm biển do chất lỏng độc hại chở xô gây ra 31 1.3.4. Ngăn ngừa ô nhiễm biển do chất độc hại đóng trong bao gói 32 1.3.5. Ngăn ngừa ô nhiễm biển do nước thải từ tàu 33 1.3.6. Ngăn ngừa ô nhiễm biển do rác từ tàu 34 1.3.7. Ngăn ngừa ô nhiễm không khí do tàu gây ra 35 Chương 2: PHÁP LUẬT VỀ NGĂN NGỪA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 36 BIỂN TẠI VIỆT NAM 2.1. Điều chỉnh của pháp luật đối với ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển 36 2.1.1. Nhu cầu điều chỉnh của pháp luật 36 2.1.2. Nguồn luật điều chỉnh ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển 37 2.1.3. Nguyên tắc điều chỉnh của pháp luật Việt Nam 37 2.2. Pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển 38 2.2.1. Các văn bản pháp luật là cơ sở pháp lý cho việc xây dựng các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển 38 2.2.2. Các văn bản pháp luật trực tiếp điều chỉnh ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển do dầu từ tàu 41 2.2.3. Quy định về kiểm tra, kiểm soát và chế tài áp dụng nhằm ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển 48 2.2.4. Các quy định về tổ chức, phối hợp thực hiện hoạt động ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển Việt Nam 50 2.3. Trách nhiệm thực thi Công ước 52 2.3.1. Quyền và nghĩa vụ của quốc gia trong việc thực thi công ước 52 2.3.2. Áp dụng các quy định của công ước 53 2.4. Thực thi pháp luật về ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam 54 2.4.1. Cơ chế tổ chức thực hiện 55 2.4.2. Yếu tố con người 58 2.4.3. Hệ thống pháp luật 59 2.4.4. Kiểm tra giám sát thực hiện công ước 61 2.4.5. Yếu tố kinh tế và trang thiết bị kỹ thuật 62 2.4.6. Hợp tác quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm biển từ tàu với các nước 64 2.4.7. Những yếu tố tích cực và hạn chế còn tồn tại trong quá trình thực hiện công ước 65 Kinh nghiệm xây dựng pháp luật và thực thi công ước về ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển của một số nước thành viên 69 2.5.1. Kinh nghiệm xây dựng pháp luật và thực thi công ước về phòng chống ô nhiễm dầu của Trung Quốc 69 2.5.2. Pháp luật về bảo vệ môi trường biển của Singapore 73 2.5. Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP 77 LUẬT VỀ NGĂN NGỪA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 3.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển 77 3.1.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật 77 3.1.2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển 81 3.1.3. Cơ chế tổ chức thực hiện 84 3.1.4. Kiểm tra, giám sát thực hiện pháp luật 85 3.1.5. Chính sách về con người 86 3.1.6. Hợp tác và thực hiện các công ước quốc tế liên quan đến ngăn ngừa ô nhiễm biển 86 Giải pháp nhằm nâng cao năng lực thực thi công ước quốc tế và ngăn ngừa ô nhiễm biển tại Việt Nam 87 3.2.1. Nâng cao năng lực thực thi công ước Marpol 73/78 và các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển tại Việt Nam 87 3.2.2. Đề xuất các giải pháp nhằm ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển 91 3.2. KẾT LUẬN 98 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 PHỤ LỤC 104 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BVMT : Bảo vệ môi trường ĐƯQT : Điều ước quốc tế IMO : Tổ chức Hàng hải Quốc tế ITOPF : Hiệp hội quốc tế về ô nhiễm của các chủ tàu chở dầu Marpol 73/78 : Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm biển từ tàu RT : Tấn đăng ký QCVN : Quy chuẩn Việt Nam TCN : Tiêu chuẩn ngành TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam Danh môc c¸c b¶ng Sè hiÖu Tªn b¶ng Trang b¶ng 1.1 Cơ cấu đội tàu biển Việt Nam theo số lượng 14 1.2 Thống kê tai nạn hàng hải tại Việt Nam năm 2009 15 2.1 Thống kê tàu Việt Nam bị lưu giữ ở cảng nước ngoài 63 2.2 Tổng hợp các khiếm khuyết của tàu biển Việt Nam từ 01/2006 - 06/200 63 Danh môc c¸c BIÓU §å Sè hiÖu Tªn biÓu ®å Trang Tỉ lệ các nguyên nhân gây ô nhiễm biển do tàu dầu 10 biÒu ®å 1.1 từ năm 1970-2009 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam với bờ biển dài hơn 3.260 km và vùng biển rộng hơn một triệu km2, cùng với hơn 3.000 đảo lớn nhỏ do vậy biển đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của đất nước nhưng chúng ta cũng đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường biển đặc biệt là ô nhiễm do dầu. Trong khi đó công tác ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển vẫn chưa được quan tâm đúng mức, nếu để xảy ra ô nhiễm thì thiệt hại vô cùng to lớn việc khắc phục hậu quả rất khó khăn đó là chưa kể chỉ một quốc gia nỗ lực là không đủ mà cần có sự phối hợp cùng nhau ngăn ngừa ô nhiễm biển của cả cộng đồng thế giới. Ô nhiễm môi trường biển do việc khai thác dầu khí trên biển, rò rỉ dầu từ dàn khoan cũng như các phương tiện vận chuyển và sự cố tràn dầu có xu hướng gia tăng cùng với sản lượng khai thác dầu khí trên biển gây ra các vệt dầu loang trên mặt biển làm ngăn cản quá trình hòa tan oxy từ không khí, cặn dầu lắng xuống đáy làm ô nhiễm trầm tích đáy biển, nồng độ dầu cao trong nước có tác động xấu tới hoạt động của các loài sinh vật biển. Ngoài ra hoạt động vận tải trên biển là một trong các nguyên nhân quan trọng gây ô nhiễm biển được tổ chức môi trường thế giới thì ước tính hàng năm có khoảng 2,4 triệu tấn dầu đổ ra biển, rò rỉ dầu, sự cố tràn dầu của các tàu thuyền trên biển thường chiếm 50% nguồn ô nhiễm dầu trên biển nên nói đến ô nhiễm biển từ hoạt động vận tải biển người ta thường nghĩ đến nguồn gây ô nhiễm biển do dầu. Điển hình như: Vụ dầu tràn không rõ nguồn gốc vào bờ biển miền Trung 02/2007 làm đen kịt các bãi biển du lịch trong đó đã vớt được 1.200 tấn dầu, thiệt hại nặng nhất là tỉnh Quảng Nam với trên 600 tấn, lượng dầu này đã tràn xuống tận Vũng Tàu - Côn Đảo; Ngày 02/10/2008, tàu New Oriental bị chìm ở vùng biển tỉnh Phú Yên đã thu gom được khoảng 3.400 lít dầu FO; 1 Ngày 17/06/2009 tàu Nhật Thuần bị nổ làm tràn gần 12.000 lít dầu ra khắp mặt biển Bà Rịa - Vũng Tàu; Ngày 27/04/2010 tàu Biển Đông 50 bị chìm tại biển Vũng Tàu làm dầu từ tàu chảy loang ra mặt biển, lúc xảy ra tai nạn, tàu này chở 377 tấn dầu DO. Để thực hiện được mục tiêu đảm bảo an toàn hàng hải và ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) đã xây dựng hàng loạt các Công ước có nội dung điều chỉnh hoạt động ngăn ngừa ô nhiễm biển trong đó có Công ước Marpol 73/78 về ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển từ tàu. Việc gia nhập và thực thi nghiêm chỉnh Công ước quốc tế là một hướng đi chung của hầu hết các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam để tạo khung pháp lý toàn diện cho việc ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển do tàu thuyền gây ra. Bên cạnh tham gia các điều ước quốc tế phải đi liền với việc thực thi có hiệu quả các điều ước, để phục vụ được mục tiêu phát triển đất nước, thể hiện được ý thức trách nhiệm của Việt Nam trước cộng đồng quốc tế đối với sự phát triển bền vững của môi trường toàn cầu. Nhưng hiện tại Việt Nam cũng như các nước đang phát triển khác đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức trong việc thực hiện các điều ước quốc tế về môi trường do trình độ khoa học kỹ thuật chưa phát triển, hệ thống pháp luật còn yếu kém, không tương thích để thực thi các điều ước quốc tế đã tham gia theo nguyên tắc Pacta sunt servanda. Thêm vào đó hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường (BVMT) tuy đã có nhiều tiến bộ, song đến nay vẫn còn tản mạn, chồng chéo, mâu thuẫn về chức năng, nhiệm vụ và khó áp dụng do đó hiệu quả ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển chưa cao. Còn thiếu các công trình nghiên cứu khoa học làm cơ sở thực tiễn, lý luận cho việc xây dựng một hệ thống các quy phạm về ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển do dầu; vai trò của pháp luật trong hoạt động ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển còn chưa được đề cao; chưa xây dựng được ý thức BVMT biển của cả cộng đồng; nhiều lĩnh vực, hoạt động gây ô nhiễm biển còn chưa được điều chỉnh. 2 Từ thực tế và những đòi hỏi này tác giả thấy rằng việc nghiên cứu kỹ lưỡng nội dung các quy phạm pháp luật trong nước cũng như các quy định của Công ước Marpol 73/78 là rất cần thiết tạo điều kiện, cơ sở thuận lợi cho việc thực thi Công ước và tăng hiệu quả ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển Việt Nam cũng như tạo cơ chế cho sự hợp tác chặt chẽ với các nước trong khu vực và trên thế giới. Do vậy tác giả đã lựa chọn đề tài "Pháp luật về ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển và việc thực thi công ước MARPOL 73/78 tại Việt Nam" làm luận văn tốt nghiệp Chương trình đào tạo Thạc sĩ luật học của mình. 2. Tình hình nghiên cứu Vấn đề ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển do dầu đã được nhiều đề tài nghiên cứu nhưng mới chỉ là những khái quát chung đối với những quy định của pháp luật trong nước và Công ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam đã tham gia trong lĩnh vực phòng ngừa, xử lý và khắc phục ô nhiễm biển do dầu như tác phẩm Bảo vệ môi trường biển - vấn đề và giải pháp của tiến sĩ Nguyễn Hồng Thao... Có thể nói đến nay vẫn chưa có nhiều tài liệu đề cập riêng đến hoạt động ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển do dầu từ tàu và công tác tổ chức thực hiện Công ước Marpol 73/78 tại Việt Nam từ khi Công ước này có hiệu lực. Vì vậy "Pháp luật về ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển và việc thực thi công ước MARPOL 73/78 tại Việt Nam" cần được đề cập và nghiên cứu sâu sắc, toàn diện hơn. 3. Mục đích nghiên cứu Góp phần làm sáng tỏ các cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật về ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển do dầu từ tàu; chỉ ra những hạn chế, thiết sót thông qua đó đề xuất những phương hướng, kiến nghị, giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao khả năng thực thi Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển tại Việt Nam. 3 3. Phạm vi nghiên cứu Với mục đích nói trên, phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ tập trung vào phân tích nội dung một số quy định chính của pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động ngăn ngừa ô nhiễm biển và nội dung cơ bản của Công ước Marpol 73/78 về ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển do dầu từ tàu qua đó đánh giá thực trạng và nêu ra một số giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và thực thi Công ước hiệu quả tại Việt Nam. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Tác giả luận văn sử dụng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng để tiến hành nghiên cứu, cùng các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp để nghiên cứu làm rõ các nội dung, đạt được mục đích của đề tài. 6. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Khái quát chung về ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển và công ước MARPOL 73/78. Chương 2: Pháp luật về ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển tại Việt Nam. Chương 3: Phương hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam hiện nay. 4 Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGĂN NGỪA Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG BIỂN VÀ CÔNG ƢỚC MARPOL 73/78 1.1. TỔNG QUAN VỀ Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG BIỂN 1.1.1. Một số khái niệm cơ bản Hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường biển đang là một trong những mối quan tâm hàng đầu của toàn thể cộng đồng thế giới bởi mức độ ô nhiễm biển ngày càng trầm trọng, phạm vi ô nhiễm ngày càng mở rộng trên toàn cầu do hoạt động của tàu thuyền và do nhiều nguồn ô nhiễm khác nhau gây ra. Với tính chất và hậu quả ngày càng nghiêm trọng của ô nhiễm môi trường biển đòi hỏi BVMT không chỉ trong phạm vi biên giới của mỗi quốc gia mà trở thành một vấn đề toàn cầu. Quan điểm "Bảo vệ môi trường để phát triển bền vững" [17, tr. 290] đã được cả cộng đồng thế giới thừa nhận, bởi cố gắng của quốc gia, thậm chí của cả khu vực là không đủ để đương đầu với các vấn đề môi trường trong đó có ô nhiễm môi trường biển. Môi trường biển: Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 thì: Môi trường biển bao gồm các tài nguyên sinh vật, hệ sinh thái biển và chất lượng nước biển, cảnh quan biển (Điều 1.4). Như vậy, "môi trường biển không chỉ bao gồm các vùng biển với các đặc trưng lý hóa của chúng mà còn cả tài nguyên sinh vật, vật lý và hóa học của vùng cửa sông, các vùng ngập mặn bao gồm cả trầm tích, các vùng thủy triều lên xuống, các vùng đầm lầy…" [16, tr. 13] và bầu khí quyển phía trên mặt biển. Ngoài ra, các hoạt động của con người cũng là một phần của môi trường biển vì chúng tác động trực tiếp làm thay đổi chất lượng của các vùng ven biển. Tại Nghị định 25/2009/NĐ-CP về quản lý tổng hợp tài nguyên và BVMT biển, hải đảo đã đưa ra định nghĩa: Môi trường biển là các yếu tố vật 5 lý, hóa học và sinh học đặc trưng cho nước biển, đất ven biển, trầm tích dưới biển, không khí trên mặt biển và các hệ sinh thái biển tồn tại một cách khách quan, ảnh hưởng đến con người và sinh vật (Điều 3.2). Ô nhiễm môi trường biển: Luật BVMT năm 2005 định nghĩa: "Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường" (Điều 3); Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 định nghĩa ô nhiễm môi trường biển là: Việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển, bao gồm cả các cửa sông, khi việc đó gây ra hoặc có thể gây ra những tác hại như gây tổn hại đến nguồn lợi sinh vật, và đến hệ động vật và thực vật biển, gây nguy hại cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, kể cả việc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác, làm biến đổi chất lượng biển về phương diện sử dụng nó và làm giảm sút các giá trị mỹ cảm của biển [24, Điều 1.4]. Từ các quy định của Công ước MARPOL 73/78 đối với các nguồn gây ô nhiễm môi trường biển từ tàu có thể đưa ra khái quát chung về ô nhiễm môi trường biển gồm việc thải từ tàu các chất có hại hoặc nước chứa các chất đó mà khi rơi xuống biển có khả năng tạo ra nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây thiệt hại cho các tài nguyên hữu sinh, cho thực vật và động vật biển, làm xấu đi những điều kiện nghỉ ngơi hoặc cản trở các hình thức sử dụng chính đáng về biển một cách có chủ tâm hoặc ngẫu nhiên không kể nguyên nhân và bao gồm cả sự rò rỉ, xả, đổ, tràn, bơm, tỏa hơi hoặc vét cạn (Điều 2). Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển: BVMT là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học (Điều 3 Luật BVMT). 6 Từ khái niệm trên cho thấy ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển là việc hạn chế, loại bỏ các nguồn, "giảm thiểu các khả năng, các tác động có khả năng gây ô nhiễm môi trường hoặc ngăn chặn sự lan truyền tổn hại môi trường từ vùng này sang vùng khác, chuyển từ trạng thái tổn hại này sang trạng thái tổn hại môi trường khác" [23, tr. 434] qua đó kiểm soát, chế ngự và hạn chế đến mức thấp nhất khả năng biển bị ô nhiễm. Trong các hoạt động BVMT thì nguyên tắc phòng ngừa là quan trọng nhất theo chủ trương "phòng hơn chống" do đó ngăn ngừa ô nhiễm được đặt lên hàng đầu so với khắc phục, xử lý ô nhiễm (Điều 4 Luật BVMT). 1.1.2. Các nguồn gây ô nhiễm môi trƣờng biển. Ô nhiễm môi trường biển xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau, từ đất liền đổ ra và từ các hoạt động sử dụng biển. Theo "thống kê của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) cho biết, các nguồn ô nhiễm biển đến từ: đất liền (50%), rò rỉ tự nhiên (11%), phóng xạ nguyên tử (13%), hoạt động của tàu thuyền (18%), khai thác dầu 2% và tai nạn tàu bè trên biển (6%)" [14, tr. 74]. Trong đó ước tính tỷ lệ ô nhiễm biển do dầu từ hoạt động hàng hải chiếm khoảng 48% do các tàu không có két chứa dầu bẩn, 35% do các sự cố đâm va và 13% do sự cố tràn dầu. Các nguồn ô nhiễm môi trường biển đã được Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) thống kê và được Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 quy định cụ thể tại các điều 207 - 212, bao gồm các nguồn ô nhiễm chủ yếu sau: - Ô nhiễm bắt nguồn từ đất liền kể cả các ô nhiễm xuất phát từ các dòng sông, ngòi, cửa sông, ống dẫn và các thiết bị thải đổ công nghiệp. - Ô nhiễm do các hoạt động liên quan đến đáy biển thuộc quyền tài phán của quốc gia ven biển, hay xuất phát từ các đảo nhân tạo, các công trình thiết bị thuộc quyền tài phán của họ. - Ô nhiễm do các hoạt động trong vùng lan truyền tới. 7 - Ô nhiễm do sự nhận chìm và trút bỏ chất thải. - Ô nhiễm do hoạt động của các loại tàu thuyền và tai nạn tàu thuyền trên biển. - Ô nhiễm có nguồn gốc từ bầu khí quyển hay qua bầu khí quyển [23, tr. 444]. Ô nhiễm biển từ đất liền: Các nguồn ô nhiễm từ đất liền theo sông ngòi mang ra biển như dầu và sản phẩm dầu, nước thải, phân bón nông nghiệp, thuốc trừ sâu, chất thải công nghiệp, chất thải phóng xạ và nhiều chất ô nhiễm khác. Hàng năm, các chất thải rắn đổ ra biển gồm đất, cát, rác thải, phế liệu xây dựng, chất phóng xạ. Một số chất thải loại này sẽ lắng tại vùng biển ven bờ. Một số chất khác bị phân hủy và lan truyền trong toàn khối nước biển. Ô nhiễm do hoạt động liên quan đến đáy biển, công trình thiết bị trên biển: Hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí, khoáng sản và tàng trữ chúng trên biển là nguồn gây ô nhiễm biển nghiêm trọng như các hiện tượng rò rỉ, phụt dầu, vỡ đường ống, vỡ bể chứa, sự cố tại các giàn khoan, cơ sở lọc dầu, do dung dịch khoan, bùn khoan và do các phương tiện vận chuyển, con người phục vụ cho việc khai thác dầu khí, khoáng sản trên biển gây ra. Ô nhiễm biển từ tàu: Theo Bộ luật hàng hải Việt Nam 2005 thì đưa ra định nghĩa: "Tàu biển là tàu hoặc cấu trúc nổi di động khác chuyên dùng hoạt động trên biển không bao gồm tàu quân sự, tàu công vụ và tàu cá" (Điều 11); Tàu là bất kỳ kiểu tàu nào hoạt động trong môi trường biển, kể cả tàu cánh ngầm, tàu đệm khí, tàu ngầm, phương tiện nổi, cũng như các công trình nổi cố định hoặc di động (Điều 2.4 Công ước Marpol). Ô nhiễm biển từ tàu là do hoạt động của tàu thải ra những chất gây ô nhiễm cho môi trường biển khi làm sạch các hầm hàng có chứa cặn dầu hay hóa chất độc hại hoặc tháo nước dằn bẩn (ballast) có chứa cặn dầu; do tai nạn đâm va, chìm đắm tàu làm cho toàn bộ lượng hàng hóa (dầu hay hóa chất độc 8 hại) bị chìm trong nước biển gây sự cố tràn dầu trên biển, ô nhiễm toàn bộ khu vực lân cận; do khâu giao nhận dầu nhiên liệu thiếu cẩn thận trong các khâu kỹ thuật, không tuân thủ những quy tắc kỹ thuật trong bốc dỡ hàng là dầu hoặc hóa chất độc hại. Xét riêng nguồn ô nhiễm từ tàu biển hiện nay rất đa dạng và phức tạp có thể do dầu (từ dầu sử dụng làm nhiên liệu, bôi trơn, thủy lực cho bản thân tàu, cho đến nạp nhiên liệu cho tàu, dầu hàng do tàu vận chuyển...); ô nhiễm do hóa chất lỏng chở xô trên tàu; ô nhiễm do các loại hàng nguy hiểm, các chất thải độc hại (chất nổ, chất phóng xạ, chất cháy, chất độc…) vận chuyển bằng tàu; ô nhiễm do rác thải; ô nhiễm do nước thải; ô nhiễm không khí (chất làm suy giảm tầng ôzôn, ô xít lưu huỳnh, ô xít nitơ, ô xít cacbon, hơi của hợp chất hữu cơ vận chuyển trên tàu, hoạt động của động cơ tàu, việc đốt các loại chất thải trên tàu); ô nhiễm do sơn chống hà sử dụng cho thân tàu; ô nhiễm do các vật liệu độc hại dùng để đóng tàu (amiăng, kim loại nặng, hóa chất); ô nhiễm do sự di chuyển của các loài thủy sinh vật thông qua nước dằn tàu; các bệnh truyền nhiễm lan truyền qua con đường hàng hải; ô nhiễm do hoạt động cắt phá tàu cũ. Tuy nhiên, trong các nguồn ô nhiễm này, ô nhiễm dầu do rò rỉ, sự cố tràn dầu của các tàu thuyền trên biển thường chiếm 50% nguồn ô nhiễm dầu trên biển. Ô nhiễm biển do dầu có nguồn gốc từ tàu biển lại xuất phát từ hai nguồn chủ yếu gồm: Ô nhiễm từ các vụ tai nạn tàu chiếm khoảng 15% và từ hoạt động của tàu chiếm khoảng 85% nguồn ô nhiễm từ tàu biển. Tỷ lệ ô nhiễm biển do dầu từ tàu biển trong các vụ tai nạn chiếm tỷ lệ nhỏ, nhưng là một nguồn ô nhiễm chứa đựng nguy hiểm cao, gây thiệt hại lớn và việc khắc phục hậu quả ô nhiễm gặp rất nhiều khó khăn do đó đòi hỏi phải có sự quan tâm đặc biệt và có những biện pháp kiểm soát nhất định. Vì vậy cộng đồng quốc tế đã nhận thức rõ, trong các nguyên nhân đe dọa làm ô nhiễm môi trường biển, ô nhiễm có nguồn gốc từ tàu biển và vấn đề phòng 9 chống nó được coi là khó khăn nhất, cần quan tâm, vì đây là nguồn ô nhiễm có thể nhận thấy rất rõ ràng. Biểu đồ 1.1: Tỉ lệ các nguyên nhân gây ô nhiễm biển do tàu dầu từ năm 1970-2009 3.5 5 2.6 26.7 30.7 2.6 3.1 21.1 4.6 Ho¹t ®éng kh¸c Ch¸y næ NhËn/Tr¶ dÇu Háng thiÕt bÞ Háng th©n tµu M¾c c¹n TiÕp cËn nhiªn liÖu §©m va Nguyªn nh©n kh¸c Nguồn: ITOPF. Ô nhiễm biển do nhận chìm và trút bỏ chất thải: Trước đây biển được coi là nơi chứa chất thải rộng lớn do vậy các quốc gia đã tiến hành đổ thải rất nhiều chất thải độc hại một cách có ý thức và không có ý thức một lượng lớn các chất thải độc hại như chất thải phóng xạ, chất thải công nghiệp, hoá chất bền vững như DDT… thậm chí nhiều quốc gia trên thế giới đã bí mật đổ, nhận chìm chất thải hạt nhân, hóa học ra biển. Ô nhiễm biển từ bầu khí quyển: Ô nhiễm không khí có tác động mạnh mẽ tới ô nhiễm biển. Nồng độ CO 2 cao trong không khí sẽ làm cho lượng CO2 hòa tan trong nước biển tăng. Nhiều chất độc hại và bụi kim loại nặng được không khí mang ra biển. Sự gia tăng nhiệt độ của khí quyển trái đất do hiệu ứng nhà kính sẽ kéo theo sự dâng cao mực nước biển và thay đổi môi trường sinh thái biển. Ô nhiễm biển từ tự nhiên: Bên cạnh các nguồn ô nhiễm nhân tạo trên, biển có thể bị ô nhiễm bởi các quá trình tự nhiên như núi lửa phun, tai biến bão lụt, sự cố rò rỉ dầu tự nhiên v.v... 10 1.1.3 Nguy cơ ô nhiễm môi trƣờng biển Việt Nam Việt Nam là một quốc gia biển, "có chiều dài bờ biển hơn 3.260 km và một vùng biển rộng hơn 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền" [15]. Hoạt động khai thác, sử dụng biển đã diễn ra trên nhiều lĩnh vực: nghề cá, khai thác dầu khí, du lịch biển và giao thông vận tải biển, là những hướng phát triển kinh tế biển của Việt Nam hiện nay. Bên cạnh những lợi ích kinh tế thu được từ việc khai thác biển Việt Nam cũng đang phải đối mặt với nguy cơ ô nhiễm môi trường biển gia tăng do những hoạt động gây ô nhiễm biển của con người có thể điểm ra do những nguyên nhân sau: phá hủy rừng, đặc biệt là rừng đầu nguồn làm tăng lượng phù sa đổ ra biển và tăng xói mòn bờ biển; xả chất thải công nghiệp vào sông ngòi; sử dụng hóa chất và thải chất nông nghiệp; xả nước thải vào cống rãnh đô thị ra sông; đổ chất thải rắn ra biển; quai đê lấn biển; phá rừng ngập mặn và đất ngập nước để nuôi tôm và trồng lúa; hoạt động giao thông vận tải thủy; phát triển và khai thác cảng; khai thác khoáng sản; thăm dò và khai thác dầu khí; nuôi trồng thủy sản; phát triển du lịch biển; đô thị hóa; đánh bắt hải sản... Tình trạng Ô nhiễm biển Việt Nam hiện nay là khá đa dạng với các nguồn ô nhiễm khác nhau như: Ô nhiễm do dầu mỏ và các sản phẩm của nó (vùng biển miền Trung); ô nhiễm bởi kim loại nặng từ các hoạt động công nghiệp ("tác nhân chính gây ô nhiễm là NH+4, kẽm, đồng và coliform tại Nha Trang, Cửa Lò, Sầm Sơn..." [9, tr. 30]); ô nhiễm bởi các hợp chất hữu cơ khó phân hủy, đặc biệt là các hợp chất clo hữu cơ như PCB, DDT, Dioxin... ô nhiễm bởi phóng xạ của các chất thải qua các nhà máy điện nguyên tử; ô nhiễm do hóa chất độc như sơn chống hà pha thiếc TBT cho các tàu biển; ô nhiễm bởi phú dưỡng gây hiện tượng thủy triều đỏ. 1.1.4. Ô nhiễm môi trƣờng biển do dầu Vùng biển nước ta cũng như khu vực biển Đông đang đứng trước nguy cơ ô nhiễm do dầu tràn, gây ô nhiễm môi trường bởi hoạt động khai 11 thác, chế biến và sử dụng sản phẩm dầu. Trong các tác nhân gây ô nhiễm thì sự nhiễm bẩn do dầu mỏ và các sản phẩm dầu đang được lưu tâm nhất. Nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm biển do dầu ở Việt Nam là từ đất liền, hoạt động hàng hải và khai thác dầu khí như dầu từ các con tàu gây ra trong các vụ tại nạn, đâm va, mắc cạn hoặc từ các sự cố rò rỉ dầu từ các dàn khoan, công trình trên biển. Điển hình là sự cố tràn dầu xảy ra tại Việt Nam như vụ tàu Neptune Aries đâm vào cầu cảng Cát Lái - Thành phố Hồ Chí Minh (tràn 1.864 tấn dầu DO); tàu Kasco Monrovia tại Cát Lái (tràn 518 tấn dầu DO); tàu Ðức Trí chở 1.700 tấn dầu FO đã bị chìm tại vùng biển Bình Thuận trong khi vào khu vực Mũi Né (Phan Thiết). Đa phần các sự cố tràn dầu là do tại nạn, đâm va của tàu dầu, trong đó: 56% số vụ < 700 tấn và 100% số vụ > 700 tấn (phụ lục 6). Ngoài các vụ ô nhiễm biển do dầu xác định được nguồn gốc, biển Việt Nam còn chịu tác động của ô nhiễm dầu chưa rõ nguồn gốc tại khu vực biển miền Trung và miền Nam. Từ năm 1987 đến năm 2008, có hơn 90 vụ tràn dầu, "đặc biệt trong hai năm 2006 và 2007 tại ven biển đã xảy ra một số sự cố tràn dầu nhất là từ tháng 1/2007 đến tháng 6/2007, có rất nhiều vệt dầu trôi dạt dọc bờ biển của 20 tỉnh từ đảo Bạch Long Vĩ xuống tới mũi Cà Mau" [5, tr. 225]. Ví dụ như 19/4/2007 dầu loang đổ bộ vào các bãi tắm ở trung tâm thành phố Nha trang- Khánh Hòa; Ngày 20-4-2007 tại khu vực biển Bình Sơn (Phan Rang - Tháp Chàm); "vụ tràn dầu ở biển Đà Nẵng, Quảng Nam vào ngày 31/01/2007 đã thu gom được gần 2.000 bao dầu (mỗi bao khoảng 50-70kg), tuy nhiên dầu FO vẫn vón thành từng cục lớn theo sóng biển tiếp tục tấp vào bờ, tính đến ngày 07/02/2007 đã có 24 huyện thị, 57 xã phường thị trấn ven biển miền Trung của sáu tỉnh từ Thừa Thiên - Huế đến Bình Định bị ô nhiễm nghiêm trọng do dầu tràn vào bờ. Tổng lượng dầu thô được thu gom ước tính 1.172 tấn dầu được các địa phương thu gom trên biển. Trong đó, Quảng Nam bị nặng nhất với lượng dầu thu gom 660 tấn" [21]. 12
- Xem thêm -