Pháp luật về hộ kinh doanh ở việt nam

  • Số trang: 78 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 30 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT HOÀNG MINH SƠN PHÁP LUẬT VỀ HỘ KINH DOANH Ở VIỆT NAM Chuyên ngành : Luật kinh tế Mã số : 60 38 50 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. Ngô Huy Cương HÀ NỘI - 2012 2 MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘ KINH DOANH 7 1.1. Khái lược lịch sử phát triển của hộ kinh doanh 7 1.2. Khái niệm và bản chất pháp lý của hộ kinh doanh theo pháp luật Việt Nam hiện nay 15 1.3. Đặc điểm pháp lý của hộ kinh doanh 20 1.3.1. Hộ kinh doanh không phải là pháp nhân 20 1.3.2. Hộ kinh doanh là hình thức kinh doanh quy mô rất nhỏ 22 1.3.3. Chủ hộ kinh doanh chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của hộ kinh doanh 23 1.4. Vai trò của hộ kinh doanh trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam 25 Chương 2: 30 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỘ KINH DOANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1. Những nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về hộ kinh doanh 30 2.1.1. Quy định về đăng ký, thành lập hộ kinh doanh 30 2.1.2. Quy định về quyền và nghĩa vụ của hộ kinh doanh 32 2.1.3. Quy định về chấm dứt hộ kinh doanh 36 2.2. Những bất cập của pháp luật về hộ kinh doanh ở Việt Nam hiện nay 37 3 2.2.1. Bất cập về cách nhận diện hộ kinh doanh 37 2.2.2. Bất cập về việc thành lập, đăng ký hộ kinh doanh 43 2.2.3. Bất cập về vốn - tài chính đối với hộ kinh doanh 47 2.2.4. Bất cập về thuế đối với hộ kinh doanh 53 Chương 3: 59 HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỘ KINH DOANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 3.1. Định hướng phát triển 59 3.2. Các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hộ kinh doanh trong giai đoạn hiện nay 60 3.2.1. Giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật 60 3.2.2. Tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh 63 3.2.3. Một số giải pháp cụ thể khuyến khích, trợ giúp các hộ kinh doanh 65 3.2.3.1. Hoàn thiện hệ thống chính sách khuyến khích đầu tư đỗi với 65 hộ kinh doanh 3.2.3.2. Giải pháp về vốn - tài chính 66 3.2.3.3. Giải pháp về thuế 67 3.2.3.4. Giải pháp về thị trường và chính sách về lao động 69 KẾT LUẬN 71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73 4 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vấn đề phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần được đặt ra như một tất yếu đối với nền kinh tế Việt Nam. Kinh tế tư bản tư nhân (trong đó có hộ kinh doanh) là một bộ phận trong cơ cấu ấy đã có một thời kỳ bị coi là đối lập với kinh tế xã hội chủ nghĩa, vì vậy phải nằm trong diện cải tạo xóa bỏ. Song thực tiễn đã chứng minh quan niệm như vậy là cực đoan và sự xuất hiện của kinh tế tư bản tư nhân đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển lớn mạnh của nền kinh tế nước nhà. Đường lối đổi mới kinh tế do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng công sản Việt Nam đề ra được hoàn thiện và phát triển, Đảng và Nhà nước ta khẳng định chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Nghị quyết Đại hội VI của Đảng đưa ra giải pháp: "Khuyến khích phát triển kinh tế gia đình. Sử dụng khả năng tích cực của kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa, đồng thời vận dụng và tổ chức những người lao động cá thể vào các hình thức làm ăn tập thể để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh; sắp xếp, cải tạo và sử dụng tiểu thương, giúp đỡ những người không cần thiết trong lĩnh vực lưu thông chuyển sang sản xuất và dịch vụ. Sử dụng kinh tế tư bản tư nhân trong một số ngành, nghề, đi đôi với cải tạo họ từng bước bằng nhiều hình thức tư bản nhà nước, xóa bỏ thương nghiệp tư bản tư nhân. Mở rộng nhiều hình thức liên kết giữa các thành phần kinh tế theo nguyên tắc cùng có lợi, bình đẳng trước pháp luật". Tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) thống nhất quan điểm chỉ đạo phát triển kinh tế hộ kinh doanh "Các hộ kinh doanh cá thể được Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ để phát triển cả ở nông thôn và thành thị; khuyến khích các hộ liên kết hình 5 thành các hình thức tổ chức hợp tác tự nguyện, làm vệ tinh cho doanh nghiệp hoặc phát triển lớn hơn" [23]. Thực hiện đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, được sự đồng tình hưởng ứng tích cực của nhân dân, hộ kinh doanh đã phát triển rộng khắp trong cả nước; đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế, huy động các nguồn lực xã hội vào sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, tăng ngân sách nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước. Cùng với các loại hình kinh doanh khác, sự phát triển của hộ kinh doanh đã góp phần giải phóng lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng thêm số lượng công nhân, lao động và doanh nhân Việt Nam, thực hiện các chủ trương xã hội hóa y tế, văn hóa, giáo dục... Nhờ vậy, trong những năm vừa qua, bộ phận kinh tế này ở nước ta đã phát triển nhanh chóng và ngày càng khẳng định là một bộ phận không thể thiếu được của nền kinh tế quốc dân. Theo số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và đầu tư tính đến giữa năm 2010, cả nước đã có trên 4,1 triệu hộ kinh doanh, tạo việc làm cho hơn 7,6 triệu lao động và đóng góp khoảng 20% GDP cả nước. Do đó, kinh tế hộ kinh doanh đã góp phần quan trọng vào việc xóa đói giảm nghèo, ổn định và nâng cao đời sống nhân dân. Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động của các hộ kinh doanh của Việt Nam hiện nay chưa phát huy được hết các tiềm năng của mình, còn gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh như: quy mô nhỏ bé, phân tán, manh mún, vốn ít, công nghệ lạc hậu, trình độ tay nghề của người lao động thấp, sức cạnh của hàng hóa thấp... Khó khăn này một phần do chủ thể này chưa có kinh nghiệm hoạt động trong nền kinh tế thị trường, chưa đủ năng động, sáng tạo trong kinh doanh. Mặt khác, cũng còn do chưa có một khung chính sách thật 6 rõ ràng và ổn định từ phía Nhà nước nhằm đưa ra những biện pháp hữu hiệu tạo điều kiện cho các hộ gia đình phát huy hết khả năng của mình cho sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước. Việc xác định vị trí, vai trò, các quyền và nghĩa vụ của hộ kinh doanh sao cho phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội, cũng như yêu cầu của công cuộc đổi mới mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra, bảo đảm cho các hộ kinh doanh phát huy được vai trò của mình trong cơ chế chủ động, tự chủ sản xuất kinh doanh, bình đẳng trước pháp luật, góp phần quan trọng vào sự phát triển nền kinh tế đất nước, giải quyết tốt các vấn đề xã hội đặt ra. Vấn đề đặt ra là tìm giải pháp điều chỉnh pháp lý về tổ chức và hoạt động của hộ kinh doanh như thế nào cho phù hợp với những điều kiện của nền kinh tế thị trường mới được xác lập ở nước ta. Đây cũng là một trong những vấn đề cần được nghiên cứu và làm sáng tỏ. Xuất phát từ thực tế này, đề tài nghiên cứu "Pháp luật về hộ kinh doanh ở Việt Nam" được người viết lựa chọn làm luận văn thạc sĩ Luật học. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Cho đến nay, ở Việt Nam cũng đã có các công trình khoa học nghiên cứu về hộ kinh doanh nhưng phần lớn tiếp cận vấn đề này ở những mức độ khía cạnh, pháp lý kinh tế khác nhau. Qua nghiên cứu chúng tôi thấy rằng sự quan tâm và nghiên cứu của các nhà khoa học pháp lý thể hiện ở những mức độ khác nhau: Thứ nhất: Ở các trung tâm, trường Đại học đào tạo cử nhân luật trong chương trình đào tạo của mình vấn đề hộ kinh doanh là một bộ phận nằm trong quá trình giảng dạy về luật kinh tế và quản lý kinh tế mặc dù mức độ nghiên cứu chưa sâu. Chúng ta có thể tìm thấy một số vấn đề về hộ kinh doanh trong Giáo trình Luật thương mại, của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2006; Giáo trình Luật kinh tế, của Khoa Luật 7 Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2001; Chuyên khảo Một số quy định mới về hộ kinh doanh nhỏ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003. Hay các bài viết được công bố trên các tạp chí chuyên ngành pháp lý, nổi bật như bài viết: Phân tích pháp luật về hộ kinh doanh để tìm ra các bất cập, của TS. Ngô Huy Cương, Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, số 25 (2009)... Thứ hai: Trong những năm qua một số cơ quan nghiên cứu về kinh tế đã có một số cuộc điều tra về thực trạng và tình hình phát triển của hộ kinh doanh như: Kết quả điều tra cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể phi nông năm 2010 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Kết quả điều tra, khảo sát tình hình phát triển của hộ kinh doanh tại tỉnh Bắc Ninh và Vĩnh Phúc năm 2011 của Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (Ipsard) thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Như vậy, với nhiều mức độ và cách tiếp cận khác nhau, các công trình nghiên cứu nếu trên đã đi sâu phân tích những đặc điểm, bản chất và vai trò của hộ kinh doanh trong nền kinh tế - xã hội ở nước ta. Song, cho đến nay chưa có nhiều nhà khoa học đi sâu nghiên cứu và trình bày một cách có hệ thống về pháp luật vê hộ kinh doanh ở Việt Nam. Vì vậy, trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các công trình khoa học đã được công bố, người viết hy vọng góp phần làm sáng tỏ hơn vấn đề pháp lý của hộ kinh doanh ở Việt Nam, qua đó tìm ra những bất cập trong các quy định của pháp luật hiện hành, đồng thời đưa ra các giải pháp hoàn thiện và thúc đẩy sự phát triển của hộ kinh doanh trong quá trình hội nhập. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ cơ sở lý luận, các quy định của pháp luật thực định về hộ kinh doanh ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay từ đó đề ra các giải pháp để hoàn thiện hệ thống pháp luật về hộ kinh doanh. 8 Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là: Thứ nhất: Nghiên cứu những vấn đề lý luận về hộ kinh doanh trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xác hội chủ nghĩa ở nước ta. Thứ hai: Nghiên cứu, phân tích các vấn đề pháp lý hiện hành điều chỉnh hoạt động hộ kinh doanh để tìm ra những bất cập. Thứ ba: Từ đó đề xuất những phương hướng, giải pháp cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về hộ kinh doanh ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay ở nước ta. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Trong khuôn khổ một bản luận văn thạc sĩ với một đề tài mới, với khả năng nghiên cứu và nguồn tài liệu tham khảo còn hạn chế, công trình nghiên cứu này chưa thể bao quát hết các vấn đề pháp lý về hoạt động của hộ kinh doanh mà chỉ dừng lại ở những tiếp cận về những vấn đề pháp lý cơ bản của hộ kinh doanh ở Việt Nam 5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp luận để nghiên cứu đề tài này là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp song song với các phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh. Phương pháp phân tích được dùng để làm rõ khái niệm hộ kinh doanh, bản chất và những đặc điểm của hộ kinh doanh, làm rõ những điều chỉnh của pháp luật Việt Nam về hoạt động của hộ kinh doanh. Phương pháp so sánh, tác giả xem xét, đối chiếu các quy định của pháp luật đối với hộ kinh doanh và các loại hình doanh nghiệp khác như doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty hợp danh từ đó làm nổi bật lên vị trí, vai trò của hộ kinh doanh 9 Phương pháp lịch sử được sử dụng để xem xét quá trình hình thành và phát triển của hộ kinh doanh ở Việt Nam và quá trình hoàn thiện pháp luật của hộ kinh doanh ở Việt Nam. Phương pháp hệ thống được sử dụng nhằm mục đích đánh giá thực trạng về địa vị pháp lý của hộ kinh doanh ở Việt Nam để tìm ra những bất cập. Phương pháp tổng hợp được sử dụng để khái quát hóa nhằm đưa ra những đề xuất, kiến nghị của luận văn. 6. Tính mới và những đóng góp của đề tài Đây là công trình chuyên khảo nghiên cứu một cách có hệ thống pháp luật về hộ kinh doanh trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học. Luận văn đề cập một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn của quá trình hình thành và phát triển của hộ kinh doanh; về vị trí, vai trò của hộ kinh doanh trong nền kinh tế thị trường ở nước ta. Phân tích những quy định của pháp luật điều chỉnh hoạt động của hộ kinh doanh để tìm ra những bất cập và đề ra những giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về hộ kinh doanh ở Việt Nam. Với những đóng góp của luận văn có thể được xem làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu giảng dạy, học tập trong các cơ sở đào tạo Luật kinh tế và quản lý nhà nước. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận về hộ kinh doanh. Chương 2: Thực trạng pháp luật về hộ kinh doanh ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về hộ kinh doanh ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. 10 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘ KINH DOANH 1.1. KHÁI LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA HỘ KINH DOANH Trong hoạt động thương mại, những cá nhân đều mong muốn tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc mua bán, trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ. Cá nhân tham gia hoạt động này phải có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi để thực hiện hoạt động thương mại, đồng thời tự mình gánh chịu những trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về hoạt động thương mại đó. Điều đó có nghĩa là các cá nhân kinh doanh phải chịu trách nhiệm vô hạn về mọi nghĩa vụ phát sinh từ hoạt động thương mại. Cá nhân kinh doanh thường được gọi là thương nhân đơn lẻ hay doanh nghiệp cá thể. Vể mặt học thuật người ta thường gọi đó là thương nhân thể nhân để phân biệt với các công ty mà thường được gọi là thương nhân pháp nhân. Pháp luật thương mại của nhiều quốc gia trên thế giới chỉ thừa nhận thương nhân thể nhân (cá nhân) và thương nhân pháp nhân. Tuy nhiên, con đường hình thành các thương nhân thể nhân ở Việt Nam có những đặc trưng riêng biệt. Trong các triều đại phong kiến Việt Nam pháp luật thương mại hầu như không được biết đến. Điều đó có thể lý giải, là vì nền thương mại Việt Nam lúc bấy giờ còn kém cỏi, chưa có gì phát triển đáng kể. Do vậy, các hình thức kinh doanh có lẽ không được chú ý. Có chăng trong quan hệ buôn bán, hộ gia đình là thành phần lấn át. Phải đến thời kỳ thuộc Pháp, năm 1864 người pháp đem Bộ luật thương mại của mình áp dụng vào Nam Kỳ và năm 1888 áp dụng vào Bắc Kỳ. Giai đoạn này có xuất hiện những thương nhân đơn lẻ, chủ yếu được hình thành, hoạt động theo quy định, chế định của luật thương mại Pháp. 11 Thời kỳ đất nước bị chia cắt hai miền với hai chế độ kinh tế, chính trị, văn hóa khác nhau. Ở miền Nam chính quyền Sài Gòn tiếp tục kế thừa pháp luật thương mại thời Pháp thuộc đồng thời ban hành một loạt các văn bản pháp luật thương mại mới mà đỉnh cao của nó là Bộ luật thương mại năm 1972, theo Bộ luật thương mại Việt Nam Cộng hòa năm 1972: "Thương gia là những người làm hành vi thương mại cho chính mình và lấy hành vi ấy làm nghề nghiệp thường xuyên của mình" [39, Điều 1]. Ở miền Bắc tiếp tục công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa với các thành phần kinh tế ngoại quốc doanh đó là kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư doanh, với mục đích biến nền kinh tế nhiều thành phần thành nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Cải tạo đối với các hộ cá thể trong các ngành công nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng… Đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh phải nhanh chóng xóa bỏ thành phần kinh tế này và áp dụng hình thức công tư hợp doanh. Khi xây dựng nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp, với chế độ công hữu hóa tư liệu sản xuất, tầng lớp thương nhân mới nhen nhóm đã bị xóa bỏ. Một số ít cá nhân kinh doanh vẫn tồn tại tuy nhiên chỉ là những người buôn bán những mặt hàng đơn giản, chạy chợ, bán hàng rong, và một số hộ kinh doanh nhỏ lẻ ở một số ngành nghề liên quan tới tiêu dùng hoặc những thành phần đang trong quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa. Các biện pháp thực hiện cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh để xây dựng nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp có nhiều hạn chế do chủ quan, nóng vội, chưa đảm bảo các nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ. Chúng ta đã phạm phải một sai lầm là thủ tiêu quyền tài sản cá nhân của mỗi công dân. Từ đó đồng thời là thủ tiêu động lực sản xuất, kinh doanh và sáng tạo của các cá nhân. Nghị quyết Đại hội VI của Đảng chỉ rõ: 12 Trên thực tế đã chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa trong khi chưa có đủ tiền đề cần thiết; vừa nóng vội vừa buông lỏng trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa; chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế không còn phù hợp. Chưa kiên quyết khắc phục chủ quan nóng vội và bảo thủ trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế, lại phạm những sai lầm mới, nghiêm trọng trong lĩnh vực phân phối lưu thông [20]. Sai lầm này làm cho nền kinh tế nước nhà bị suy yếu, sản xuất tăng chậm; hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp; phân phối, lưu thông có nhiều rối ren, đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn. Trước những thách thức đó, Đảng ta đã phân tích nguyên nhân, nghiêm túc kiểm điểm và xây dựng đường lối, chính sách để khắc phục. Nghị quyết Đại hội VI của Đảng đưa ra giải pháp: Khuyến khích phát triển kinh tế gia đình. Sử dụng khả năng tích cực của kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa, đồng thời vận dụng và tổ chức những người lao động cá thể vào các hình thức làm ăn tập thể để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh; sắp xếp, cải tạo và sử dụng tiểu thương, giúp đỡ những người không cần thiết trong lĩnh vực lưu thông chuyển sang sản xuất và dịch vụ. Sử dụng kinh tế tư bản tư nhân (tư sản nhỏ) trong một số ngành, nghề, đi đôi với cải tạo họ từng bước bằng nhiều hình thức tư bản nhà nước, xóa bỏ thương nghiệp tư bản tư nhân. Mở rộng nhiều hình thức liên kết giữa các thành phần kinh tế theo nguyên tắc cùng có lợi, bình đẳng trước pháp luật [20]. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI cũng đưa ra các biện pháp nhằm giải quyết vấn đề về phân phối, lưu thông: giải phóng năng lực sản xuất; tập trung sức bảo đảm vật tư và cải tiến các chính sách cụ thể để đẩy mạnh sản xuất những mặt hàng thiết yếu; để tăng nhanh khối lượng hàng hóa 13 lưu thông, phải mở rộng giao lưu hàng hóa, bãi bỏ các biện pháp cấm đoán, chia cắt thị trường theo địa giới hành chính. Để giải quyết những vấn đề cấp bách về phân phối, lưu thông, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2 (khóa VI) nhận định: Phân phối lưu thông vẫn đang là mặt trận nóng bỏng của nền kinh tế. Phương hướng vừa cơ bản vừa cấp bách để giải quyết tình hình này là xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, chuyển hẳn hoạt động của nền kinh tế sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, làm cho toàn bộ hệ thống sản xuất, lưu thông hoạt động theo quy luật khách quan, tăng nhanh sản phẩm xã hội. Chính thực trạng phân phối, lưu thông nói trên đang gây khó khăn cho việc thực hiện hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa và cản trở sản xuất phát triển [24]. Và đề ra các biện pháp chỉ đạo: Thể chế hóa và cụ thể hóa chính sách đối với kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư nhân theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI của Đảng để mọi người yên tâm bỏ vốn sản xuất, kinh doanh. Theo hướng dẫn của Trung ương, các tỉnh, thành phố quy định những ngành nghề và phạm vi hoạt động của các thành phần kinh tế nói trên. Khuyến khích các hình thức hùn vốn, hợp tác, làm ăn tập thể từ thấp đến cao và các hình thức liên kết với các thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa... Soát xét lại các chính sách kinh tế, xã hội đối với kinh tế tập thể, cá thể, tư bản tư nhân, xóa bỏ mọi định kiến hẹp hòi và những quy định mang tính chất phân biệt đối xử không hợp lý [24]. Trong bối cảnh đó, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 27- HĐBT ngày 9/3/1988, ban hành bản quy định về chính sách đối với kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp xây 14 dựng, vận tải. Tại lời nói đầu của nghị định đã chỉ rõ mục đích của việc ban hành nghị định này là: Để thể chế hóa các chủ trương mới đã nêu trong Nghị quyết Đại lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng đối với kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp, xây dựng, vận tải; để giải phóng mọi lực lượng sản xuất, phát huy khả năng của mọi thành phần kinh tế, huy động khả năng của nhân dân phát triển sản xuất hàng hóa và dịch vụ sản xuất phục vụ đời sống và phục vụ xuất khẩu; để phát triển kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh, kết hợp chặt chẽ kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh với kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Tại Điều 1 của Bản quy định ban hành kèm theo Nghị định 27-HĐBT ngày 9 tháng 3 năm 1988 khẳng định: (1) Nhà nước công nhận sự tồn tại và các tác dụng tích cực lâu dài của các thành phần kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh; (2) Nhà nước tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế này hoạt động và phát triển trong các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp, xây dựng, vận tải với quy mô, ngành nghề thích hợp; (3) Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu, quyền thừa kế tài sản và thu nhập hợp pháp của các đơn vị kinh tế và của công dân thuộc thành phần kinh tế này; (4) Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân của các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế này trong xã hội. Việc tạo lập một hành lang pháp lý để cho các chủ thể tham gia vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận là cần thiết, và những chủ thể nào được tham gia sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp xây dựng, vận tải. Điều 2 của Bản quy định này cũng chỉ rõ: Các đơn vị kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh là các đơn vị kinh tế tự quản như có tư liệu sản xuất và các vốn khác, tự quyết định mọi vấn đề sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về thu nhập, lỗ lãi. Mọi công dân Việt Nam ngoại trừ những người là cán bộ công nhân viên chức nhà nước tại chức hoặc xã viên hợp tác xã nếu có vốn, 15 có tư liệu sản xuất, có kỹ thuật, chuyên môn, sức lao động, đều có quyền đứng ra tổ chức sản xuất kinh doanh ở các đơn vị kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh. Các đơn vị kinh tế này được tổ chức hoạt động theo nhiều hình thức như: (1) hộ cá thể; (2) hộ tiểu công nghiệp; và (3) xí nghiệp tư doanh. Từ các hình thức này dần dần hình thành hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân và các công ty ngày nay ở Việt Nam. Hộ cá thể, theo Bản quy định này, có các điều kiện như sau: (i) Tư liệu sản xuất và các vốn khác thuộc quyền sở hữu của người đứng tên đăng ký kinh doanh; (ii) chủ đăng ký kinh doanh phải là người lao động trực tiếp. Những người lao động khác phải là bố mẹ, vợ chồng, các con và nếu là người thân thì phải có tên trong sổ đăng ký hộ khẩu của người chủ đăng ký kinh doanh; (iiii) thu nhập sau khi đóng thuế thuộc quyền sở hữu của chủ hộ [28, Điều 2]. Tuy nhiên, hộ cá thể là một hình thức của kinh tế tư nhân khác với hình thức kinh tế gia đình. Theo Nghị quyết của Bộ Chính trị số 16-NQ/TW ngày 15/7/1988: "Kinh tế gia đình là kinh tế do công nhân viên chức nhà nước, thành viên xí nghiệp quốc doanh, xí nghiệp tập thể và công nhân viên chức xí nghiệp tư nhân cũng như những người ngoài tuổi lao động cùng với gia đình mình làm thêm bằng cách nhận gia công cho các xí nghiệp hoặc làm các dịch vụ" [21]. Hộ tiểu công nghiệp, theo Bản quy định này, khác hộ cá thể ở chỗ: (1) Là các công xưởng hay các cửa hàng; (2) được thuê mướn lao động theo hợp đồng giữa chủ và người làm thuê; và (3) chủ hộ có thể là người đóng vai trò chính về kỹ thuật sản xuất và tự điều hành sản xuất kinh doanh (Điều 2). Bản chất của hộ tiểu công nghiệp cũng là cá nhân kinh doanh hay thương nhân thể nhân, nhưng có sản nghiệp thương mại hay cơ sở kinh doanh. Xí nghiệp tư doanh, theo Bản quy định này, là các tổ chức sản xuất kinh doanh cùng tính chất như công ty tư doanh, công ty cổ phần, tổ hợp tư doanh. 16 Xí nghiệp tư doanh có thể có một chủ sở hữu hoặc nhiều chủ sở hữu được gọi chung là "chủ xí nghiệp". Như vậy, có thể hiểu hộ cá thể chính là cá nhân kinh doanh hay thương nhân thể nhân tiến hành hoạt động kinh doanh cho chính mình. Dấu ấn gia đình Việt Nam và dấu ấn quan niệm về các thành phần kinh tế trong cơ chế cũ vẫn còn đó. Và thậm chí cho đến ngày nay, người ta vẫn gọi cá nhân kinh doanh là "hộ kinh doanh" [18]. Khi đường lối đổi mới được thực thi, bằng sự nỗ lực chủ quan của Nhà nước, tầng lớp thương nhân dần dà được hồi sinh mà trong đó trước tiên là các cá nhân kinh doanh hay thương nhân thể nhân. Vì vậy, các thương nhân ở Việt Nam hiện nay (kể cả thương nhân thể nhân và thương nhân pháp nhân) mang đậm dấu tích của sự nỗ lực chủ quan của Nhà nước, khác phần nào đó với các thương nhân được hình thành một cách tự nhiên, bình thường ở các nước có truyền thống kinh tế thị trường mà chỉ bị nhà nước kiểm soát. Vì vậy, qua việc nghiên cứu về sự phát triển khái niệm "hộ kinh doanh" ở Việt Nam phần nào giúp chúng ta hiểu biết rõ hơn về thương nhân ở Việt Nam. Tiếp đó, ngày 3/02/1992, Hội đồng Bộ trưởng tiếp tục ban hành Nghị định số 66/HĐBT về cá nhân và nhóm kinh doanh có mức vốn thấp hơn vốn pháp định được quy định tại Nghị định số 221-HĐBT ngày 23/7/1991 (hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990). Theo tinh thần của Nghị định 66/HĐBT thì người kinh doanh có mức vốn thấp hơn vốn pháp định được quy định cho loại hình doanh nghiệp tư nhân bao gồm: (1) cá nhân kinh doanh, là người bỏ vốn kinh doanh và làm chủ, thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi; (2) nhóm kinh doanh, nhóm kinh doanh có ít nhất 2 người trở lên, tự nguyện hùn vốn kỹ thuật cùng nhau tiến hành hoạt động kinh doanh, cùng hưởng lãi, cùng chịu lỗ và cùng chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của nhóm. Thực ra, cá 17 nhân và nhóm kinh doanh được quy định tại nghị định này về bản chất giống với hình thức "hộ kinh doanh" nhưng theo tên gọi tại Nghị định 66/HĐBT thì cá nhân và nhóm kinh doanh được gọi là "người kinh doanh". Sau Nghị định 66/HĐBT, Chính phủ ban hành thêm 02 Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 3/2/2000 và Nghị định 109/2004/NĐ-CP ngày 2/4/2004 về đăng ký kinh doanh. Tên gọi "hộ kinh doanh" được hai nghị định này đổi thành "hộ kinh doanh cá thể". Theo quy định tại Điều 17 của Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 3/02/2000 thì hộ kinh doanh cá thể được định nghĩa: "Hộ kinh doanh cá thể do một cá nhân hoặc một hộ gia đình làm chủ, kinh doanh tại một điểm cố định, không thường xuyên thuê lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh" [7], và tại Điều 24 của Nghị định số 109/2004/NĐ-CP ngày 02/4/2004: "Hộ kinh doanh cá thể do một cá nhân hoặc hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh" [9]. Theo định nghĩa trên thì hộ kinh doanh cá thể được quy định tại hai nghị định này bao gồm: (1) Một cá nhân làm chủ; hoặc (2) hộ gia đình làm chủ. Như vậy, tên gọi hộ kinh doanh qua các nghị định viện dẫn nêu trên đã có nhiều thay đổi, từ tên gọi "hộ cá thể", và "hộ tiểu công nghiệp" được quy định tại Nghị định 27/HĐBT ngày 9/3/1988 đến "người kinh doanh" tại Nghị định 66/HĐBT ngày 2/3/1992 và tại các nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 3/2/2000 và Nghị định 109/2004/NĐ-CP ngày 2/4/2004 được đổi thành "hộ kinh doanh cá thể". Các đặc trưng của chủ thể hộ kinh doanh cũng thay đổi theo từng khái niệm, từ chỗ những người lao động khác của "hộ cá thể" theo nghị định 27/HĐBT phải là bố mẹ, vợ chồng, các con và nếu là người thân thì phải có tên trong sổ đăng ký hộ khẩu của người chủ đăng ký kinh doanh, thì theo Nghị định số 109/2004/NĐ-CP ngày 2/4/2004 "hộ kinh doanh cá thể" sử 18 dụng không quá mười lao động. Điều đó có nghĩa hộ kính doanh cá thế có quyền thuê mướn lao động để phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình. Hoặc theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 3/2/2000 và Nghị định số 109/2004/NĐ-CP ngày 2/4/2004 thì hộ kinh doanh cá thể không bao gồm nhóm kinh doanh như đã được quy định tại Nghị định 66/HĐBT. Ngày 29/8/2006, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 88/2006/NĐ-CP về đăng ký kinh doanh trong đó có quy định về hộ kinh doanh, tuy nhiên ngày 15/4/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/2010/NĐ-CP để thay thế. Hiện nay hộ kinh doanh được điều chỉnh bởi Nghị định này, và khái niệm hộ kinh doanh được quy định tại hai nghị định này không có gì thay đổi. 1.2. KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT PHÁP LÝ CỦA HỘ KINH DOANH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY Hiện nay khó có thể đưa ra một định nghĩa thỏa đáng về hộ kinh doanh, và khó có thể nói hộ kinh doanh doanh mang bản chất là cá nhân kinh doanh, thương nhân đơn lẻ hay thương nhân thể nhân. Theo quy định tại Nghị định 43/2010/NĐ-CP thì hộ kinh doanh được định nghĩa: Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh [17, Điều 36]. Định nghĩa trên về "hộ kinh doanh" cho thấy hộ kinh doanh được chia thành ba loại căn cứ vào chủ tạo lập ra nó: (1) Hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ; (2) hộ kinh doanh do hộ gia đình làm chủ; và (3) hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ. 19 - Về hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ: Cá nhân kinh doanh ở đây được hiểu là từng người cụ thể, là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì được quyền thành lập hộ kinh doanh. Trong hoạt động kinh doanh cá nhân này phải nhân danh mình và tự chịu trách nhiệm về các hành vi thương mại của mình. Về bản chất, hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ là một thương nhân thể nhân. - Về hộ kinh doanh do "hộ gia đình làm chủ": Đây là một chủ thể kinh doanh "rất riêng" của Việt Nam, bởi vì đa phần các quốc gia trên thế giới không thừa nhận hộ gia đình là một thực thể được tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh giống như một thương nhân, hoặc một công ty. Việc quy định "hộ gia đình" được kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh như trên vừa nói có lẽ xuất phát từ việc Bộ luật Dân sự năm 1995 và Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định "hộ gia đình" là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự. Điều 106 Bộ luật Dân sự năm 2005 định nghĩa: Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất, nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này [34]. Từ việc quy định hộ kinh doanh do một hộ gia đình làm chủ làm nảy sinh nhiều khía cạnh pháp lý về chủ thể này mà chúng ta cần nghiên cứu để làm sáng tỏ. Hộ gia đình là một chủ thể đặc biệt của pháp luật Việt Nam vì hộ gia đình không phải là cá nhân và cũng không phải là pháp nhân mà tập hợp các thành viên có tài sản chung. Do đó hộ kinh doanh không hoàn toàn là thương nhân thể nhân. Nhưng trước đây, hộ cá thể và hộ tiểu công nghiệp (hình thức đầu tiên của hộ hộ kinh doanh), theo Nghị định số 27-HĐBT ngày 9/3/1988, là thương nhân thể nhân. 20 Theo pháp luật hiện hành, khái niệm về hộ gia đình chưa xác định rõ các điều kiện hay các tiêu chí xác lập một hộ gia đình. Tập hợp các thành viên của hộ gia đình cũng không dễ xác định. Dấu hiệu của một gia đình được thể hiện qua quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hay quan hệ nuôi dưỡng. Xuất phát từ thực tiễn xã hội Việt Nam cũng như căn cứ vào quy định của pháp luật, chúng tôi thấy thông thường các thành viên trong hộ gia đình phải có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng; cùng cư trú ở một nơi, có cùng hoạt động kinh tế chung trên một sản nghiệp chung. Bộ luật Dân sự năm 2005 chưa có quy định rõ ràng về việc xác định tư cách thành viên hộ gia đình. Việc xác định tư cách thành viên Hộ gia đình là rất quan trọng. Bởi lẽ, từ đó xác định được các quyền sở hữu khối tài sản chung và nghĩa vụ liên đới phát sinh nếu có rủi ro trong giao dịch. Tuy nhiên, số lượng các thành viên trong hộ gia đình có thể thay đổi, gây khó khăn trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan. Trong thực tiễn các cơ quan hành pháp và tư pháp thường xác định tập hợp các thành viên hộ gia đình thông qua sổ hộ khẩu và nếu có bất kỳ giao dịch dân sự nào liên quan đến hộ gia đình thì cơ quan quản lý nhà nước cũng như người dân luôn yêu cầu người đại diện phải là chủ hộ trong sổ hộ khẩu như việc giao đất cho hộ gia đình…Theo Điều 24 Luật Cư trú năm 2006 thì: "Sổ hộ khẩu được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký thường trú và có giá trị xác định nơi thường trú của công dân" [37], sổ hộ khẩu không có giá trị chứng minh quyền sở hữu hoặc việc sử dụng một khối tài sản chung nào đó của những người có tên trong sổ hộ khẩu. Thực tế trên đã và đang làm các giao dịch dân sự liên quan đến hộ gia đình bị hiểu và thực hiện lệch lạc so với quy định pháp luật về hộ gia đình. Hơn nữa, sổ hộ khẩu không nói lên vấn đề rằng các thành viên có cùng trú ngụ hay cùng kiếm sống hay không. 21
- Xem thêm -