Pháp luật về chống bán phá giá trong thương mại quốc tế

  • Số trang: 170 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 46 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT * * * NGUYỄN TRẦN DUY PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH: LUẬT QUỐC TẾ MÃ SỐ: 603860 Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Bá Diến Hà Nội - 2007 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BÁN PHÁ GIÁ VÀ PHÁP 7 LUẬT VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ 1.1. Những khái niệm chung về bán phá giá và thuế 7 chống bán phá giá 1.1.1. Các định nghĩa về bán phá giá 7 1.1.2. Cơ sở xác định bán phá giá 13 1.1.2.1 Giá trị thông thường 15 1.1.2.2 Giá xuất khẩu 21 1.1.2.3. So sánh giá xuất khẩu và giá trị thông 22 thường - phương pháp xác định phá giá hàng hoá 1.2. Đặc điểm của bán phá giá 27 1.3. Phân loại bán phá giá 32 1.3.1. Phân loại theo Hiến chương Havana 33 1.3.2. Phân loại căn cứ vào động cơ và mục đích của chủ thể 35 thực hiện bán phá giá 1.3.3. Phân loại căn cứ vào biểu hiện của phá giá 1.4. Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về 37 38 chống bán phá giá 1.4.1. Các nguyên nhân dẫn đến hành động bán phá giá 38 1.4.1.1. Sức ép kinh tế vĩ mô 40 1.4.1.2. Sức ép tự do hóa thương mại 40 1.4.1.3. Hành vi trả đũa 40 1.4.1.4. Nền kinh tế phi thị trường 41 1.4.1.5. Hành vi Bắt chước (Hiệu ứng Domino) 42 1.4.1.6. Tính gộp thiệt hại 43 1.4.1.7. Chống bán phá giá như một chiến lược của 45 các tập đoàn và kết quả đấu tranh giữa các nhóm lợi ích 1.4.1.8. Chống bán phá giá tập trung trong những 46 ngành mà bên xuất khẩu có lợi thế cạnh tranh 1.4.1.9. Tình trạng lẩn tránh thuế chống bán phá giá 47 1.4.1.10. Yếu kém trong khuôn khổ luật pháp và điều 47 lệ ngăn cản việc đối phó với các vụ điều tra một cách hiệu quả 1.4.2. Tác động của bán phá giá đối với nền kinh tế của 48 nước nhập khẩu 1.4.3. Căn cứ pháp lý của hành động chống bán phá giá 52 1.4.3.1. Trên thế giới 52 1.4.3.2. Tại Việt Nam 54 CHƢƠNG II: CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG 57 BÁN PHÁ GIÁ TRONG THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ 2.1. Các tiêu chuẩn cơ bản để đánh thuế chống bán 57 phá giá 2.1.1. Thiệt hại đối với ngành công nghiệp trong nước 57 2.1.2. Mối quan hệ nhân quả giữa việc hàng nhập khẩu bị 58 phá giá với sự thiệt hại của ngành công nghiệp trong nước 2.1.3. Gộp các loại hàng nhập khẩu 2.2. Thủ tục, nội dung điều tra vụ kiện chống bán phá hàng nhập khẩu 59 60 2.2.1. Hệ thống cơ quan nhà nước tham gia vào quá trình 60 điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá 2.2.1.1. Cơ quan điều tra chống bán phá giá 61 2.2.1.2. Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá 64 2.2.1.3. Bộ trưởng Bộ Thương mại 65 2.2.2. Thủ tục điều tra và áp dụng biện pháp chống bán 70 phá giá 2.2.2.1. Giai đoạn khởi đầu của quá trình điều tra 70 2.2.2.2. Giai đoạn tiến hành điều tra 80 2.2.2.3. Áp dụng các biện pháp chống bán phá 93 CHƢƠNG III: THỰC THI VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 112 NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ ĐỐI VỚI VIỆT NAM 3.1. Thực tiễn quốc tế về thực thi pháp luật chống bán 112 phá giá 3.1.1. Thực tiến trên thế giới 3.1.1. Thực tiễn áp dụng thuế chống bán phá giá của 112 113 các nước phát triển 3.1.2. Thực tiễn áp dụng thuế chống bán phá giá của 113 các nước đang phát triển 3.1.2. Thực tiễn áp dụng thuế chống bán giá đối với hàng 114 hoá Việt Nam ở nước ngoài 3.1.2.1. Các vụ kiện mà hàng hóa Việt Nam đã bị kiện 114 bán phá giá 3.1.2.2. Các ngành xuất khẩu của Việt Nam có nguy cơ bị điều tra và áp thuế chống bán phá giá 118 3.1.2.3. Các giải pháp nhằm hạn chế nguy cơ bị điều 121 tra và áp thuế chống bán phá giá đối với hàng hóa Việt Nam ở nước ngoài 3.2. Vấn đề thực thi pháp luật bán phá giá tại Việt 124 Nam 3.2.1. Thực trạng bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào 124 Việt Nam 3.2.2. Thực trạng thực thi pháp luật chống bán phá giá ở 127 Việt Nam 3.2.3. Các bất cập trong việc thực thi pháp luật chống 128 bán giá ở Việt Nam phá 3.3. Các gải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế 133 thực hiện pháp luật chống bán phá giá tại Việt Nam 3.3.1. Những định hướng cơ bản cho việc thực hiện pháp 133 luật chống bán phá giá tại Việt Nam 3.3.1.1. Pháp luật chống bán phá giá và việc thực 133 hiện chúng phải đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 3.3.1.2. Việc hoàn thiện và thực hiện pháp luật 135 chống bán phá giá phải được đặt trong mối quan hệ tổng thể với các chế định pháp luật khác 3.3.1.3. Đảm bảo nguyên tắc độc lập trong tổ chức 136 và hoạt động của bộ máy chống bán phá giá 3.3.1.4. Bảo vệ hợp lý các ngành sản xuất trong nước 136 3.3.2. Những đề xuất cụ thể nhằm hoàn thiện chế định 137 pháp lý về chống bán phá giá và cơ chế thực hiện chúng 3.3.2.1. Chi tiết hoá các quy định hiện hành về 137 chống bán phá giá 3.3.2.2. Hoàn thiện bộ máy chống bán phá giá KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 139 142 BẢNG CHỮ VIẾT TẮT EU Liên minh Châu Âu Hiệp định chống bán Hiệp định về chống bán giá giá của Tổ chức phá giá Thương mại thế giới Pháp lệnh về chống Pháp lệnh chống bán phá giá đối với hàng nhập bán giá giá khẩu của Ủy ban thường vụ Quốc hội Pháp luật về chống Pháp lệnh chống bán phá giá đối với hàng nhập bán giá giá khẩu và các văn hướng dẫn thi hành USITC Ủy ban thương mại quốc tế của Hoa Kỳ WTO Tổ chức Thương mại thế giới MỞ ĐẦU I. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI: 1.1 Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là đang tích cực đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và nhiều khả năng sẽ trở thành thành viên chính thức của WTO vào cuối năm 2006. WTO là một “sân chơi” có những luật lệ riêng của nó. Theo đó, Việt Nam sẽ phải loại bỏ dần các hàng rào thuế quan trong những năm tới, chẳng hạn như hạn chế định lượng, giá tính thuế tối thiểu. Tuy nhiên, thuế quan vẫn sẽ là công cụ bảo hộ chủ yếu cho sản xuất trong nước. Vì vậy, việc áp dụng thuế chống bán phá giá là một nhu cầu cấp thiết để tăng cường bảo hộ sản xuất trong nước. 1.2 Bán phá giá là trường hợp một mặt hàng được nhập khẩu từ nước này sang nước khác với giá thấp hơn giá bán mặt hàng đó trong điều kiện thương mại thông thường ở thị trường nội địa nước xuất khẩu. Trong thương mại quốc tế, việc bán phá giá làm cho người tiêu dùng ở nước nhập khẩu có cơ hội tiếp cận với hàng hoá rẻ hơn, nhưng đồng thời có thể gây thiệt hại cho ngành sản xuất hàng hoá tương tự của nước nhập khẩu. Thuế chống bán phá giá là biện pháp đánh một khoản thuế bổ sung và mặt hàng nhập khẩu khi mặt hàng này bị bán phá giá và gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước. Mục đích của việc áp dụng thuế chống bán phá giá là nhằm triệt tiêu những ảnh hưởng bất lợi do việc hàng nhập khẩu bị bán phá giá gây ra, bù đắp những thiệt hại mà ngành sản xuất trong nước phải gánh chịu. 1.3 Thuế chống bán phá giá được áp dụng trên thế giới cách đây khoảng 100 năm và ngày càng được phổ biến rộng rãi không những ở các nước phát triển như Hoa Kỳ, Canada, EU, Úc mà cả các nước đang phát triển như Brazil, Achentina, Mexico, Ấn Độ, Thái Lan. Để sớm có cơ sở pháp lý áp dụng loại thuế này cần nhanh chóng xây dựng và ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (từ quy định mang tính chất nguyên tắc cho đến các quy định cụ thể và cả cơ chế bảo đảm thực thi hữu hiệu) dựa trên các hiệp định liên quan của WTO, có tham khảo tới luật và thực tiễn áp dụng của một số nước khác. 1.4 Việc bán phá giá đang diễn ra ngày càng nhiều ở hầu hết các quốc gia kể cả các quốc gia phát triển và đang phát triển. Mặc dù là nước đang phát triển ở trình độ thấp, nhưng vài năm trở lại đây hàng hoá của Việt Nam đã dần thâm nhập vào các thị trường khác nhau và các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã bị nước ngoài tiến hành điều tra bán phá giá nhiều lần. Trong đó, Việt Nam đã thắng được trong một số vụ, như giày dép ở Canada, bật lửa gas vào EU, bật lửa gas ở Hàn Quốc; và một số vụ hàng hoá của có các doanh nghiệp Việt Nam bị áp đặt thuế chống phá giá. Vụ kiện bán phá giá cá tra, cá ba-sa của Việt Nam tại Hoa Kỳ (năm 2002) được coi là một vụ kiện có quy mô lớn và có rất nhiều áp đặt bất công từ phía Hoa Kỳ. Sau đó, tôm của Việt Nam cũng đã bị phía Hoa Kỳ áp đặt thuế chống bán phá giá. Gần đây, nhiều loại hàng hóa khác của Việt Nam cũng đang bị xem xét và áp đặt thuế chống phá giá tại nhiều thị trường khác trên thế giới. Tuy vậy, Việt Nam chưa một lần xem xét và áp đặt thuế chống bán phá giá đối với hàng hóa nước ngoài nhập khẩu vào Việt Nam. 1.5 Trong thời gian qua, Việt Nam đã ban hành Pháp lệnh Chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam (dưới đây gọi tắt là Pháp lệnh Chống bán phá giá) vừa được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 29/04/2004 và có hiệu lực từ ngày từ 01/10/2004. Sau đó, Chính phủ cũng đã có Nghị định hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Chống bán phá giá. Tuy nhiên, việc áp dụng có hiệu quả Pháp lệnh Chống bán phá giá ở Việt Nam là một công việc không đơn giản vì cho đến nay. Thực tế cho thấy nhiều trường hợp hàng hoá nước ngoài nhập khẩu vào Việt Nam với giá rẻ và bị nghi ngờ là được phía nước ngoài bán phá giá, nhưng không thể tiến hành điều tra, vì thiếu cơ sở pháp lý. Mặt khác, việc điều tra và áp dụng các biện pháp chống bán phá giá rất phức tạp, đối tượng điều tra nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam, nên chi phí rất tốn kém. Chưa kể, với những nội dung điều tra liên quan đến chính sách của chính phủ nước ngoài, nếu không xem xét toàn diện mọi khía cạnh trước khi tiến hành điều tra để áp dụng biện pháp chống bán phá giá, sẽ dễ gây ra tác động ngược lại đối với các ngành sản xuất trong nước và các chính sách hỗ trợ như thưởng xuất khẩu, miễn giảm thuế, xoá nợ, khoanh nợ... 1.6 Chính vì vậy, việc nghiên cứu các quy định về chống bán phá giá trong pháp luật quốc tế (trong khuôn khổ Hiệp định chống bán phá giá và tham khảo một số luật chống phá giá của các nước khác) và pháp luật Việt Nam có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc chủ động hội nhập kinh tế thế giới. Thứ nhất, việc nắm bắt các quy định của quốc tế về vấn đề này cho phép các doanh nghiệp của Việt Nam đoàn kết, sẵn sàng và chủ động tham gia vụ kiện về bán phá giá. Đây được xem là cơ hội để các doanh nghiệp thu thập thông tin về vấn đề này và chứng minh tính hợp lý của giá xuất khẩu hàng hoá. Thứ hai, việc xây dựng một hệ thống các quy định cụ thể về chống bán phá giá và một cơ chế thực thi có hiệu quả sẽ góp phần hạn chế hiện tượng bán phá giá của hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam, góp phần bảo vệ sản xuất trong nước một cách hợp pháp. II. MỤC ĐÍCH, PHẠM VI VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI: 2.1 Mục đích: - Góp phần làm sáng tỏ các quy định pháp luật (trong Hiệp định chống bán phá giá của WTO, pháp luật của một số nước trên thế giới, ví dụ: Hoa Kỳ, EU... và pháp luật Việt Nam) về chống bán phá giá. - Tìm ra những hạn chế trong quy định của pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá – cả trên phương diện lý luận, kỹ thuật lập pháp và tổ chức thực hiện. - Đề xuất những phương hướng, quan điểm, biện pháp nhằm tiến tới hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề chống bán phá giá. 2.2 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật, các tài liệu liên quan đến chống bán phá giá, bao gồm: - Hiệp định về chống bán phá giá của WTO; - Quy định pháp luật của một số nước mà hàng hoá của Việt Nam đã bị (và có nhiều khả năng sẽ bị) điều tra bán phá giá như Hoa Kỳ, EU...; - Quy định của pháp luật Việt Nam về bán phá giá. Bên cạnh việc phân tích các quy định của pháp luật và một số vụ kiện bán phá giá, nghiên cứu sẽ phân tích thêm một số trường hợp bán phá giá cụ thể để từ đó làm sáng tỏ thêm các quy định pháp luật như nêu trên đây. 2.3 Tình hình nghiên cứu: Chống bán phá giá là quy phạm đã được áp dụng từ lâu trong thương mại quốc tế. Tuy nhiên, đối với Việt Nam, đây là một chủ đề tương đối mới mẻ. Hiện tại, vấn đề này chưa được nghiên cứu nhiều và chưa có hệ thống mà chỉ có một số bài viết, bài báo, tài liệu nghiên cứu một số khía cạnh của vấn đề này. Trong bối cảnh Việt Nam sẽ sớm tham gia sân chơi WTO nhưng lại đã “có khá nhiều kinh nghiệm” về việc bị áp đặt thuế chống bán phá giá, việc xem xét, đánh giá, tổng hợp và so sánh các quy định của Việt Nam với các quy định của pháp luật quốc tế là điều cần làm ngay. Vì vậy, việc lựa chọn đề tài này để nghiên cứu là cần thiết và sẽ góp phần hoàn thiện pháp luật về chống bán phá giá và góp phần thực thi có hiệu quả pháp luật trong lĩnh vực này. 2.4 Đóng góp của đề tài: - Phân tích, đánh giá và so sánh các quy định của pháp luật của Việt Nam về bán phá giá với các quy định của pháp luật quốc tế; - Đưa ra những ý kiến tham khảo nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá và xây dựng cơ chế thực thi pháp luật về chống bán phá giá có hiệu quả. 2.5 Phƣơng pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, bài luận văn sẽ được áp dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để nghiên cứu, làm rõ các nội dung và đạt được mục đích của đề tài. III. CÁC NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI: Luận văn sẽ được kết cấu gồm: Lời mở đầu, Phần nội dung, Kết luận, các Phụ lục và Danh sách tài liệu tham khảo, được trình bày theo kết cấu như sau: Lời mở đầu: sẽ nêu tính cấp thiết, mục đích, phạm vi nghiên cứu của đề tài, tình hình và phương pháp nghiên cứu. Phần nội dung sẽ giải quyết các vần đề sau đây: Chương I: Tổng quan về bán phá giá và pháp luật về chống bán phá giá. Chương này phân tích các khái niệm chung, đặc điểm, phân loại các loại bán phá giá; lịch sử hình thành và thực tiễn áp dụng luật về chống bán phá giá trên thế giới và Việt Nam. Chương II: Các quy định pháp luật về chống bán phá giá trong thương mại quốc tế. Chương này phân tích các quy định cụ thể về bán phá giá và chống bán phá giá, trong đó phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam có đối chiếu với quy định của WTO và của một số nước trên thế giới. Chương III: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi và hoàn thiện pháp luật về chống bán phá giá đối với Việt Nam. Chương này phân tích thực trạng áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam và việc áp dụng thuế chống bán phá giá của Việt Nam đối với hàng hoá nhập khẩu. Trên cơ sở đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng luật về chống bán phá giá đối với Việt Nam. Phần kết luận. Phần này nêu rõ tổng kết tóm tắt các nội dung đã nêu trong luận văn, đồng thời nêu bật những đóng góp và hạn chế của bài viết. Ngoài các phần đã nêu ở trên, luận năn này còn có phần Danh mục tài liệu tham khảo. CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BÁN PHÁ GIÁ VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ 1.1. Những khái niệm chung về bán phá giá và thuế chống bán phá giá 1.1.1. Các định nghĩa về bán phá giá Để có thể phân tích các quy định về bán phá giá, trước tiên cần phải tìm hiểu bán phá giá là gì. Dưới đây là một vài cách hiểu về bán phá giá. Quan điểm thứ nhất cho rằng “bán phá giá được hiểu đơn giản là bán hàng ra nước ngoài với giá thấp hơn giá bán tại thị trường nội địa” (Black's Law dictionary) [75, tr. 518]. Theo cách hiểu này, muốn xác định được hành vi bán phá giá trước hết phải xác định được giá nội địa hay còn gọi là giá bán hàng hoá tương tự tại nước xuất khẩu. Tuy nhiên trên thực tế, việc xác định giá hàng hoá nội địa không phải đơn giản và đôi khi không thể thực hiện vì hàng hóa xuất khẩu không được bán ở trong thị trường nội địa. Mặt khác, có những trường hợp việc so sánh giá xuất khẩu và giá bán tại thị trường nội địa đưa đến những kết luận không chính xác do bản thân giá nội địa cũng đã thấp hơn chi phí sản xuất (mặc dù cao hơn giá xuất khẩu). Quan điểm thứ hai coi “phá giá là bán hàng ra nước ngoài thấp hơn chi phí sản xuất”. Hiện nay, quan niệm này ngày càng được nhiều người ủng hộ nhưng cũng gây không ít tranh cãi. Những ý kiến ủng hộ cho rằng, định nghĩa như trên phản ánh rõ nét bản chất không lành mạnh của hành vi phá giá là những toan tính phi kinh tế nhằm mục đích gây cho đối thủ cạnh tranh những khó khăn hoặc trở ngại trong kinh doanh để chiếm đoạt thị trường của họ. Các cuộc tranh cãi xuất phát từ nhận thức truyền thống về phá giá là sự so sánh (phân biệt) giá quốc tế, chi phí sản xuất chỉ là yếu tố cấu thành chủ yếu của giá chứ chưa phải là giá bán của hàng hoá. Mặt khác, với những truyền thống kinh doanh khác nhau thì quan niệm về các yếu tố cấu thành chi phí cố định hay biến phí của sản phẩm ở các quốc gia khác nhau cũng không giống nhau. Cho nên nếu xác định phá giá theo quan điểm này sẽ rất khó khăn cho quá trình áp dụng và thực sự không công bằng khi lấy quan niệm về cơ cấu chi phí trong tập quán kinh doanh của quốc gia này để kết luận về hành vi bán hàng của các doanh nghiệp ở quốc gia khác có cơ cấu chi phí khác nhau. Quan điểm thứ ba kết hợp cả hai quan niệm đầu tiên bằng cách đưa ra cơ sở để xác định hành vi bán phá giá là giá xuất khẩu và giá trị thông thường của hàng hoá, sản phẩm bị nghi là phá giá. Với cách hiểu đó, quan niệm này đã phản ánh hình thức phân biệt về giá và bản chất phi kinh tế của phá giá trong thương mại quốc tế. Trên tinh thần đó, Hiệp định thực thi điều VI của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) định nghĩa một sản phẩm bị coi là bán phá giá (tức là được đưa vào lưu thông thương mại của một nước khác thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm đó) nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường [22, đ. 2]. Trên cơ sở pháp luật chung của WTO, Liên minh Châu Âu cũng đã ban hành luật chống bán phá giá theo quyết định số 384/96 ngày 22.12.1995 của Hội đồng EC, theo đó một sản phẩm được xem là bị bán phá giá nếu giá xuất khẩu vào khối cộng đồng ít hơn so với mức giá đối với sản phẩm tương tự theo tiến trình thương mại thông thường được thiết lập ở nước xuất khẩu [27, đ. 1]. Theo quan điểm này, kết luận về hành vi bán phá giá không phải là kết quả của sự so sánh giữa giá xuất khẩu với giá trên thị trường nước xuất khẩu hoặc với chi phí sản xuất của hàng hoá, mà được xác định dựa trên mối quan hệ giữa giá của sản phẩm xuất khẩu với giá trị thông thường của nó. Ưu điểm của quan điểm thứ ba là có sự uyển chuyển trong việc xác định giá trị thông thường với tư cách là mức giá chuẩn để so sánh giá. Cơ quan có trách nhiệm điều tra có thể chủ động xác định giá trị thông thường theo thứ tự ưu tiên là: - Giá bán tại thị trường xuất khẩu; - Giá lựa chọn từ nước thứ ba hoặc giá cấu thành. Từ đó, những khó khăn từ thực tiễn của quá trình kinh doanh trong việc xác định cơ cấu giá đã được tháo gỡ thông qua cơ chế định giá. Đồng thời những khó khăn từ sự khập khễnh trong quan điểm và tập quán về cơ cấu chi phí của sản phẩm cũng sẽ được giải quyết khi xác định giá trị thông thường là giá bán hàng hoá tại thị trường xuất khẩu. Trong khoa học pháp lý có thể phân biệt được hành vi bán phá giá với việc hạ giá hoặc bán hàng hoá với giá rẻ là kết quả của việc giảm chi phí hay tăng năng suất. Hành vi bán hàng hoá rẻ hơn giá hàng hoá, sản phẩm tương tự tại nước nhập khẩu là kết quả của quá trình giảm chi phí sản xuất đã đem lại lợi ích cho sự phát triển kinh tế và thặng dư xã hội, thúc đẩy quá trình cạnh tranh lành mạnh trên thị trường tự do. Vì vậy, pháp luật coi là hành vi cạnh tranh lành mạnh, cần khuyến khích. Phá giá là hành vi đi ngược lại các nguyên lý lành mạnh của thị trường tự do vì đã xâm hại nguyên tắc công bằng trong đối xử về giá hoặc giành giật thị trường một cách bất chính. Nghiên cứu về hành vi bán phá giá trong quan hệ thương mại quốc tế, nếu nhìn nhận dưới góc độ quyền lợi của người tiêu dùng trong ngắn hạn thì hành vi bán phá giá đem lại lợi ích cho người tiêu dùng do giá bán rẻ. Sự chênh lệch giữa giá bán của những nhà sản xuất nội địa và giá bán của hàng nhập khẩu là thặng dư của người tiêu dùng. Đồng thời, nó phản ánh mức độ đe dọa đối với thu nhập và quyền lợi của các nhà sản xuất nội địa. Chính vì thế, để nhìn nhận rõ bản chất của phá giá, đôi khi khoa học pháp lý cần phải nghiên cứu từ góc độ ý nghĩa kinh tế của bán phá giá đối với sự phát triển của thị trường của nước nhập khẩu, từ đó xác định nhu cầu và mục đích của việc điều chỉnh pháp luật. Dấu hiệu cơ bản để xác định bán phá giá là sự chênh lệch về giá của sản phẩm giữa hai thị trường - thị trường nước xuất khẩu và thị trường nước nhập khẩu. Từ đó, kinh tế học chia phá giá thành hai trường hợp tiêu biểu để phân tích là: i. Giá xuất khẩu thấp hơn giá thị trường của nước xuất khẩu nhưng vẫn cao hơn chi phí sản xuất. ii. Giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất và cũng thấp hơn giá thị trường nội địa của nước xuất khẩu. * Trong trƣờng hợp thứ nhất, hành vi bán hàng ra nước ngoài với mức giá thấp hơn giá bán trong thị trường nội địa mặc dù cao hơn chi phí sản xuất vẫn có thể bị coi là hành vi phân biệt giá trong quan hệ thương mại quốc tế. Tuy nhiên xét về bản chất khó có thể quy kết cho hành vi này cái mác bán phá giá để áp dụng các biện pháp chống phá giá. Dưới góc độ kinh tế, hành vi bán hàng thấp hơn giá nội địa nhưng cao hơn chi phí sản xuất là một hiện tượng thông thường khi nhà sản xuất được hưởng lợi thế độc quyền trên thị trường nội địa do được bảo hộ bởi các rào cản thương mại tự nhiên hoặc phi tự nhiên hoặc do thị trường trong nước có quy mô nhỏ hơn so với thị trường xuất khẩu, nên có thể bán sản phẩm trong nước với giá cao. Khi tham gia thị trường quốc tế, vì có cạnh tranh nên nhà sản xuất buộc phải bán hàng với giá thấp hơn giá nội địa để có thể tồn tại. Vấn đề đặt ra là hành vi nêu trên có là cạnh tranh không lành mạnh trong quan hệ thương mại quốc tế hay không? Nếu có thì bản chất nguy hại của nó thể hiện ở đâu, có nên áp dụng biện pháp chống bán phá giá trong trường hợp này hay không, khi bản thân hành vi thể hiện có sự phân biệt giá giữa hai thị trường mà nhà sản xuất tham gia? Có nhiều quan điểm khác nhau khi trả lời những câu hỏi trên. Quan điểm thứ nhất (nhìn từ quyền lợi của các nhà sản xuất trong nước) cho rằng hiện tượng trên thực sự đã cấu thành các dấu hiệu của việc phá giá hàng hoá và cũng đe dọa cho lợi ích của xã hội khi mà giá bán tại thị trường nhập khẩu thấp hơn giá bán của hàng hoá tương tự sản xuất tại thị trường nội địa của nước xuất khẩu. Bởi lẽ khi việc phá giá này xảy ra với một lượng lớn và trong một thời gian dài sẽ làm giảm giá hàng hoá cạnh tranh với hàng nhập khẩu và từ đó ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của nhà sản xuất và lương của người lao động tham gia sản xuất sản phẩm cạnh tranh trong thị trường nhập khẩu. Vì vậy, yêu cầu nhà nước cần can thiệp để bảo hộ quyền lợi của nhà sản xuất nội địa [6, tr. 6]. Quan điểm thứ hai (nhìn từ góc độ quyền lợi của người tiêu dùng) cho rằng lợi ích mà hành vi phá giá này đem lại là người tiêu dùng được hưởng thụ hàng hoá và sản phẩm với giá thấp, quyền lợi của người tiêu dùng phản ánh lợi ích chung của xã hội. Từ đó, việc có áp dụng biện pháp trừng phạt hay không sẽ phụ thuộc vào lợi ích của người tiêu dùng có lớn hơn lợi ích của nhà sản xuất và của người lao động hay không [6, tr. 7]. Nếu nhìn vào bản chất lành mạnh hay không lành mạnh của hành vi này trong tiến trình cạnh tranh trên thị trường quốc tế dường như khó tìm thấy bản chất bất chính (hay không lành mạnh) của nó. Bởi lẽ trong môi trường mà cạnh tranh được thừa nhận như là linh hồn của thị trường thì đương nhiên quan hệ cung cầu với quy luật giá trị sẽ quyết định giá cả của hàng hoá và sản phẩm. Người tiêu dùng là chủ thể có quyền được hưởng mọi lợi ích chính đáng. Với chi phí sản xuất thấp đương nhiên việc cung cấp hàng hoá với giá tương ứng cộng thêm một khoản lợi nhuận hợp lý là hành vi lành mạnh nhìn dưới góc độ của chính sách cạnh tranh. Mặt khác, nếu việc định giá cao ở thị trường trong nước do có vị trí độc quyền thì bản thân giá độc quyền ở thị trường trong nước không thể được sử dụng để so sánh giá nhằm xác định việc phá giá của loại hàng hoá đó. Vì vậy, mọi biện pháp chống bán phá giá được áp dụng trong trường hợp này có thể sẽ trở thành những biện pháp bảo hộ không cần thiết cho các nhà sản xuất trong nước, không khuyến khích họ nỗ lực giảm chi phí sản xuất đề nâng cao năng lực cạnh tranh và do đó không thực sự đem lại lợi ích cho nền kinh tế của nước nhập khẩu. Để xử lý hành vi phân biệt giá nói trên đòi hỏi pháp luật của nước xuất khẩu phải chống lại biện pháp định giá cao ở nước xuất khẩu chứ không phải loại bỏ mức giá thấp ở nước nhập khẩu. Đối với nước nhập khẩu, nếu nhu cầu bảo hộ ngành sản xuất sản phẩm tương tự là cần thiết, nhà nước có thể áp dụng các biện pháp tự vệ thay cho biện pháp chống bán phá giá. * Trƣờng hợp thứ hai: Khi giá xuất khẩu thấp hơn hoặc bằng chi phí sản xuất thì đã đủ các căn cứ cho việc xác định hành vi bán phá giá. Trong trường hợp này, người sản xuất đã chấp nhận lỗ hoặc hy sinh lợi nhuận vì những mục đích khác nhau, có thể là tối ưa hoá lợi nhuận trong ngắn hạn; cũng có thể là độc chiếm thị trường, chiếm đoạt thị phần hoặc có thể do tính toán sai các loại chi phí cố định và biến phí. Về nguyên tắc hành vi bán hàng với giá thấp hơn chi phí sản xuất nếu gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho ngành sản xuất hàng hoá tương tự tại nước nhập khẩu thì nhà nước sẽ xuất hiện để ngăn chặn hành vi và khắc phục hậu quả. Tuy vậy, trong kinh tế học, đôi khi các nhà nghiên cứu kinh tế còn chỉ ra một số trường hợp đặc biệt mà ở đó hành vi bán hàng dưới mức chi phí cần được chấp nhận như một biện pháp kinh doanh thông thường. Ví dụ như bán hàng thấp
- Xem thêm -