Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị

  • Số trang: 99 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 84 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT PHÙNG THỊ LAN PHƯƠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - NĂM 2005 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT PHÙNG THỊ LAN PHƯƠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ MÃ SỐ: 601.05 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. NGUYỄN NHƯ PHÁT HÀ NỘI - NĂM 2005 MỤC LỤC Trang LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGƢỜI TIÊU DÙNG ..................................................................................................... 6 1.1. dùng 6 1.1.1. Khái niệm người tiêu dùng và nhu cầu bảo vệ người tiêu dùng 6 Khái niệm pháp luật bảo vệ ngƣời tiêu ..................................... .......... 1.1.2. Khái niệm pháp luật bảo vệ người tiêu dùng 13 người tiêu dùng 14 1.2. Nội dung cơ bản của pháp luật bảo vệ ngƣời tiêu dùng 14 ....................................... 1.1.3. Vai trò của pháp luật bảo vệ ...................................... .................... 1.2.1. Các quyền cơ bản của người tiêu dùng ....................................................... 15 1.2.2. Nghĩa vụ của người tiêu dùng ............................................................ 17 1.2.3. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, cung cấp hàng hoá, dịch vụ 18 ................................................................................................................... 1.3. Lƣợc sử phát triển của pháp luật bảo vệ ngƣời tiêu dùng ở Việt Nam .............................................................................................................. 18 1.3.1. Giai đoạn trước năm 1999 19 1.3.2. Giai đoạn từ năm 1999 đến nay .......................................................... 21 .................................................................. CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGƢỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM ...................................................................................................................... 24 2.1. Pháp luật về chế độ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất và cung cấp hàng hoá, dịch vụ ....................................................................... 24 2.1.1. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất và cung cấp hàng hoá, dịch vụ đối với chất lượng, số lượng của hàng hoá, dịch vụ 24 ....................... 2.1.2. Quy chế đối với nhãn mác .................................................................. 39 2.1.3. Nghĩa vụ bảo hành sản phẩm ............................................................. 43 2.1.4. Nghĩa vụ bảo đảm sự trung thực về giá bán 47 ........................................ 2.1.5. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ đối với các hợp đồng mẫu xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng ............................................................................................. 49 2.1.6. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ đối với các quảng cáo không trung thực xâm phạm lợi ích của người tiêu dùng ............................................................................................ 52 2.2. Quyền và nghĩa vụ của ngƣời tiêu dùng 56 ............................................. 2.2.1. Các quyền cơ bản của người tiêu dùng ............................................... 56 2.2.2. Nghĩa vụ của người tiêu dùng ............................................................. 66 2.3. Quản lý Nhà nƣớc về bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng 68 ................... 2.3.1. Nội dung quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 68 ....... 2.3.2. Thẩm quyền quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 69 .. 2.3.3. Tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 70 .......................................... 2.4. Giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo ............................................ 71 CHƢƠNG 3. KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGƢỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM ..................................................................................................... 74 3.1. Phƣơng hƣớng chung hoàn thiện pháp luật bảo vệ ngƣời tiêu dùng ở Việt Nam 74 ................................................................................................... 3.1.1. Đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất và phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành ....................................................................................................... 75 3.1.2. Bảo đảm quyền và lợi ích của người sản xuất, người kinh doanh và người tiêu dùng cũng như bảo vệ văn hoá, thuần phong mỹ tục, xây dựng đạo đức kinh doanh lành mạnh...................................................................... 3.1.3. Cần tổ chức hệ thống cơ quan quản lý hoạt động bảo vệ người tiêu 76 dùng một cách khoa học, hợp lý ................................................................... 77 3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ ngƣời tiêu dùng ở Việt Nam .............................................................................................................. 79 3.2.1. Hoàn thiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của người sản xuất, người cung cấp hàng hoá, dịch vụ 79 ................................................................. 3.2.2. Hoàn thiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng 81 .. 3.2.3. Hoàn thiện các quy định về thủ tục khởi kiện, khiếu nại .................... 83 3.2.4. Hoàn thiện các quy định về quản lý Nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng .............................................................................................................. 85 3.2.5. Tăng cường vai trò của Hiệp hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam .............................................................................................. 86 3.2.6. Tăng cường vai trò của Luật Cạnh tranh, rà soát và hạn chế bớt lĩnh vực độc quyền ............................................................................................... 87 KẾT LUẬN 89 LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Trong một quốc gia văn minh, con ngƣời luôn là đối tƣợng đƣợc pháp luật quan tâm bảo vệ. Với mong muốn xây dựng một xã hội công dân, một Nhà nƣớc “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” 13, tr. 1 thì bên cạnh việc tạo ra một khung pháp luật cho sự tự do cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, pháp luật còn có một nhiệm vụ hết sức quan trọng khác là phải bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng, một lực lƣợng chủ yếu và đông đảo trong xã hội. Ở Việt Nam, BVNTD đã trở thành vấn đề thời sự thu hút sự quan tâm của hầu hết các lĩnh vực pháp luật nhƣ Luật Dân sự, Luật Hình sự, Luật Thƣơng Mại, Luật Hành Chính, Luật Cạnh tranh... Điều 28 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 quy định: “Nhà nước có chính sách bảo vệ quyền lợi của người sản xuất, kinh doanh và quyền lợi của NTD. Mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh bất hợp pháp, mọi hành vi phá hoại nền kinh tế quốc dân làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lí nghiêm minh theo pháp luật”. Nhằm cụ thể hoá những quy định trong Hiến pháp và để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NTD; tăng cƣờng hiệu lực quản lý nhà nƣớc, nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ trong việc bảo vệ quyền lợi NTD, ngày 27/04/1999, Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng. Pháp lệnh này có hiệu lực từ ngày 01/10/1999. Ngày 02/10/2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2001/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh BVNTD. Qua 5 năm triển khai thực hiện, Pháp lệnh và các Nghị định hƣớng dẫn thi hành đã tạo ra hành lang pháp lý cho việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NTD. Tuy nhiên, tình trạng vi phạm quyền lợi hợp pháp của NTD ở Việt Nam hiện còn diễn ra phổ biến. Pháp luật chƣa thực sự trở thành công cụ hữu hiệu để bảo vệ lợi ích hợp pháp của ngƣời dân. Bản thân các quy định pháp luật về lĩnh vực này chƣa sâu, chƣa đủ mạnh để đi vào cuộc sống. Hiệu lực 2 của những quy định trong Pháp lệnh rất yếu ớt. Trên thực tế, vấn đề này hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của ngƣời kinh doanh, vào sự hiểu biết và nhận thức của ngƣời dân. Trong cuộc sống, NTD luôn phải tự tìm cách bảo vệ mình trƣớc khi “trông chờ” vào sự can thiệp của Nhà nƣớc. Do đó, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật BVNTD làm cho nó trở thành một công cụ đích thực trong việc duy trì trật tự và ổn định xã hội là vấn đề thời sự cấp bách hiện nay. Vì những lý do trên, tác giả chọn đề tài luận văn thạc sĩ của mình là: “Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị”. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Phải thừa nhận rằng, pháp luật BVNTD ở Việt Nam còn rất non trẻ so với các nƣớc có nền kinh tế thị trƣờng phát triển. Song, đã xuất hiện một số công trình của một số tác giả nghiên cứu về một số vấn đề có liên quan đến lĩnh vực pháp luật BVNTD (nhƣ pháp luật Cạnh tranh, vấn đề xuất xứ, nhãn hiệu hàng hoá, tên thƣơng mại, bí quyết công nghệ) nhƣ: PGS. TS. Nguyễn Nhƣ Phát, Cạnh tranh và xây dựng pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2001; PGS. TS. Nguyễn Nhƣ Phát, Viện Nghiên cứu Nhà nƣớc và Pháp luật, Điều kiện Thương mại chung và nguyên tắc tự do khế ước, Tạp chí Nhà nƣớc và Pháp luật số 6/2003; PGS. TS. Nguyễn Nhƣ Phát, Đối tượng điều chỉnh của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh, Tạp chí Nhà nƣớc và Pháp luật số 9, 2000; khoá luận tốt nghiệp cử nhân luật của tác giả Đỗ Thị Thanh Thuỷ với đề tài “Pháp luật điều chỉnh hoạt động quảng cáo không trung thực xâm phạm đến lợi ích của NTD”; Thạc sỹ Ngô Vĩnh Bạch Dƣơng: Bảo vệ quyền lợi NTD trong pháp luật cạnh tranh, Tạp chí Nhà Nƣớc và Pháp luật số 11, 2000... Các nghiên cứu trên đã đề cập đến một số khía cạnh của pháp luật BVNTD ở Việt Nam. Tuy nhiên đến nay, vẫn chƣa có một nghiên cứu tổng thể, đầy đủ, toàn diện và sâu sắc về pháp luật BVNTD. Những nghiên cứu trên mới chỉ đề cập một hoặc một số khía cạnh nào đó của vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD và nhìn chung, những vấn đề đặt ra chƣa đƣợc giải quyết triệt để. 3. Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3 3.1. Mục đích - Làm rõ đƣợc những vấn đề pháp lý cơ bản của pháp luật BVNTD theo quy định của pháp luật Việt Nam nhƣ khái niệm, đặc điểm, đối tƣợng, phạm vi điều chỉnh, quyền và trách nhiệm của NTD; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; quản lý nhà nƣớc về bảo vệ quyền lợi NTD; tổ chức bảo vệ quyền lợi NTD; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm... - Phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam (pháp luật nội dung và pháp luật hình thức) về bảo vệ quyền lợi NTD theo Pháp lệnh BVNTD năm 1999, Bộ luật Dân sự năm 1995, Luật Thƣơng mại năm 1997, Luật Cạnh tranh năm 2004, Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 và một số Pháp lệnh, Nghị định và văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Qua đó rút ra nguyên nhân của những khuyết điểm, yếu kém và tìm các giải pháp có hiệu quả để BVNTD. 3.2. Đối tượng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là những quan hệ xã hội về vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD đƣợc pháp luật điều chỉnh, có phân tích và so sánh với những quy định trong Bộ luật Dân sự, Luật Thƣơng mại và Luật Cạnh tranh. 3.3. Phạm vi nghiên cứu Pháp luật BVNTD, khái niệm mới xuất hiện trong tài liệu pháp lý ở Việt Nam trong thời gian gầy đây, là một lĩnh vực rất rộng và có biên giới với nhiều lĩnh vực và chế định pháp luật khác nhau. Thông thƣờng, khi nói tới pháp luật BVNTD, ngƣời ta hình dung hai lĩnh vực pháp luật liên quan đến quyền, trách nhiệm của NTD và trách nhiệm của nhà sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, bên cạnh hai lĩnh vực pháp luật cơ bản này, thuộc về hay liên quan đến pháp luật BVNTD còn có nhiều lĩnh vực pháp luật khác nữa nhƣ: pháp luật cạnh tranh, pháp luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá, pháp luật về quảng cáo, pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm, pháp luật về điều kiện thƣơng mại chung. Bên cạnh đó, khi xem xét pháp luật BVNTD từ phƣơng diện xã hội học pháp luật, các nhà luật học còn quan tâm đến cả cơ chế chuyển hoá pháp luật BVNTD vào cuộc sống nhƣ những vấn đề về tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nƣớc về BVNTD, về trình tự 4 và thủ tục giải quyết khiếu nại và khiếu kiện, thẩm quyền của các cơ quan tài phán cũng nhƣ khả năng áp dụng các chế tài. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả xin đƣợc tập trung nghiên cứu bốn lĩnh vực đó là: trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất và cung cấp hàng hoá, dịch vụ; quyền và nghĩa vụ của NTD; quản lý nhà nƣớc về bảo vệ quyền lợi NTD và vấn đề thủ tục khởi kiện, giải quyết khiếu nại, tố cáo. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Cơ sở phƣơng pháp luận của luận văn là dựa trên cơ sở lý luận của học thuyết Mác - LêNin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời, tiếp thu quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta trong sự nghiệp đổi mới. Từ phƣơng pháp này, luận văn sẽ xác định mối liên hệ giữa các hiện tƣợng, sự việc nhằm đánh giá các vấn đề một cách khoa học. Trên cơ sở các phƣơng pháp khoa học nhƣ: so sánh, phân tích, tổng hợp, lịch sử và thống kê... luận văn sẽ khái quát sơ lƣợc quá trình hình thành và phát triển của pháp luật BVNTD ở Việt Nam để từ đó đi sâu phân tích những nét đặc thù của các quy định pháp luật về BVNTD. Cũng từ quá trình phân tích và tổng hợp đó, luận văn so sánh những quy định pháp luật BVNTD của Việt Nam với quy định pháp luật BVNTD của một số nƣớc trên thế giới để tìm ra những nét chung và những kiến nghị hoàn thiện pháp luật BVNTD cho phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam. Ngoài ra, luận văn còn vận dụng phƣơng pháp liên hệ giữa thực tiễn giải quyết của toà án với các quy định của pháp luật. 5. Ý nghĩa của đề tài Về mặt lý luận, luận văn giúp cho bản thân tác giả nhận thức về những điểm quan trọng nhất, đáng chú ý nhất về pháp luật BVNTD ở Việt Nam cũng nhƣ những bất cập còn tồn tại. Việc nghiên cứu pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD còn phục vụ trực tiếp cho quá trình hoàn thiện, pháp điển hoá pháp lệnh, tiến tới xây dựng Luật Bảo vệ ngƣời tiêu dùng ở Việt Nam. Về mặt thực tiễn, có lẽ đây là nghiên cứu đầu tiên mang tính tổng thể, có hệ thống, có phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật BVNTD ở Việt Nam và đƣa ra những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện, góp một phần nhỏ bé vào việc 5 bảo vệ quyền lợi của NTD. 6. Cơ cấu của luận văn Ngoài mục lục, lời mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc bố cục gồm 03 chƣơng: CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGƢỜI TIÊU DÙNG CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGƢỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM CHƢƠNG 3. KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGƢỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆN NAM CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGƢỜI TIÊU DÙNG 1.1. Khái niệm pháp luật bảo vệ ngƣời tiêu dùng 1.1.1. Khái niệm người tiêu dùng và nhu cầu bảo vệ người tiêu dùng 6 1.1.1.1. Khái niệm người tiêu dùng Nhƣ chúng ta đều biết, tiêu dùng là một khâu của quá trình sản xuất. Đó là chi tiêu cho các hàng hoá và dịch vụ của NTD và các tổ chức phi kinh tế: “Tiêu dùng là dùng của cải, vật chất để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, sản xuất” 5, tr. 1640 . Đây là một trong những hoạt động cơ bản và tự nhiên của con ngƣời, “Tiêu dùng là một hoạt động tác động đến một vật bằng cách sử dụng nó, là việc sử dụng một vật bằng cách làm cạn kiệt vật đó” 4, tr. 312 . Có sản xuất mới có tiêu dùng, không có sản xuất thì cũng không có tiêu dùng và ngƣợc lại. Mỗi ngƣời chúng ta, hàng ngày, hàng giờ đều phải tiêu dùng các hàng hoá và dịch vụ để phục vụ cho nhu cầu của cá nhân, gia đình nhƣng đã bao giờ chúng ta tự hỏi vậy NTD là ai? Ra đời và tồn tại gắn liền với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa, khái niệm NTD là một khái niệm khá mới mẻ ở Việt Nam. NTD là ngƣời mua hoặc sử dụng hàng hoá, dịch vụ để phục vụ cho nhu cầu của bản thân hoặc gia đình mình, là NTD cuối cùng “end consumer”. Sản phẩm hàng hoá qua sử dụng của NTD sẽ dần mất đi, nói chung không đƣợc tái tạo lại. Ngƣời tiêu dùng “consumer”, “consommateur” là “người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức” 23, tr. 1 . Luật BVNTD của Thái Lan năm 1979 định nghĩa: “NTD là người mua hoặc sử dụng hàng hoá, dịch vụ của một nhà kinh doanh, kể cả những người được chào hàng hoặc được đề nghị mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ của nhà kinh doanh”. Luật BVNTD của Ấn Độ ngày 24/12/1986 quan niệm “NTD” là bất cứ ngƣời nào: + Mua hàng có trả tiền, đã thanh toán hoặc đã hứa thanh toán, hoặc đã thanh toán một phần và hứa thanh toán một phần, hoặc theo cách trả dần; khái niệm này bao gồm cả những ngƣời sử dụng hàng hoá đó ngoài ngƣời trực tiếp mua hàng có trả tiền, đã thanh toán hoặc hứa thanh toán, hoặc đã thanh toán một phần, hoặc theo cách trả dần một khi cách này đƣợc ngƣời đó tán thành; 7 nhƣng khái niệm này không bao gồm ngƣời mua hàng hoá đó để bán lại hoặc vì các mục đích thƣơng mại. + Thuê dịch vụ có trả tiền, đã thanh toán hoặc đã hứa thanh toán hoặc đã thanh toán một phần và hứa thanh toán một phần, hoặc theo cách trả dần; khái niệm này bao gồm cả những ngƣời đƣợc hƣởng dịch vụ đó ngoài ngƣời trực tiếp thuê dịch vụ có trả tiền, đã thanh toán hoặc đã hứa thanh toán, hoặc đã thanh toán và hứa thanh toán một phần, hoặc theo cách trả dần một khi dịch vụ này có sự tán thành của ngƣời đã đƣợc nhắc đến đầu tiên ở trên. Luật BVNTD ở Liên Xô cũ định nghĩa NTD là “công dân sử dụng, mua, đặt hàng hoặc có ý định mua sắm sản phẩm để sử dụng riêng”. Luật BVNTD của Séc và Xlôvăc số 634 ngày 16/12/1992 định nghĩa “NTD là người vì mình hoặc vì các thành viên của gia đình mình mua sắm sản phẩm hoặc sử dụng dịch vụ để tiêu dùng cho mục đích cá nhân”. Luật Tiêu dùng của CHLB Đức định nghĩa NTD là ngƣời sử dụng hàng hoá hoặc dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của cá nhân hoặc gia đình, hay nói cách khác đó là “NTD cuối cùng”, “end consumer”. Luật Tiêu dùng Pháp định nghĩa: “NTD được hiểu là người không phải chủ doanh nghiệp, tức là thể nhân mua các sản phẩm và dùng các dịch vụ không nhằm mục đích hoạt động nghề nghiệp, kiếm lợi nhuận để phục vụ cho gia đình hoặc bản thân” 22, tr. 24 . “NTD là người mua hàng hoá hoặc dịch vụ để sử dụng cho cá nhân, gia đình hoặc hộ gia đình mà không có ý định bán lại; là một tự nhiên nhân sử dụng sản phẩm phục vụ mục đích cá nhân, không phải nhằm mục đích kinh doanh” 4, tr. 311 . “NTD là người mua hàng hoá hoặc dịch vụ nhằm mục đích cuối cùng là tiêu dùng hoặc sử dụng cho cá nhân, gia đình hoặc hộ gia đình” 11, tr. 3 . Hầu hết luật BVNTD của các nƣớc đều chỉ áp dụng cho mục đích tiêu dùng cá nhân và gia đình, không dùng cho tiêu dùng sản xuất vì trong phạm vi sản xuất và tiêu dùng cho sản xuất các nƣớc đều đã có nhiều quy định chi tiết, chặt chẽ trong nhiều đạo luật và quy định dƣới luật cho nhiều lĩnh vực 8 khác nhau. Bên cạnh những điểm chung đó, định nghĩa của mỗi nƣớc lại có những sắc thái riêng khác nhau: + Định nghĩa của Thái Lan hơi hẹp chỉ bao gồm “hoặc mua, hoặc sử dụng”. + Định nghĩa của Ấn Độ nêu đƣợc nhiều chi tiết cụ thể cho những tình huống khác nhau nhƣng chỉ rõ ý mua hàng, thuê dịch vụ còn vấn đề sử dụng thì chƣa thật rõ ràng. + Định nghĩa của Liên Xô (cũ) chỉ dùng đƣợc cho hàng hoá, thiếu khâu dịch vụ. + Định nghĩa của Séc và Xlôvăc không nói đến vấn đề sử dụng hàng hoá. Những định nghĩa và quan niệm trên là rất quan trọng vì nó sẽ xác định ai là NTD, ai là ngƣời sẽ đƣợc bảo vệ trong các chính sách và pháp luật, quy định đƣợc ban hành về bảo vệ NTD của mỗi nƣớc. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về NTD nhƣng qua những định nghĩa trên, có thể xác định phạm vi của khái niệm NTD nhƣ sau: Thứ nhất, NTD có thể là: + Ngƣời mua hàng hoá hoặc dịch vụ (Theo Đại Từ điển Tiếng Việt “Hàng hoá là sản vật dùng để bán nói chung”. Theo Điều 5 Luật Thƣơng mại, hàng hoá đƣợc hiểu là các tài sản hữu hình gồm: máy móc, thiết bị, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng, các động sản khác đƣợc lƣu thông trên thị trƣờng và nhà ở dùng để kinh doanh. Nhƣ vậy, khái niệm “hàng hoá” theo Luật Thƣơng mại đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp. Theo tác giả, cần xem xét lại khái niệm này. 9 Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 179/2004/NĐ-CP ngày 21/10/2004 quy định quản lý nhà nƣớc về chất lƣợng sản phẩm, hàng hoá định nghĩa: “Sản phẩm là kết quả của các hoạt động, các quá trình, bao gồm dịch vụ, phần mềm, phần cứng và vật liệu để chế biến hoặc đã được chế biến. Hàng hoá là sản phẩm được đưa vào tiêu dùng thông qua trao đổi, buôn bán”. Cũng theo Đại Từ điển Tiếng Việt “Dịch vụ là công việc phục vụ cho đông đảo dân chúng”. Các dịch vụ gắn với hoạt động mua bán hàng hoá theo Luật Thƣơng mại cũng đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp, bao gồm các dịch vụ đƣợc liệt kê trong Điều 45 Luật Thƣơng mại, ví dụ dịch vụ giao nhận hàng hoá, dịch vụ giám định hàng hoá. Các hoạt động tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hoá cũng chỉ đƣợc hiểu bao gồm: khuyến mại, quảng cáo thƣơng mại, trƣng bày giới thiệu hàng hoá và hội chợ, triển lãm thƣơng mại). + Ngƣời sử dụng hàng hoá hoặc dịch vụ; + Ngƣời mua và sử dụng hàng hoá hoặc dịch vụ. Thứ hai, hàng hoá và dịch vụ đó nhằm phục vụ cho cá nhân và gia đình hoặc tập thể với mục đích tiêu dùng cá nhân, không phải với mục đích để buôn đi bán lại kiếm lời, cũng không phải với mục đích để sản xuất. “Tập thể” ở đây đƣợc hiểu là một cộng đồng cùng sống, cùng sinh hoạt với nhau và cùng có những nhu cầu về tiêu dùng cá nhân (không phải tiêu dùng sản xuất) ví dụ trẻ em ở nhà trẻ, học sinh, sinh viên ở nội trú, các đơn vị lao động có nhà bếp chung, nơi ăn nghỉ chung v.v... Có thể phân biệt giữa tiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng cho sinh hoạt cá nhân theo sơ đồ sau: TIÊU DÙNG TIÊU DÙNG CHO MỤC ĐÍCH SẢN XUẤT CHO MỤC ĐÍCH SINH HOẠT CÁ NHÂN 10 NGƢỜI SẢN XUẤT NGƢỜI TIÊU DÙNG Điều 2 Nghị định 69/2001/NĐ-CP ngày 02/10/2001 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh BVNTD xác định: “1. Những quy định của Nghị định này điều chỉnh đối với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng sinh hoạt và nhu cầu công việc của tổ chức, cá nhân, gia đình. 2. Người mua sử dụng hàng hoá, dịch vụ phục vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt và nhu cầu công việc của tổ chức, cá nhân, gia đình bao gồm: a. Người mua và là người sử dụng hàng hoá, dịch vụ đã mua cho chính bản thân mình; b. Người mua hàng hoá, dịch vụ cho người khác, cho gia đình hoặc cho tổ chức sử dụng; c. Cá nhân, gia đình, tổ chức sử dụng hàng hoá, dịch vụ do người khác mua hoặc do được cho, tặng”. Đồng thời, Điều 3 Nghị định này quy định: “Người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục đích sản xuất, kinh doanh không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này”. Nhƣ vậy, khái niệm NTD và phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh BVNTD Việt Nam cũng tƣơng đồng với quy định của Quốc tế về NTD (CI) và pháp luật nhiều nƣớc trên thế giới. Sự khác nhau giữa “người tiêu dùng” và “khách hàng”: Khách hàng (thuật ngữ Tiếng Anh là “customer”, “client”) là ngƣời mua hàng hoá hoặc dịch vụ. Khác với NTD “end consumer”, khách hàng là ngƣời mua hàng hoá, dịch vụ để sử dụng cho bản thân hoặc để làm nguyên liệu cho sản xuất (ngƣời sản xuất mua sản phẩm về để tiếp tục gia công, chế biến trong quá trình sản xuất để làm ra hàng hoá) hoặc là ngƣời lƣu thông mua hàng hoá 11 về để bán buôn hoặc bán lẻ, hoặc là ngƣời làm dịch vụ mua hàng hoá về để phục vụ cho quá trình thực hiện dịch vụ của mình. Trƣờng hợp khách hàng mua hàng hoá hay dịch vụ để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cá nhân cho bản thân, gia đình hoặc tập thể thì khách hàng ở đây sẽ đồng nghĩa với khái niệm NTD. “NTD” là một thuật ngữ pháp lý còn “khách hàng” không phải là một thuật ngữ pháp lý. 1.1.1.2. Nhu cầu bảo vệ người tiêu dùng Quan hệ trong xã hội chủ yếu là giữa NTD và ngƣời sản xuất, kinh doanh, phân phối hàng hoá, dịch vụ. Trong mối quan hệ giữa NTD với các nhà sản xuất, kinh doanh, NTD luôn là ngƣời yếu thế và chịu thiệt thòi. Điều này thực sự đã hạn chế sự phát triển của xã hội. Vì vậy, từ hàng trăm năm nay, ở nhiều nƣớc đã đặt ra vấn đề NTD, chống lại sự lạm dụng của những nhà sản xuất, kinh doanh làm thiệt hại đến quyền lợi của NTD và chống lại những bất công trong xã hội. Ở những nƣớc mà nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trƣờng, ngoài việc buôn bán, giao dịch giữa các doanh nghiệp với nhau thì quan hệ kinh tế chủ yếu là quan hệ giữa các nhà sản xuất, kinh doanh và NTD. Bảo vệ lợi ích của NTD là một trong những nhiệm vụ quan trọng của tất cả các quốc gia trên thế giới và đặc biệt cấp bách đối với các nƣớc đang phát triển, bởi vì xét từ khía cạnh kinh tế học, thì tiêu dùng là một khâu của quá trình tái sản xuất; là mục đích và điều kiện tiên quyết của sản xuất. BVNTD thực chất cũng là bảo vệ sản xuất, bảo đảm cho sản xuất phát triển vừa hiệu quả, vừa đúng hƣớng. Xét từ góc độ xã hội - nhân văn thì rõ ràng con ngƣời là trung tâm của những mối quan tâm về sự phát triển bền vững, toàn diện và lâu dài; con ngƣời có quyền đƣợc hƣởng một cuộc sống hạnh phúc và lành mạnh; NTD có quyền đƣợc hƣởng các sản phẩm an toàn, phù hợp với khả năng và điều kiện của mình. NTD là tất cả mọi ngƣời, là lớp ngƣời đông đảo nhất, giữ vị trí trung tâm của nền kinh tế. Trong cơ chế thị trƣờng, NTD thƣờng đƣợc suy tôn là “Thƣợng đế”. Vậy mà, có lúc các vị “Thƣợng đế” vẫn phải phiền lòng với những nỗi khổ thời cơ chế thị trƣờng. Trên thực tế, NTD đang là nạn nhân của 12 một số thủ đoạn kinh doanh bất lƣơng, các quảng cáo không trung thực, lừa gạt, của tệ làm hàng giả, thiếu an toàn và vệ sinh, của việc làm tổn hại và huỷ diệt môi trƣờng sống. Trong nền kinh tế, thị trƣờng chủ yếu do tiêu dùng điều tiết. Ở nƣớc nào cũng vậy, NTD bao giờ cũng là lực lƣợng đông đảo nhất trong xã hội, là lớp ngƣời có ảnh hƣởng to lớn đến những quyết sách về kinh tế, dù là của Nhà nƣớc hay của khu vực tƣ nhân. Theo thống kê, ở Mỹ, khối lƣợng giao dịch của NTD chiếm đến 65% tổng số giao dịch của cả nƣớc, chính phủ và các doanh nghiệp chỉ đóng góp 35% 11, tr. 3 . Mức sống của ngƣời dân càng đƣợc cải thiện thì mức độ tiêu dùng càng cao. Việc mua bán, sử dụng hàng hoá và dịch vụ của NTD là chỉ số quan trọng định hƣớng cho sự phát triển của nền kinh tế. 200 năm trƣớc đây, nhà kinh tế học Adam Smith đã viết: “Tiêu dùng là kết quả và mục đích duy nhất của sản xuất và lợi ích của nhà sản xuất cũng gắn liền vào đó chừng nào mà lợi ích của nhà sản xuất còn cần thiết cho việc thúc đẩy lợi ích của NTD” 11, tr. 3 . Với vai trò là NTD, chúng ta phải tiêu dùng các hàng hoá và dịch vụ trong suốt cả đời ngƣời trong khi chúng ta chỉ làm việc đến 60 tuổi đối với nam và 55 tuổi đối với nữ. Tuy là số đông, nhƣng NTD không đƣợc tổ chức lại nên họ khó có sức mạnh, tiếng nói đơn lẻ của họ cũng rất ít đƣợc lắng nghe. So với những ngƣời chuyên môn, thì ở những lĩnh vực nhất định, NTD kém hiểu biết hơn, không tƣơng xứng về trình độ với những vấn đề kinh tế, văn hoá và khả năng mua bán so với các nhà sản xuất, phân phối, quảng cáo và các nhà buôn. NTD có quyền đƣợc dùng các sản phẩm an toàn. BVNTD góp phần cổ vũ sự phát triển kinh tế, xã hội một cách đúng đắn, công bằng và hợp lý. 1.1.2. Khái niệm pháp luật bảo vệ người tiêu dùng Theo nghĩa chung nhất “pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành (hoặc thừa nhận) và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm tạo ra trật tự và ổn định trong xã hội” 39, tr. 226 . “Bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng” là tổng hợp các biện pháp đƣợc Nhà nƣớc quy định và bảo đảm thực hiện để bảo đảm quyền lợi của ngƣời mua và sử dụng hàng hoá, dịch vụ; ngăn chặn những ngƣời bán hàng, làm hàng có 13 hành vi gian dối... để thu lợi bất chính (bao gồm các biện pháp pháp luật, kinh tế, văn hoá, xã hội). Nói cách khác, BVNTD chính là làm cho các quyền của NTD đƣợc thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, trong số các công cụ chủ yếu đƣợc Nhà nƣớc sử dụng để BVNTD thì pháp luật là công cụ có hiệu quả hơn cả vì nó là phƣơng thức đƣa các công cụ BVNTD khác vào cuộc sống trong điều kiện Nhà nƣớc pháp quyền và xã hội công dân. “Luật Bảo vệ người tiêu dùng là luật của bang hoặc liên bang được ban hành nhằm BVNTD trước những hành vi thương mại hoặc hoạt động tín dụng không lành mạnh có liên quan đến hàng tiêu dùng, đồng thời BVNTD trước những hàng hoá nguy hại hoặc hàng giả” 4, tr. 312 . “Luật Người tiêu dùng là lĩnh vực pháp luật điều chỉnh những giao dịch liên quan đến NTD, đó là việc sử dụng tín dụng, tiêu dùng hàng hoá, bất động sản hoặc những dịch vụ phục vụ cho cá nhân, gia đình hoặc hộ gia đình” 4, tr. 312 . Theo quan điểm chiếm ƣu thế trong luật học Pháp, luật tiêu dùng là tổng thể các quy phạm pháp luật nhằm bảo hộ lợi ích của NTD hàng hoá và dịch vụ 22, tr. 24 . Ngoài những quy phạm của luật dân sự và thƣơng mại, luật tiêu dùng còn chứa đựng những quy phạm của luật hành chính, luật tố tụng hình sự. Từ những định nghĩa trên, tác giả mạnh dạn xây dựng khái niệm pháp luật BVNTD nhƣ sau: Pháp luật BVNTD là hệ thống các nguyên tắc và quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong hoạt động bảo vệ người tiêu dùng. 1.1.3. Vai trò của pháp luật bảo vệ ngƣời tiêu dùng Pháp luật BVNTD có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NTD; tăng cƣờng hiệu lực quản lý nhà nƣớc, nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ trong việc bảo vệ quyền lợi NTD. Việc Nhà nƣớc ban hành các văn bản pháp luật quy định việc bảo vệ quyền lợi NTD không những làm cho quyền lợi NTD đƣợc bảo vệ tốt hơn mà còn làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, đồng thời cũng là duy trì và bồi dƣỡng cho một 14 động lực quan trọng về kinh tế. Nền kinh tế thị trƣờng càng phát triển thì vấn đề NTD và BVNTD càng cần đề ra một cách nghiêm túc và cấp thiết. BVNTD ở Việt Nam là vấn đề rất quan trọng. Hiến pháp năm 1992 nêu rõ, Nhà nƣớc có chính sách bảo vệ quyền lợi của NTD. Điều 623 Bộ luật Dân sự đã quy định về bồi thƣờng thiệt hại do vi phạm quyền lợi của NTD. Pháp lệnh BVNTD ra đời năm 1999 là công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi NTD, tạo môi trƣờng thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc trong giai đoạn cách mạng mới. Các văn bản pháp luật về BVNTD nhằm tạo ra một hành lang pháp lý cho việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của NTD; bảo vệ sự ổn định và cải thiện đời sống nhân dân bằng cách định ra trách nhiệm của Nhà nƣớc, của chính quyền địa phƣơng và của các nhà sản xuất, kinh doanh; định ra các biện pháp đồng bộ để bảo vệ và đề cao quyền lợi của NTD. Việc thực hiện pháp luật BVNTD còn góp phần ổn định an ninh trật tự xã hội, nâng cao cuộc sống, ổn định và phát triển kinh tế. 1.2. Nội dung cơ bản của pháp luật bảo vệ ngƣời tiêu dùng Phát biểu tại Thƣợng viện Mỹ ngày 15/3/1962, cố Tổng thống Mỹ GiônKen-nơ-đi nói: “NTD theo định nghĩa, bao gồm toàn thể chúng ta. Họ là nhóm người đông đảo nhất, có ảnh hưởng và chịu ảnh hưởng của hầu hết các quyết định về kinh tế, dù là của nhà nước hay tư nhân. Vậy mà họ là nhóm người quan trọng độc nhất mà quan điểm của họ thường không được chú ý tới” 14, tr. 1. Tuyên bố Ken-nơ-đi lúc đầu chỉ đề cập đến 4 quyền cơ bản của NTD là: quyền đƣợc an toàn; quyền đƣợc thông tin; quyền đƣợc lựa chọn và quyền đƣợc bày tỏ quan điểm. Bốn quyền này là cốt lõi trong cƣơng lĩnh của các tổ chức NTD trên thế giới hồi đó. Ngày nay, hầu hết các tổ chức NTD của các nƣớc đƣợc tập hợp lại trong Tổ chức Quốc tế NTD - CI. Qua quá trình hoạt động thực tiễn Quốc tế NTD và các tổ chức NTD các nƣớc đã bổ sung thêm 4 quyền của NTD. Đó là các quyền: quyền đƣợc thoả mãn những nhu cầu cơ bản; quyền đƣợc khiếu nại và bồi thƣờng; quyền đƣợc giáo dục, đào tạo về tiêu dùng; quyền đƣợc có môi trƣờng sống lành mạnh và bền vững.
- Xem thêm -