Pháp luật hải quan Việt Nam trước yêu cầu thực hiện tự do hóa thương mại và nghĩa vụ thành viên WTO

  • Số trang: 161 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 31 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT PHẠM THỊ HẢI YẾN PHÁP LUẬT HẢI QUAN VIỆT NAM TRƢỚC YÊU CẦU THỰC HIỆN "TỰ DO HÓA THƢƠNG MẠI" VÀ NGHĨA VỤ THÀNH VIÊN WTO LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2008 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1.1. 1 Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 7 Tự do hóa thương mại vừa là mục tiêu đầu tiên và chính yếu, vừa là một trong những nguyên tắc cơ bản của khung pháp 7 luật WTO 1.1.1. Mục tiêu thúc đẩy tự do hóa thương mại của hệ thống GATT/WTO 7 1.1.2. Nguyên tắc và nội dung tự do hóa thương mại 9 1.2. Thực hiện tự do hóa thương mại trong WTO - nhìn từ góc độ 12 hải quan 1.2.1. Thuận lợi hóa thương mại 13 1.2.2. Bảo đảm an ninh thương mại 15 1.2.3. Hải quan Việt Nam thực hiện tự do hóa thương mại trong WTO bằng cách giải quyết mối quan hệ giữa thuận lợi hóa 16 và bảo đảm an ninh thương mại 1.3. Cơ sở thực tiễn và pháp lý để hải quan Việt Nam thực hiện 18 bảo đảm an ninh và tạo thuận lợi cho tự do hóa thương mại trong WTO 1.4. Vai trò điều chỉnh hoạt động Hải quan của pháp luật Hải quan Việt Nam hướng tới tự do hóa thương mại và thực hiện 28 nghĩa vụ thành viên WTO 1.5 Kinh nghiệm một số nước đã là thành viên của WTO trong 28 việc vận dụng các định chế liên quan đến hải quan và tự do hóa thương mại 1.5.1. Các quốc gia phát triển và Liên minh Hải quan 1 29 Các quốc gia đang phát triển và các quốc gia trong khu vực 37 Chƣơng 2: PHÁP LUẬT HẢI QUAN VIỆT NAM THỰC HIỆN CÁC YÊU CẦU CỦA TỰ DO HÓA THƢƠNG MẠI TRONG TƢƠNG QUAN SO SÁNH VỚI CÁC ĐỊNH CHẾ LIÊN QUAN ĐẾN HẢI QUAN CỦA WTO 45 2.1. Các quy định của WTO liên quan đến hải quan nhằm bảo đảm an ninh và tạo thuận lợi cho tự do hóa thương mại 45 2.1.1. Các yêu cầu nhất quán chung 45 2.1.2. Thể hiện trong nội dung của hệ thống các hiệp định WTO 48 2.2. Thực trạng pháp luật hải quan Việt Nam về bảo đảm an ninh và tạo thuận lợi cho tự do hóa thương mại sau khi gia nhập WTO 66 2.2.1. Kết quả đem lại từ cải cách pháp luật sau khi gia nhập WTO 66 2.2.2. Những sửa đổi cụ thể của pháp luật Hải quan Việt Nam, các pháp luật khác có liên quan về bảo đảm an ninh, tạo thuận lợi cho tự do hóa thương mại trong WTO 67 2.3. Đánh giá tính tương thích của pháp luật hải quan Việt Nam trong tương quan so sánh với các định chế pháp lý của WTO 97 2.3.1. Pháp luật Hải quan Việt Nam trong tiến trình thực thi một số Hiệp định điển hình về Tự do hóa thương mại hàng hóa 100 2.3.2. Pháp luật Hải quan Việt Nam trong thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ 105 Chƣơng 3: GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HẢI QUAN VIỆT NAM NHẰM THỰC HIỆN TỐT YÊU CẦU CỦA TỰ DO HÓA THƢƠNG MẠI VÀ NGHĨA VỤ THÀNH VIÊN WTO 109 Thực trạng thực thi pháp luật hải quan Việt Nam về bảo đảm an ninh và tạo thuận lợi cho tự do hóa thương mại trong WTO 109 1.5.2. 3.1. 2 3.1.1. Các quy định pháp luật về tạo thuận lợi trong quy trình thủ tục hải quan bị doanh nghiệp lợi dụng để gian lận thương mại 109 3.1.2. Chính sách ưu đãi thuế bị doanh nghiệp lợi dụng để gian lận, trốn thuế 112 3.1.3. Quy định về kiểm soát hải quan tạo thuận lợi cho xuất nhập cảnh và một số loại hình xuất nhập khẩu đặc thù bị lợi dụng 114 3.1.4. Tính chất lưỡng tính trong phân loại, áp mã HS của một số mặt hàng bị doanh nghiệp lợi dụng để khai báo không trung thực về trị giá hải quan 117 3.2. Nguyên tắc chỉ đạo chung, chiến lược phát triển ngành 121 3.2.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước 121 3.2.2. Chương trình hành động của Chính phủ, Bộ Tài chính 122 3.2.3. Kế hoạch hành động của ngành Hải quan Việt Nam 122 3.3. Giải pháp đề xuất 125 3.3.1. Cải cách pháp luật điều chỉnh một số vấn đề liên quan tới quy trình, thủ tục hải quan 126 3.3.2. Cải cách pháp luật về trị giá tính thuế, thuế và các biện pháp phi thuế quan 131 3.3.3. Cải cách pháp luật liên quan tới cơ chế kiểm soát an ninh 136 KẾT LUẬN 142 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 145 3 DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu Tên bảng Trang bảng 2.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu 2006, 2007 67 2.2 So sánh mức cam kết cắt giảm thuế quan 84 2.3 Tình hình thực hiện cắt giảm thuế cho 2 năm 2007 và 2008 85 2.4 Tỷ lệ vi phạm bản quyền ở Việt Nam và Trung Quốc 91 3.1 Vốn đầu tư cho các cấu phần liên quan tới thuận lợi hóa 123 và bảo đảm an ninh thương mại DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ Số hiệu Tên sơ đồ Trang Trong khuôn khổ WT0 - Hệ thống điều ước quốc tế trực 25 sơ đồ 1.1 tiếp liên quan tới lĩnh vực hải quan 2.1 Các vấn đề liên quan tới thuế quan và trị giá tính thuế 83 2.2 Các văn bản điều chỉnh thuế quan và trị giá tính thuế 83 4 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Số hiệu Tên biểu đồ Trang Tỷ lệ thuế suất so sánh giữa mức cam kết cắt giảm trong 84 biểu đồ 2.1 WTO với mức thuế suất MFN 5 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Hoạt động hải quan là hoạt động quản lý nhà nước đối với hàng hóa và phương tiện vận tải của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước được xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh vào/ ra/ trong lãnh thổ hải quan. Đây là hoạt động mang nhiều nét đặc thù diễn ra ở các tuyến giao thông biên giới bao gồm cả đường thủy, đường bộ, đường sắt, đường hàng không hoặc các khu vực có chế độ quản lý riêng đặt tại nội địa nhưng có ranh giới tách biệt với khu dân cư như khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, các khu kinh tế - thương mại, v.v... Do đó, đây là lĩnh vực luôn luôn chứa đựng yếu tố nước ngoài và phản ánh khối lượng cũng như quy mô phát triển thương mại quốc tế của mỗi quốc gia. Pháp luật điều chỉnh hoạt động hải quan ("pháp luật về hải quan"), vì thế là một trong những hành lang pháp lý quan trọng hàng đầu quyết định tới việc thúc đẩy hoặc kìm hãm mức độ Tự do hóa thương mại và đầu tư của mỗi một quốc gia. Cụ thể, pháp luật về hải quan là nhân tố quyết định trực tiếp tới mức độ hiệu quả trong kiểm tra, kiểm soát, giám sát để bảo đảm an ninh và tăng cường thuận lợi trong các hoạt động giao thương quốc tế của mỗi một quốc gia. Có thể thấy phạm vi tác động của nhân tố này biểu hiện trên các phương diện như: thủ tục hải quan (hồ sơ giấy tờ, quy trình kiểm tra, thông quan), chính sách mặt hàng, chính sách quản lý đối với từng loại hình xuất - nhập khẩu,… Thông qua pháp luật hải quan, hàng hóa nhập khẩu vào hoặc xuất khẩu từ lãnh thổ Việt Nam được bảo đảm về các phẩm chất, tiêu chuẩn như: an toàn vệ sinh, chất lượng tốt, không gây hại tới môi trường - sức khỏe con người… Cũng xuất phát từ tính chất thường trực là có yếu tố nước ngoài trong các quan hệ pháp luật về hải quan nên pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này càng cần phải tiệm cận tốt yêu cầu về hội nhập và hài hòa hóa vào hệ thống thương 6 mại thế giới, trong đó việc tham gia và chấp nhận các luật lệ của thể chế hợp tác thương mại lớn nhất hành tinh là Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) phải được nghiêm túc đặt lên bàn cân để tính toán các cơ hội và thách thức. Sớm nhận thức được đòi hỏi khách quan này, Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập WTO ngay từ 01/1995 và được WTO chính thức nhận đơn để tiến hành đàm phán cũng vào thời gian này. Sau một loạt các nỗ lực để đáp ứng yêu cầu mà các đối tác ở các trình độ phát triển kinh tế khác nhau đặt ra trong khoảng hơn 200 phiên đàm phán đa phương và song phương kéo dài khoảng 11 năm (01/1995 - 11/2006), thực sự nỗ lực và tăng tốc tối đa trong 03 năm về cuối của tiến trình đàm phán (2004 - 2006), cuối cùng Việt Nam đã chính thức được hưởng hiệu lực của Quy chế thành viên thứ 150 của WTO từ ngày 11/01/2007. Một trong những mục tiêu hoạt động chủ yếu của WTO và cũng là một trong những mục tiêu hội nhập của Việt Nam trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội bền vững, đó là bảo đảm an ninh và tạo thuận lợi cho tự do hóa thương mại. Do vậy có thể thấy, yêu cầu của mục tiêu này về mặt pháp lý đã và đang được đặt ra trực tiếp đối với pháp luật Hải quan. Đó là lý do tác giả xin chọn đề tài: "Pháp luật Hải quan Việt Nam trƣớc yêu cầu thực hiện "tự do hóa thƣơng mại" và nghĩa vụ thành viên WTO" làm luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Luật quốc tế, theo đó các yêu cầu cụ thể để pháp luật Hải quan có thể thực hiện "tự do hóa thương mại" trong WTO chính là: bảo đảm an ninh và tạo thuận lợi. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Trước khi Luật Hải quan sửa đổi, bổ sung năm 2005 được ban hành, đã có một số ít công trình nghiên cứu khoa học ở cấp độ tiến sĩ, thạc sĩ nghiên cứu về đề tài này với các giác độ liên quan tới kinh tế, quan hệ kinh tế quốc tế, có thể kể tới như: - Đặt trong tiến trình thực thi Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (Luận văn thạc sĩ Luật học năm 2003 của Nguyễn Đức Lâm), trong thời kỳ hội nhập (Luận văn thạc sĩ Luật học năm 2002 của Nguyễn Ngọc Sơn), v.v... 7 - Nhiều bài viết đăng tải trên các Tạp chí Nghiên cứu Hải quan, trên website của ngành hải quan, website Ủy ban Hợp tác Kinh tế quốc tế, v.v... Trước tình hình kết quả của các công trình nghiên cứu toàn diện, hệ thống, mang tính học thuật đã trở nên lỗi thời, và các nghiên cứu riêng lẻ bị tản mạn, chưa được hệ thống hóa một cách toàn diện, thì việc tác giả tiếp tục nghiên cứu về pháp luật hải quan với góc nhìn cập nhật các diễn biến mới của hệ thống pháp luật Hải quan Việt Nam và thế giới, trước yêu cầu tất cả hướng tới tạo thuận lợi tối đa cho tự do hóa thương mại, thực hiện tốt các nghĩa vụ thành viên của WTO, nhưng không xao lãng kiểm soát an ninh - thực sự là một việc làm cần thiết và cấp thiết. 3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Mục đích nghiên cứu Mục đích của luận văn là trên cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thực hiện yêu cầu "tự do hóa thương mại" gắn với các cam kết về Hải quan trong khuôn khổ WTO, đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật Hải quan Việt Nam nhằm thực hiện tốt nghĩa vụ thành viên WTO. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích trên, tác giả luận văn đã đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ sau: (1) Nghiên cứu, làm sáng tỏ các yêu cầu mà pháp luật Hải quan Việt Nam cần thực hiện cho "tự do hóa thương mại" gắn với các cam kết về Hải quan trong WTO; (2) Tìm hiểu kinh nghiệm điển hình, cách thức vận dụng các quy định trong WTO, có thể học hỏi, áp dụng vào điều kiện Việt Nam của một số quốc gia; (3) Nghiên cứu, đánh giá mức độ tương thích của pháp luật Hải quan Việt Nam với các yêu cầu cần thực hiện cho tự do hóa thương mại trong các cam kết của Việt Nam với WTO về Hải quan; 8 (4) Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật Hải quan Việt Nam nhằm thực hiện tốt yêu cầu của "tự do hóa thương mại" và nghĩa vụ thành viên WTO. Đối tƣợng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận về "tự do hóa thương mại", các yêu cầu thực hiện "tự do hóa thương mại" đặt ra đối với hoạt động quản lý nhà nước về Hải quan; các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam liên quan đến Hải quan - tự do hóa thương mại, chủ yếu tập trung vào các hiệp định bổ sung mới sau thời kỳ thành lập WTO, đồng thời là các hiệp định có mối liên hệ mật thiết với lĩnh vực Hải quan; và các quy định của pháp luật Hải quan Việt Nam điều chỉnh trực tiếp về thương mại hàng hóa, về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ. Phạm vi nghiên cứu Luận văn nghiên cứu đề tài này dưới góc độ của Luật quốc tế. 4. Cơ sở khoa học và thực tiễn, phƣơng pháp nghiên cứu Cơ sở khoa học - Xu thế tự do hóa thương mại đang diễn ra phổ biến trên thế giới, tính tất yếu của chính sách tự do hóa thương mại trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam (cùng chiều với công cuộc cải cách, hiện đại hóa kinh tế đất nước); - Nguyên tắc tự do hóa thương mại với tính cách là một trong những nguyên tắc cơ bản của quan hệ thương mại quốc tế; mối quan hệ gắn bó không tách rời giữa tự do hóa thương mại và tạo thuận lợi cho giao lưu thương mại (thuận lợi hóa Thương mại); - Các hiệp định của WTO về tự do hóa thương mại được vận dụng vào các quốc gia khác nhau với nội dung khác nhau nhưng vẫn bảo đảm tuân thủ khung pháp lý của tổ chức này; 9 - Khung tiêu chuẩn an ninh và tạo thuận lợi cho thương mại do Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) ban hành. Cơ sở thực tiễn: Các báo cáo tổng kết, số liệu của ngành Hải quan, các chương trình, kế hoạch hợp tác khu vực và quốc tế của Hải quan Việt Nam trong ngắn hạn và dài hạn. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phân tích, trích lọc, rà soát thống kê, tổng hợp, so sánh, trên cơ sở thấm nhuần, thấu suốt quan điểm chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, quan điểm phát triển ngành của Nhà nước nói chung và lãnh đạo ngành nói riêng, kế thừa những tinh hoa trong truyền thống lập pháp của Việt Nam trong các giai đoạn trở về trước, học tập có chọn lọc những ưu việt của những nước phát triển, có trình độ lập pháp cao. 5. Những đóng góp mới của đề tài Có thể xem đây là một số đóng góp mới của đề tài: - Rà soát lại toàn bộ các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động Hải quan của Việt Nam kể từ sau khi gia nhập WTO và cung cấp các đánh giá tổng thể về những ưu điểm và nhược điểm của hệ thống pháp luật về Hải quan. - Đánh giá chuyên sâu về tính tương thích giữa hệ thống pháp luật Hải quan Việt Nam với yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thành viên WTO hướng tới tự do hóa thương mại. Cụ thể, pháp luật Hải quan Việt Nam đã làm được những gì trước mục tiêu và yêu cầu tất yếu là tự do hóa thương mại khi tham gia WTO. - Trên cơ sở đó, đưa ra các khuyến nghị, giải pháp đề xuất đối với các nhà lập pháp, các nhà xây dựng chính sách về những thay đổi thích hợp trong hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động hải quan để Việt Nam có thể thực hiện được mục tiêu và yêu cầu tất yếu nêu trên. 10 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn Kết quả nghiên cứu và những giải pháp đề xuất trong luận văn có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoàn thiện pháp luật Hải quan để Việt Nam đạt hiệu quả cao hơn trong hội nhập song phương và đa phương, nhấn mạnh tới việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thành viên WTO. Bên cạnh đó, luận văn cung cấp những thông tin và kiến thức về thực trạng của pháp luật hải quan Việt Nam, được nhìn nhận đồng thời và công bằng từ cả hai góc độ ưu điểm và nhược điểm cũng như các yếu tố chi phối đến quá trình lập pháp hải quan. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung. Chương 2: Pháp luật Hải quan Việt Nam thực hiện các yêu cầu của tự do hóa thương mại trong trong tương quan so sánh với các định chế liên quan đến Hải quan của WTO. Chương 3: Giải pháp đề xuất hoàn thiện pháp luật Hải quan Việt Nam nhằm thực hiện tốt yêu cầu của tự do hóa thương mại và nghĩa vụ thành viên WTO. 11 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 1.1. TỰ DO HÓA THƢƠNG MẠI VỪA LÀ MỤC TIÊU ĐẦU TIÊN VÀ CHÍNH YẾU, VỪA LÀ MỘT TRONG NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA KHUNG PHÁP LUẬT WTO Tự do hóa thương mại là nội dung chính trị xuyên suốt toàn bộ định chế và thể chế pháp lý của hệ thống thương mại đa phương WTO hiện đang chiếm tới trên 98% giao dịch thương mại quốc tế từ mục tiêu cho tới các nguyên tắc cơ bản quan trọng nhất, cũng như các quy định cụ thể trong các hiệp định, tuyên bố, quyết định được ban hành bởi tổ chức này. WTO đặt ra mục tiêu hoạt động là thúc đẩy tự do hóa thương mại quốc tế thông qua việc loại bỏ các rào cản trong thương mại, với một trong những nguyên tắc quan trọng là "mở cửa thị trường" thể hiện nội dung chính trị "tự do hóa thương mại" hướng tới viễn cảnh tạo lập và phát triển một hệ thống thương mại toàn cầu được hoàn toàn mở cửa. "Thương mại quốc tế" (International Trade) được định nghĩa là việc trao đổi qua biên giới quốc gia (hoặc lãnh thổ hải quan) hàng hóa, dịch vụ, yếu tố sản xuất (lao động và vốn). Theo WTO, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cũng là một nội dung của thương mại quốc tế [61, tr. 31]. 1.1.1. Mục tiêu thúc đẩy tự do hóa thƣơng mại của hệ thống GATT/WTO Tự do hóa thương mại là một phần nội dung của một trong bốn cấu phần của tầm nhìn trật tự thế giới mới được hình thành vào cuối Chiến tranh thế giới lần thứ hai gắn với việc thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO), thể chế quốc tế thực hiện ý tưởng công bằng kinh tế quốc tế, với tư cách là tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc. Tuy nhiên, sau đó, ITO không được thành lập do Mỹ không tán thành ý tưởng xây dựng "công bằng kinh tế 12 quốc tế" nên đã không phê chuẩn dự thảo Hiến chương La Havana thành lập tổ chức này. GATT (General Agreement on Tarriffs and Trade, Hiệp định chung về thuế quan và thương mại) được 23 nước ký kết ngày 30/10/1947 (có hiệu lực ngày 01/01/1948) để thúc đẩy tự do thương mại thông qua tự do hóa thương mại quốc tế, đã kế thừa chính sách thương mại của dự thảo Hiến chương La Havana năm 1947, chủ yếu bao gồm các hiệp định về giảm thuế quan (thuế nhập khẩu) và những hạn chế khác đối với tự do thương mại. Tuy nhiên trên thực tế, chỉ có những nước giàu đã công nghiệp hóa tham gia GATT. Với số lượng các quốc gia chấp nhận hạn chế như vậy, GATT đã không thúc đẩy được sự tiến bộ của các chính sách công cũng như không đạt được các mục tiêu lớn hơn của cộng đồng quốc tế. Sự tồn tại của GATT không đáp ứng được yêu cầu của thực tế, không thỏa mãn được quyền lợi của các nước mới gia nhập Liên hợp quốc sau khi giành được độc lập, đã đặt ra một vấn đề cần phải sửa đổi các quy định của hiệp định này để hoàn thiện việc tái thiết kế nền kinh tế thế giới kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II. Trải qua 8 vòng đàm phán là Geneva 1947, Annecy 1949, Torquay 1951, Geneva 1956, Dillon 1960 - 1961, Kennedy 1964 - 1967, Tokyo 1973 - 1979 và Urugoay 1986 - 1994, sau 47 năm tồn tại, các thiết chế hiện có của GATT đã biểu lộ tình trạng không đủ sức giải quyết các tranh chấp trong các quan hệ kinh tế quốc tế phát sinh đối với nhiều vấn đề mới vượt xa khuôn khổ của GATT. Cuối cùng, tại vòng đàm phán thương mại đa phương thứ 8 - vòng Urugoay, các bên tham gia thương lượng đã đạt được một loạt các thỏa thuận quan trọng liên quan tới các lĩnh vực khác nhau (trong thương mại như nông nghiệp, dệt may; liên quan tới thương mại như: sở hữu trí tuệ, đầu tư nước ngoài và khu vực dịch vụ), đi tới ký kết Hiệp ước Marrakesh tại Marrakesh (Ma-rốc) - Hiến chương của WTO vào ngày 15/4/1994 với sự tham gia kết ước của 124 Chính phủ và Cộng đồng Châu Âu, chính thức thành lập WTO, thiết chế mới tiếp tục và thay thế GATT từ ngày 01/01/1995. 13 Mục tiêu chính của luật WTO vẫn là thúc đẩy tự do hóa thương mại quốc tế. Các công cụ được lựa chọn thuộc hệ thống GATT/WTO để đạt được mục tiêu tự do hóa thương mại gồm: (1) Nguyên tắc MFN (Most favoured nation, quốc gia được ưu tiên nhất); (2) đối xử cấp quốc gia (NT, National Treatment); (3) Nhân nhượng lẫn nhau; và (4) Không phân biệt đối xử (Điều III, Hiệp ước Marrakesh thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới, 1994; Điều I, II và III của GATT 1947). 1.1.2. Nguyên tắc và nội dung tự do hóa thƣơng mại Nguyên tắc "Thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán" Cùng với các nguyên tắc khác như: Không phân biệt đối xử thông qua Quy chế tối huệ quốc (MFN) và Quy chế đối xử quốc gia (NT); minh bạch chính sách, dễ dự báo, dự đoán; khuyến khích cạnh tranh công bằng; khuyến khích cải cách kinh tế và phát triển, thì thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán là một trong năm nguyên tắc cơ bản được ghi nhận xuyên suốt trong hệ thống các hiệp định của WTO. Tuy tồn tại dưới dạng nhiều tên gọi khác nhau, phạm vi nội hàm qua mỗi thời kỳ lịch sử có những nội dung khác nhau, nhưng nguyên tắc này vẫn hướng tới một mục tiêu thống nhất là tự do hóa nền thương mại quốc tế hiện đại. * Sơ lược lịch sử ra đời và phát triển của nguyên tắc "Thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán": [61, tr. 64] Đây là nguyên tắc mà GATT và WTO theo đuổi suốt quá trình hoạt động của mình. Vào thời kỳ của Hiệp định GATT 1947, tiền thân của WTO: mặc dù chỉ là hiệp định tạm thời mang tính thỏa thuận đa phương được lựa chọn, nhưng GATT đã đóng vai trò chủ chốt trong các quan hệ kinh tế quốc tế trong suốt 47 năm tồn tại. Tuy nhiên, lúc bấy giờ "Thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán" không được coi là nguyên tắc hoạt động chủ yếu của GATT. Nguyên tắc hoạt động chủ yếu của GATT lúc bấy giờ là "đồng thuận" 14 vì GATT không phải là tổ chức, chỉ là hiệp định, trong đó đòi hỏi các thành viên tham gia phải chấp nhận các cam kết ở các mức độ khác nhau trong khuôn khổ đa phương và song phương. GATT đã thể hiện vai trò chủ chốt của mình để góp phần vào Tự do hóa thương mại bằng quá trình cắt giảm thuế quan, bãi bỏ những hạn chế về thương mại và chống phân biệt đối xử về kinh tế trong buôn bán giữa các nước, nhưng chỉ mới áp dụng đối với thương mại hàng hóa. GATT 1947 đã trải qua một loạt sửa đổi trong hai thập niên 1960 và 1970 để cố gắng đảm đương tốt vai trò điều tiết nền thương mại quốc tế. Vào cuối những năm 1970 một phần mới là Phần IV - "Hệ thống tổng quát các ưu tiên" (GSP) được áp dụng nhằm ủng hộ các nước đang phát triển đã được bổ sung vào GATT để giải quyết nguy cơ GATT có thể không còn nhận được sự tham gia của nhiều nước đang phát triển vì không giải quyết được vấn đề kinh tế của các nước này sau khi họ giành được độc lập và tái thiết kinh tế. GSP là chế độ tối huệ quốc đặc biệt của các nước công nghiệp phát triển dành cho các nước đang và chậm phát triển. Bản chất của chế độ GSP là các nước công nghiệp phát triển sẽ áp dụng chế độ miễn thuế hoặc thuế rất thấp cho hàng hóa của các nước đang phát triển, nhằm giúp hàng hóa của các nước này có điều kiện thâm nhập được vào thị trường các nước phát triển. Tại vòng đàm phán cuối cùng của GATT là vòng đám phán Urugoay 1993, nhiều vấn đề của tự do hóa thương mại đã được mở rộng hơn nhiều so với GATT như phần tự do hóa dịch vụ, sở hữu trí tuệ và cơ chế giải quyết tranh chấp bảo đảm cho tự do hóa thương mại được thực thi linh hoạt hơn. Đây chính là bước ngoặt để từ đây GATT hoàn tất vai trò lịch sử của mình, mở ra một thời kỳ hoàn toàn mới của nền thương mại quốc tế. Thời kỳ bắt đầu từ khi WTO đƣợc thành lập: Chỉ sau khi vòng đàm phán Urugoay 1986 - 1994 kết thúc ít lâu, vào ngày 01/01/1995, WTO đã thực sự thay thế GATT, hình thành nên một thể chế thương mại quốc tế và khung pháp lý đồ sộ bao gồm hệ thống 16 hiệp định đa phương và 02 hiệp định nhiều bên (điều chỉnh các đối tượng, các hoạt động trong các lĩnh vực: 15 Thương mại hàng hóa; thương mại dịch vụ; đầu tư liên quan đến thương mại; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại; cơ chế giải quyết tranh chấp; rà soát chính sách thương mại). Khung pháp lý này đã vận dụng các nguyên tắc cơ bản của WTO để điều chỉnh nền thương mại quốc tế theo mục tiêu trước tiên là "tự do hóa". "Thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán" là một trong năm nguyên tắc cơ bản của WTO (04 nguyên tắc còn lại là: (1) Không phân biệt đối xử thông qua Quy chế tối huệ quốc (MFN) và Quy chế đối xử quốc gia (NT); (2) Minh bạch chính sách, dễ dự báo, dự đoán; (3) Khuyến khích cạnh tranh công bằng; và (4) Khuyến khích cải cách kinh tế và phát triển). * Nội dung của nguyên tắc "Thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán" thời kỳ này đặt trọng tâm hiệu quả mục tiêu vào đàm phán song phương và đa phương của các thành viên WTO để giảm dần tiến tới dỡ bỏ các rào cản thương mại (thuế, rào cản phi thuế quan như hạn ngạch, định lượng nhập khẩu, giấy phép...) ngoại trừ những "rào cản kỹ thuật" ở mức phù hợp liên quan đến bảo vệ sức khỏe, môi trường, động thực vật, bảo đảm an ninh. Những quy định vốn là những rào cản đối với lĩnh vực đầu tư như cân đối xuất nhập khẩu, cân đối ngoại tệ, chính sách nội địa hóa... cũng bị dỡ bỏ ở những quốc gia là thành viên của WTO. Tính tới ngày 23/7/2008 (ngày gia nhập của quốc gia thành viên mới nhất là Cape Verde), định chế thương mại toàn cầu WTO đã thu hút sự tham gia của 153 quốc gia [118]. Các quốc gia thành viên có quan hệ thương mại quốc tế trong khuôn khổ WTO đều phải tuân thủ triệt để và nghiêm minh các nguyên tắc nền tảng, "tự do hóa thương mại" là một trong năm nguyên tắc cơ bản của loại quan hệ này. Nội dung có liên quan tới hoạt động hải quan của nguyên tắc này như sau: Các hàng rào cản trở thương mại dần dần được loại bỏ, cho phép các nhà sản xuất hoạch định chiến lược kinh doanh dài hạn, có thời gian điều chỉnh, nâng cao sức cạnh tranh hoặc chuyển đổi cơ cấu. Mức độ cắt giảm các 16 hàng rào bảo hộ được thỏa thuận thông qua các cuộc đàm phán song phương và đa phương. Qua các vòng đàm phán thuế quan của các thành viên kết ước sẽ được cắt giảm. Các rào cản phi thuế hạn chế nhập khẩu cũng được cắt giảm dần, các biện pháp hạn chế định lượng bị cấm sử dụng. Hoạt động hải quan là hoạt động can thiệp trực tiếp vào tính chất tự do hóa của nền thương mại quốc tế, vì lực lượng hải quan được ví như "người gác cửa biên giới", là lực lượng tiếp đón đầu tiên và tiễn đưa cuối cùng, trực tiếp thực hiện các chính sách mở cửa, giao lưu, hội nhập của một Nhà nước với các thực thể quốc tế ở bên ngoài biên giới lãnh thổ quốc gia. Các lĩnh vực thương mại được tự do hóa trong WTO có liên quan tới công tác quản lý của hải quan bao gồm: Thương mại hàng hóa; bảo hộ cho các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ. Nội dung liên quan tới quyền sở hữu trí tuệ là một nội dung mới được mở rộng trong vòng đàm phán Urugoay. Trong đó, các quy tắc về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã đưa ra một khuôn khổ pháp lý an toàn hơn cho tự do hóa thương mại. Các ngoại lệ của nguyên tắc dành cho các thành viên đang và kém phát triển: liên quan tới an ninh quốc gia, vệ sinh, an toàn và môi trường, là các quy tắc về các biện pháp tự vệ, chống bán phá giá, đánh thuế đối kháng, v.v.. 1.2. THỰC HIỆN TỰ DO HÓA THƢƠNG MẠI TRONG WTO - NHÌN TỪ GÓC ĐỘ HẢI QUAN Phần trình bày tại 1.1 đưa tới nhận định: thực hiện tự do hóa thương mại trong WTO chính là thực hiện mục tiêu và nguyên tắc nền tảng của khung pháp luật WTO được thể hiện xuyên suốt toàn bộ các hiệp định của hệ thống thương mại đa phương toàn cầu này. Gia nhập WTO, Việt Nam có nghĩa vụ thực thi đầy đủ các nội dung cam kết về tự do hóa thương mại được nêu trong nghị định thư về việc gia nhập và biểu cam kết thương mại hàng hóa. Trong đó, Hải quan thực thi các cam kết về tự do hóa thương mại trên hai phương diện: thuận lợi hóa và bảo đảm an ninh thương mại. 17 Nội hàm của hai khái niệm "thuận lợi hóa thương mại" và "bảo đảm an ninh thương mại" được trình bày dưới đây không theo thứ tự ưu tiên mức độ quan trọng. Nhìn từ góc độ quản lý nhà nước, thì "bảo đảm an ninh" sẽ là khái niệm cần phải tính tới trước tiên, song nếu nhìn từ góc độ phát triển thương mại, hay nhằm tự do hóa thương mại, thì khái niệm "thuận lợi hóa" lại nhận được sự ưu tiên. 1.2.1. Thuận lợi hóa thƣơng mại Tạo thuận lợi cho thương mại (Trade facilitation) là một vấn đề mới nổi trong hệ thống thương mại đa phương, là việc dỡ bỏ những trở ngại đối với việc giao lưu hàng hóa qua biên giới để thúc đẩy thương mại phát triển. Hiểu theo khái niệm đã được chấp nhận rộng rãi của WTO thì "thuận lợi hóa thương mại" là "đơn giản hóa và hài hòa hóa các quy trình thương mại quốc tế" trong đó các quy trình thương mại là "các hoạt động, thực tiễn và các thủ tục liên quan đến việc thu thập, xuất trình, liên lạc và xử lý dữ liệu cần thiết cho việc di chuyển hàng hóa trong thương mại quốc tế" [61, tr. 308]. Cụ thể tạo thuận lợi cho thương mại trong lĩnh vực hải quan được hiểu là loại bỏ những yếu tố rườm rà không hiệu quả, các bước xử lý không cần thiết trong quy trình quản lý, kiểm soát hải quan, đơn giản hóa và loại bỏ một số mẫu tờ khai, chấn chỉnh luồng xử lý tài liệu, và chấp nhận các mã số quốc tế đối với "hàng hóa" theo định nghĩa tại Luật Hải quan 2001. Một số biểu hiện của thuận lợi hóa thương mại có thể kể tới như: - Áp dụng kỹ thuật quản lý tiên tiến: quản lý rủi ro - không quản lý toàn bộ các lô hàng xuất nhập khẩu mà quản lý dựa trên việc đánh giá mức độ rủi ro của các thông tin về lô hàng, quản lý theo mức độ chấp hành pháp luật của doanh nghiệp, rút ngắn quy trình, thời gian thông quan, hoặc thông quan trước, sử dụng thông tin đến trước để thông quan và giải phóng hàng hóa ngay khi hàng về tới cảng; - Hài hóa và đơn giản hóa các thủ tục theo chuẩn mực quốc tế, giảm thiểu yêu cầu về giấy tờ liên quan đến bộ hồ sơ hải quan sử dụng để thông 18 quan, công nhận lẫn nhau kết quả kiểm soát hải quan quốc tế như là một phương thức giảm thời gian và chi phí thông quan, sử dụng ngày càng phổ biến phương pháp truyền tải dữ liệu điện tử; - Tôn trọng tối đa bản chất kinh tế khách quan của các giao dịch thương mại quốc tế, nhà nhập khẩu và xuất khẩu tự khai báo, tự tính thuế, xác định trị giá, xuất xứ và phân loại hàng hóa, xây dựng cơ chế kiểm soát hải quan chặt chẽ, minh bạch để quyền của người khai hải quan được hiện thực hóa, v.v... Những biểu hiện cụ thể của thuận lợi hóa thương mại có thể liệt kê được như trên song trên thực tế, tác động của biện pháp này lại thường khó lượng hóa. Thương mại toàn cầu không thể phát triển tự do nếu các biện pháp tạo thuận lợi được quy định có sự khác biệt trong luật pháp của từng quốc gia. Vấn đề này đặt ra yêu cầu tất yếu cần phải tạo nên một chuẩn mực chung được cộng đồng kinh tế quốc tế chấp nhận rộng rãi. Một yêu cầu như vậy được quy định trong khung pháp luật WTO, các chuẩn mực quốc tế về đơn giản hóa và hài hòa hóa thủ tục hải quan theo tinh thần của WTO được chuyển hóa vào các quy định của WCO tại: Công ước Kyoto và Nghị định thư sửa đổi Công ước Kyoto; Công ước về hệ thống hài hòa về mô tả và mã hóa hàng hóa (Harmonized System) 6/1983, sửa đổi bổ sung vào các năm 1996, 2002, 2007 - được ví như một ngôn ngữ chung toàn cầu về hàng hóa, có hiệu lực áp dụng đối với Việt Nam vào 01/01/2000. Các biện pháp thuận lợi hóa thương mại do cơ quan Hải quan trực tiếp thực hiện đã tạo điều kiện thông thoáng hơn cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, thúc đẩy sự phát triển của thương mại quốc tế. Tổ chức Hải quan thế giới WCO đã xây dựng khung tiêu chuẩn về bảo đảm an ninh và tạo thuận lợi cho thương mại toàn cầu (Framework of standards to secure and facilitate global trade, sau đây gọi tắt là SAFE), trong đó quan hệ giữa Hải quan - doanh nghiệp là một trụ cột được thiết lập trên quan điểm doanh nghiệp không đơn thuần là đối tượng quản lý, mà là "người bạn đường" của Hải quan. Tuyên bố thực hiện SAFE, Hải quan Việt Nam đã thay đổi phương thức quản lý chuyển dần sang 19
- Xem thêm -