Phân tích tình hình tài chính tại ngân hàng chính sách xã hội chi nhánh thái nguyên

  • Số trang: 84 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 12 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

Bài luận Đề tài: Phân tích tình hình tài chính tại Ngân hàng Chính sách Xã hội Chi nhánh Thái Nguyên LỜI MỞ ĐẦU Tài chính là một bộ phận quan trọng của doanh nghiệp. Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có mối quan hệ mật thiết với tình hình tài chính của đơn vị, chúng tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau. Tình hình tài chính có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình kinh doanh và ngược lại, các hoạt động sản xuất kinh doanh có thể làm xấu đi hoặc cải thiện vị thế tài chính của một đơn vị. Do đó, tại một đơn vị để có thể quản lý tốt các nguồn lực cũng như hoàn thành các mục tiêu đặt ra thì công tác phân tích tài chính đóng vai trò quan trọng hàng đầu. Dựa trên việc tính toán, phân tích và đánh giá các chỉ tiêu tài chính, nhà quản lý có thể biết được những điểm mạnh, điểm yếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, từ đó xác định nguyên nhân và có giải pháp cải thiện tình hình tài chính cùng như hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị trong tương lai. Xuất phát từ đó, trong thời gian thực tập tại Ngân hàng Chính sách Xã hội Chi nhánh Thái Nguyên, em đã cố gắng đi sâu tìm hiểu thực tiễn hoạt động của Chi nhánh. Em nhận thấy tài chính là một vấn đề mà Chi nhánh cần dành sự quan tâm rất lớn, phân tích tài chính là một việc làm quan trọng để phục vụ cho công tác quản lý có hiệu quả, nó ý nghĩa to lớn đối với mục tiêu phát triển và tồn tại của Chi nhánh. Mặt khác, thông qua phân tích tình hình tài chính của Chi nhánh giúp em tự nâng cao vốn kiến thức về tài chính nói chung, phân tích tài chính Ngân hàng nói riêng. Vì vậy, em lựa chọn chuyên đề “ Phân tích tình hình tài chính tại Ngân hàng Chính sách Xã hội Chi nhánh Thái Nguyên” làm báo cáo thực tập tốt nghiệp. Thực tập tốt nghiệp là bước khởi đầu của sự vận dụng kiến thức đã học vào thực tế với phương châm “Học đi đôi với hành” và “Lý thuyết gắn liền với thực tế” nhà trường đã tạo cho sinh viên của mình có cơ hội trực tiếp tiếp xúc thực tế từ đó giúp sinh viên áp dụng và nắm vững hơn nhưng kiến thức đã được học. Được sự hướng dẫn nhiệt tình của cô giáo Nguyễn Thu Nga, các cán bộ nhân viên tại Ngân hàng Chính sách Xã hội Chi nhánh Thái Nguyên em đã hoàn thành đợt thực tập của mình. Báo cáo thực tập gồm 3 phần: Phần I: Giới thiệu về Ngân hàng chính sách xã hội Chi nhánh Thái Nguyên Phần II: Thực trạng phân tích tài chính tại Ngân hàng Chính sách Xã hội Chi nhánh Thái Nguyên Phần III: Nhận xét và Kết luận Trong quá trình thực tập tại Chi nhánh, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của Ban giám đốc, các anh chị trong các phòng ban, đặc biệt là phòng Kế toán – Ngân quỹ. Tuy nhiên, do đây là lần đầu đi từ lý thuyết đến thực tế cũng như hạn chế về kiến thức và thời gian nên bản báo cáo của em không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong được sự thông cảm và đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, Ban giám đốc và các phòng ban để bản báo cáo của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, các phòng ban chuyên môn tại Ngân hàng Chính sách Xã hội Chi nhánh Thái Nguyên, cô giáo Nguyễn Thu Nga, cùng các thầy cô Trường ĐH Kinh tế và Quản Trị Kinh Doanh đã giúp em hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này! Thái Nguyên, ngày 01 tháng 4 năm 2012 Sinh viên: PHẦN I: GIỚI THIỆU VỀ NHCSXH TỈNH THÁI NGUYÊN 1.1. Tên và địa chỉ Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Thái Nguyên. - Tên: Ngân hàng Chính sách Xã hội Tỉnh Thái Nguyên. - Địa chỉ: Số 03 - Đường Phùng Chí Kiên - Phường Trưng Vương -Tp Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên - Điện thoại: 02803.737.379 - Fax: 02803737379 - Hình thức sở hữu: Nhà nước sở hữu - Giấy phép thành lập và hoạt động: có giá trị 99 năm. 1.2. Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng CSXH tỉnh Thái Nguyên. Ngân hàng Chính sách Xã hội, viết tắt là NHCSXH được thành lập theo Quyết định 131/2002/QĐ-TTg ngày 4 tháng 10 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo. Việc xây dựng Ngân hàng Chính sách Xã hội là điều kiện để mở rộng thêm các đối tượng phục vụ là hộ nghèo, học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, các đối tượng chính sách cần vay vốn để giải quyết việc làm, đi lao động có thời hạn ở nước ngoài và các tổ chức kinh tế, cá nhân hộ sản xuất, kinh doanh thuộc các xã đặc biệt khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, (chương trình 135). Đây thật sự là tin vui đối với các đối tượng chính sách và họ tiếp tục có cơ hội tiếp cận nguồn vốn ưu đãi chính thức của Nhà nước, nhất là dựa trên tiền đề những thành công 7 năm hoạt động của Ngân hàng Phục vụ người nghèo. Trong Quyết định thành lập Ngân hàng Chính sách Xã hội, Thủ tướng Chính phủ xác định: Đây là Ngân hàng hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, phục vụ người nghèo và các đối tượng chính sách khác. Một nhiệm vụ quan trọng nhưng cũng đầy khó khăn, cán bộ nhân viên Ngân hàng Chính sách Xã hội đã và đang phát huy tiền đề vững chắc đó, đồng thời thực hiện tốt các chức năng mở một kênh tín dụng mới tiếp tục phục vụ có hiệu quả các đối tượng chính sách trong công cuộc xây dựng đất nước. Ngân hàng Chính sách Xã hội là một tổ chức tài chính tín dụng đặc thù, được thành lập để thực hiện chính sách tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác. Đây có thể coi là sản phẩm của quá trình tái cơ cấu theo hướng hiện đại hóa ngành Ngân hàng, nhằm thực hiện lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế của nền kinh tế Việt Nam nói chung và của ngành Ngân hàng nói riêng, trước hết là tách tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại. NHCSXH có bộ máy quản lý điều hành thống nhất trong phạm vi cả nước, có tài sản và hệ thống giao dịch từ trung ương đến địa phương. 1. Ngân hàng Chính sách Xã hội là một pháp nhân. 2. Tên tiếng Việt: Ngân hàng Chính sách Xã hội. Viết tắt là: NHCSXH. 3. Tên giao dịch quốc tế: Vietnam bank for Social Policies (Viết tắt là: VBSP). 4. Hội sở chính đặt tại Thủ đô Hà Nội. 5. Vốn điều lệ là 5.000.000.000.000 đồng (năm nghìn tỷ đồng). 6. Có con dấu riêng; có tài khoản mở tại Ngân hàng Nhà nước, Kho bạc Nhà nước và các Ngân hàng trong nước và ngoài nước. 7. Có bảng cân đối tài chính, các quỹ theo quy định của pháp luật. Ngân hàng CSXH tỉnh Thái Nguyên, được tách ra từ Ngân hàng Phục vụ người nghèo thuộc Ngân hàng Nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên. Khi Chính phủ ban hành Nghị định số 78/2002 NĐ-CP thì Ngân hàng người nghèo tỉnh được tách ra thành lập Ngân hàng CSXH tỉnh theo Quyết định số 41/QĐ-HĐQT ngày 14/01/2003 của Chủ tịch HĐQT và khai trương đi vào hoạt động từ ngày 17/03/2003. Ngân hàng CSXH tỉnh Thái Nguyên ra đời góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế, kìm chế lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Ngân hàng CSXH tỉnh đóng vai trò đáp ứng nhu cầu tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, góp phần thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo của tỉnh nói riêng và của cả nước nói chung. 1.3. Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của NHCSXH tỉnh Thái Nguyên Xuất phát từ tình hình thực tế địa phương, bộ máy tổ chức của Ngân hàng Chính Sách Xã Hội Tỉnh Thái Nguyên được sắp xếp theo hướng gọn nhẹ. Toàn bộ khâu tổ chức, hoạt động huy động vốn, cho vay thu nợ, thanh toán và các dịch vụ khác của Ngân hàng Chính Sách Xã Hội huyện thị đều dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ban lãnh đạo Chi nhánh Ngân hàng Chính Sách Xã Hội tỉnh Thái Nguyên. Ngân hàng CSXH Tỉnh Thái Nguyên có 8 Ngân hàng cấp huyện đặt ở những nơi trung tâm kinh tế của huyện thị nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn và tiết kiệm của các hộ thuộc diện chính sách nhằm cải thiện đời sống nhân dân. Các Ngân hàng cấp Huyện gồm có: - Ngân hàng CSXH Huyện Đồng Hỷ - Ngân hàng CSXH Huyện Phổ Yên - Ngân hàng CSXH Huyện Phú Bình - Ngân hàng CSXH Huyện Phú Lương - Ngân hàng CSXH Huyện Đại Từ - Ngân hàng CSXH Huyện Võ Nhai - Ngân hàng CSXH Huyện Định Hoá - Ngân hàng CSXH Thị Xã Sông Công Ngân hàng CSXH tỉnh Thái Nguyên đặt giữa trung tâm, có chức năng vừa giao dịch trực tiếp vừa là trung tâm điều hành và quản lý Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Ngân hàng CSXH Tỉnh Thái Nguyên: Sơ đồ 01: Bộ máy tổ chức điều hành của NHCSXH tỉnh Thái Nguyên Giám đốc Các phó giám đốc Các phòng chuyên môn nghiệp vụ Phòng Kế hoạch nghiệp vụ tín dụng Phòng Kế toán – Ngân quỹ Phòng Hành chính – Tổ chức Phòng Công nghệ thông tin (Nguồn: Phòng Hành chính – Tổ chức) * Giám đốc: Quản lý và điều hành mọi hoạt động của Chi nhánh theo quy định của Pháp luật và các văn bản quy phạm Pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ đã quy định trong Điều lệ Ngân hàng. - Quyết định các vấn đề hoạt động hàng ngày của Chi nhánh mà không cần đến quyết định của Hội đồng quản trị. - Tổ chức thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị. - Tổ chức thực hiện kế hoạch, chiến lược hoạt động của Chi nhánh. - Kiến nghị phương án cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ Chi nhánh. - Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý tại Chi nhánh, trừ các chức danh thuộc thẩm quyền của Hội đồng quản trị. - Tuyển dụng và cắt giảm nhân sự theo yêu cầu hoạt động. - Kiến nghị phương án xử lý lỗ lãi trong hoạt động của Chi nhánh. - Giám đốc còn có các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật, điều lệ Ngân hàng và quyết định của Hội đồng quản trị. Nếu điều hành trái với quy định, gây thiệt hại cho Ngân hàng thì Giám đốc chịu trách nhiệm trước pháp luật và phải bồi thường thiệt hại theo quy định. * Phòng kế hoạch nghiệp vụ tín dụng: là một phòng chuyên môn nghiệp vụ thuộc cơ cấu tổ chức của Chi nhánh. Tổ chức thực hiện các chương trình tín dụng trong toàn tỉnh, có chức năng tham mưu giúp Lãnh đạo Chi nhánh trong công tác tổng hợp về kế hoạch và đầu tư trên địa bàn và quản lý nhà nước về kế hoạch và đầu tư. Là nơi tiếp nhận hồ sơ vay vốn của tất cả khách hàng có nhu cầu, tiến hành thẩm định các dự án, phương án vay vốn và làm các thủ tục vay vốn trình lên các cấp lãnh đạo để xét duyệt cho vay. * Phòng Kế toán - Ngân quỹ: Chịu sự điều hành trực tiếp của Ban giám đốc Chi nhánh. Thực hiện nhiệm vụ công tác hạch toán kế toán theo quy định về pháp lệnh kế toán thống kê và các nghiệp vụ huy động vốn của các tổ chức kinh tế, quản lí vốn và tài sản, hạch toán cho vay thu nợ, xây dựng kế hoạch tài chính, quyết toán thu chi tài chính theo chế độ tài chính, tổng hợp thu chi tài chính, lưu giữ hồ sơ, tài liệu về hạch toán, thực hiện chức năng trung tâm thanh toán, thực hiện chức năng giám đốc các nghiệp vụ kinh tế phát sinh của Chi nhánh. Lập dự toán về chi phí hoạt động. Chịu trách nhiệm trước Ban giám đốc và pháp luật về tính chính xác, trung thực và kịp thời của các số liệu đã xác lập trong sổ sách và báo cáo kế toán hàng năm gửi cho các cơ quan quản lý Nhà nước, Ban giám đốc và lưu trữ tại Chi nhánh. Đảm bảo an ninh tài chính và giữ gìn bí mật nội bộ. Tham mưu cho Giám đốc về việc áp dụng các chính sách về tiền lương, tiền thưởng, chính sách về BHXH, BHYT,BHTN đặc biệt đối với lao động nữ theo đúng quy định của pháp luật. Các nhân viên thuộc Phòng kế toán – Ngân quỹ ngoài việc được giao nhiệm vụ cụ thể tại các quyết định riêng rẽ của Giám đốc Chi nhánh còn phải chịu sự kiểm tra, giám sát và điều hành trực tiếp của Trưởng Phòng kế toán (Kế toán trưởng). * Phòng Hành chính – Tổ chức: Tham mưu, tổng hợp, đề xuất ý kiến, giúp ban giám đốc Ngân hàng tổ chức quản lý về công tác tổ chức, cán bộ, hành chính tổng hợp, thi đua, bảo vệ nội bộ và quản lý cán bộ, nhân viên thuộc phòng theo sự phân cấp của ban giám đốc. Trưởng phòng là người trực tiếp điều hành các công việc của phòng và chịu trách nhiệm trước ban giám đốc theo quy định của pháp luật. * Phòng Công nghệ thông tin: Phòng Công nghệ thông tin có 4 cán bộ làm công tác tin học hoá toàn bộ hệ thống của Chi nhánh nối mạng với toàn hệ thống để thực hiện nhiệm vụ chuyên môn trong lĩnh vực tin học. Hoạt động trong giai đoạn công nghệ thông tin ngày càng phát triển như hiên nay, nhu cầu thông tin, thanh toán nhanh, chuyển khoản… vai trò của phòng Tin học càng trở nên quan trọng. 1.4. Đặc điểm, chức năng và nhiệm vụ của Ngân hàng CSXH tỉnh Thái Nguyên. 1.4.1. Đặc điểm của Ngân hàng CSXH tỉnh Thái Nguyên. - Hoạt động không vì mục đích lợi nhuận được Nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán, tỷ lệ dự trữ bắt buộc 0%, không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phải nộp Ngân sách Nhà nước. - Đối tượng cho vay chủ yếu là những hộ nghèo, những gia đình thuộc diện chính sách và các đối tượng khác thực hiện theo quyết định của Thủ tướng chính phủ. - Có bộ máy quản lý và điều hành thống nhất trong phạm vi toàn tỉnh, là một pháp nhân, có vốn điều lệ, tài sản, con dấu và hệ thống giao dịch từ huyện xuống các phường xã, thị trấn đến các tổ tiết kiệm và vay vốn. - Chế độ tài chính, chế độ tiền lương và phụ cấp của cán bộ viên chức, và việc trích lập, sử dụng các quỹ của Ngân hàng do thủ tướng chính phủ ra quyết định. Người nghèo và các đối tượng chính sách khác được vay với mức lãi suất ưu đãi để phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo ổn định xã hội. 1.4.2. Chức năng của Ngân hàng CSXH tỉnh Thái Nguyên. - Chức năng nhận vốn từ Ngân hàng cấp trên. - Chức năng tiết kiệm. - Chức năng thanh toán: Ngân hàng làm dịch vụ thanh toán cho các khách hàng có nhu cầu và đáp ứng đủ điều kiện của Ngân hàng. Ngoài ra Ngân hàng còn có các chức năng khác: Quản lý tiền mặt, Uỷ thác. Nguồn vốn hoạt động chủ yếu của Ngân hàng CSXH tỉnh Thái Nguyên là từ vốn Ngân sách Nhà nước, một phần vốn địa phương chuyển sang để cho vay hộ nghèo… 1.4.3. Nhiệm vụ của Ngân hàng CSXH tỉnh Thái Nguyên. - Cho vay ngắn hạn, trung dài hạn ưu đãi đối với hộ nghèo nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo và tạo việc làm, ổn định xã hội. - Hướng dẫn khách hàng hoàn thành các hồ sơ và các nhu cầu vay vốn. - Thu chi tiền mặt, làm các dịch vụ thanh toán, ngân quỹ và các dịch vụ khác theo quy định. - Thực hiện hạch toán và phân phối thu nhập theo quy định của Ngân hàng CSXH cấp trên. - Thực hiện kiểm tra, kiểm toán nội bộ việc chấp hành thể lệ, chế độ nghiệp vụ trong phạm vi địa bàn theo quyết định của Ngân hàng CSXH. - Thực hiện các nhiệm vụ khác được Tổng Giám đốc Ngân hàng CSXH giao. 1.5. Khái quát chung về công tác kế toán của Chi nhánh 1.5.1. Giới thiệu về tổ chức bộ máy kế toán. Cùng với tăng trưởng tín dụng, khối lượng công việc kế toán cũng tăng gấp bội, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn về nhiều mặt, song toàn tỉnh đã nỗ lực phấn đấu để đưa công tác kế toán tiếp tục được củng cố và hoàn thiện, đảm bảo thu - chi đúng tiến độ, lập và lưu giữ chứng từ kế toán và hạch toán kịp thời đúng qui định. Cán bộ kế toán tiếp tục được đào tạo tại chỗ theo phương châm vừa học vừa làm. Trong năm 2010 để được "gần dân và sát dân hơn" toàn bộ các giao dịch của NHCSXH đã được chuyển về giao dịch tại 100% điểm giao dịch xã phường. Hình thức giao dịch này được nhân dân và chính quyền hết sức hoan nghênh, từ đó công tác kế toán có sự thay đổi điều chỉnh cho phù hợp và hiệu quả. Tiếp tục củng cố nâng cao chất lượng công tác kế toán tại các đơn vị kế toán NHCSXH, đặc biệt là các Phòng giao dịch NHCSXH cấp huyện. Công tác Kế toán tài chính tiếp tục được hoàn thiện theo hướng an toàn chính xác, trung thực, khách quan, thực hiện tốt chức năng tham mưu cho công tác chỉ đạo điều hành của Ban lãnh đạo. Thực hiện tốt việc phối hợp với tin học để tiếp tục “tin học hoá” một số các nghiệp vụ kế toán khác nhau: Kế toán tài sản, kế toán ngân quỹ và kế toán lãi phải thu... nhằm giảm bớt khối lượng công việc thực tế và nâng cao tính chính xác của nghiệp vụ này tại các cấp Ngân hàng. Tổ chức phần mềm kế toán: Trong nền kinh tế thị trường, khối lượng tín dụng ngày càng lớn nhiều, năng suất lao động đòi hỏi phải được nâng cao. Vì vậy việc áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật hiện đại hoá ngân hàng là một tất yếu. Hệ thống ngân nói chung và NHCSXH tỉnh Thái Nguyên nói riêng đang từng bước đổi mới hiện đại công nghệ thông tin đảm bảo phục vụ khách hàng một cách nhanh chóng và chính xác. Hiện nay nghiệp vụ kế toán cho vay tại ngân hàng đã thực hiện hầu hết trên máy vi tính và được nối mạng trong toàn phòng kế toán để tiện cho việc theo dõi toàn bộ hoạt động kế toán giao dịch của ngân hàng với khách hàng trong từng ngày hoạt động. Đối với kế toán cho vay: Kế toán cho vay vào máy tính đầy đủ dữ liệu từ đăng ký khách hàng, đăng ký hợp đồng tín dụng sau đó mới giải ngân tại đây mỗi khách hàng vay vốn được đăng ký một mã theo chứng minh thư và lưu giữ vào máy. Điều này giúp cho người quản lý nắm bắt tình hình một cách nhanh chóng, cán bộ tín dụng cũng như cán bộ kế toán cho vay theo dõi một cách chặt chẽ cụ thể khách hàng của mình đến từng địa bàn, cung cấp cho lãnh đạo một cách nhanh chóng dư nợ của từng khách hàng và chất lượng của từng món vay. Thêm vào đó việc chuyển nợ quá hạn kịp thời hơn và việc thu lãi cũng chính xác hơn hàng tháng kế toán sao kê tình hình vay vốn của từng khách hàng cho từng cán bộ quản lý. Tuỳ theo sự thoả thuận của cán bộ tín dụng và cán bộ kế toán mà in giấy thông báo nợ đến hạn giao cho cán bộ tín dụng đôn đốc đòi nợ. Điều này giúp cho cán bộ tín dụng đi sâu nắm bắt tình hình sản xuất kinh doanh của từng khách hàng, hạn chế nợ quá hạn và thu lãi đều đặn hàng tháng. Đến nay, mỗi phòng giao dịch của NHCSXH đã có đủ máy vi tính để giao dịch, trong năm 2011 mỗi đơn vị đều đã có máy tính sách tay để đi giao dịch tại các điểm giao dịch lưu động tuy nhiên chất lượng máy vi tính chưa được cao nên thường sảy ra sự cố khi sử dụng phần mềm kế toán. Chính vì vậy đòi hỏi NHCSXH tỉnh Thái Nguyên cần chú trọng hơn đến việc ứng dụng công nghệ tin học nâng cấp máy cũ trang bị thêm máy mới, giúp cho hoạt động tín dụng nói chung và kế toán cho vay đạt hiệu quả cao nhất. Công tác ngân quỹ: Khối lượng thu - chi tiền mặt tăng so với cùng kỳ năm trước song anh chị em làm công tác ngân quỹ đều vượt mọi khó khăn tận tuỵ với công việc, nêu cao tinh thần phục vụ hoàn thành nhiệm vụ được giao. Trong quá trình thu - chi tại văn phòng hội sở cũng như tại các điểm giao dịch mọi cán bộ đều tôn trọng quy trình thu - chi nghiệp vụ, phát huy vai trò và trách nhiệm cá nhân không để xẩy ra thừa thiếu quỹ. Qua công tác thu chi cán bộ thủ quỹ của ngân hàng CSXH tỉnh Thái Nguyên tôn trọng quy trình thu chi tiền mặt nên từ đó không có khách hàng phản ánh hoặc khiếu kiện việc chi tiền thiếu cho khách hàng. Với tinh thần niêm khiết thật thà và nâng cao kỹ năng nghiệp vụ kho quỹ, năm qua cán bộ làm công tác kho quỹ đã trả tiền thừa cho khách hàng 27 món với số tiền là 6.730.000đồng 1.5.2. Tổ chức vận dụng các chính sách, chế độ thể lệ về kế toán được qui định, các qui tắc và chuẩn mực kế toán được thừa nhận. - Kỳ kế toán năm (bắt đầu từ 01/01 đến 31/12) - Đơn vị tiền tệ sử dụng trong hạch toán kế toán: Đồng Việt Nam - Báo cáo về tuân thủ các chuẩn mực kế toán Việt Nam – VAS hoặc chuẩn mực kế toán quốc tế - IAS: Về cơ bản NHCSXH Thái Nguyên tuân thủ các chuẩn mực kế toán Việt Nam ngoại trừ chuẩn mực doanh thu và chuẩn mực chi phí (Dự phòng rủi ro). - Hình thức kế toán áp dụng: Kế toán bằng máy vi tính. - Các cơ sở đánh giá được sử dụng trong quá trình lập báo cáo tài chính và các ước tính kế toán quan trọng: Là số cấp bù chênh lệch lãi suất và chi phí quản lý từ Ngân sách Nhà nước; Quỹ lương cán bộ công nhân viên NHCSXH. - NHCSXH không thực hiện hợp nhất các báo cáo. - Cơ sở điều chỉnh các sai sót: Báo cáo quyết toán số cấp bù chênh lệch lãi suất và chi phí quản lý; Báo cáo quyết toán quỹ lương và các biên bản kiểm tra. - Kế toán thu nhập lãi, chi phí lãi và ngừng dự thu lãi: + Kế toán thu nhập lãi: Theo phương pháp thực thu. + Kế toán chi phí lãi: Theo phương pháp dự chi. + Kế toán ngừng dự thu lãi: NHCSXH không thực hiện dự thu. - Kế toán các khoản phải thu từ phí và hoa hồng: Theo số thực thu - Kế toán cho vay khách hàng: Nguyên tắc ghi nhận khoản vay: theo giá gốc + Phân loại nợ và đánh giá rủi ro tín dụng bao gồm: Nợ bị rủi ro được giảm tiền vay, Nợ bị rủi ro được miễn giảm lãi tiền vay, Nợ nghi nghờ, Nợ bị rủi ro được xóa nợ “gốc và lãi” + Cơ sở trích lập dự phòng rủi ro tín dụng: Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng được thực hiện theo quyết định số 108/2001/QĐ-TTg ngày 19/12/2002 của Thủ tướng Chính phủ, mức trích lập bằng 0,02%/năm tính theo tổng dư nợ bình quân. - Kế toán tài sản cố định: Ghi nhận nguyên giá tài sản theo chuẩn mực kế toán Việt Nam. Thực hiện khấu hao theo đường thẳng, với phần mềm máy là 4 năm, bản quyền sáng chế, nhãn hiệu.. là 5 năm. Quyền sử dụng đất không thực hiện trích khấu hao, phù hợp với quyết định 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003. - Kế toán lợi thế thương mại: không có. - Kế toán giao dịch thuê tài sản: Ngân hàng là người đi thuê thì tài sản được hạch toán theo dõi ngoại bảng theo nguyên giá. Giá thuê theo hợp đồng và được hạch toán vào chi phí thuê. Không thực hiện trích khấu hao. - Kế toán các nghĩa vụ đối với nhân viên: Các đơn vị của NHCSXH thực hiện việc chi trả lương và phụ cấp theo chế độ do Thủ tướng Chính phủ quy định, theo các quy định hiện hành của Nhà nước. - Nguyên tắc ghi nhận thuế thu nhập doanh nghiệp và các chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp: NHCSXH được miễn giảm. 1.6. Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động của Ngân hàng CSXH tỉnh Thái Nguyên. * Về thuận lợi: Hoạt động của Chi nhánh NHCSXH tỉnh Thái Nguyên nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của tỉnh uỷ, HĐND và Uỷ ban nhân dân tỉnh, sự chỉ đạo chặt chẽ của Ban Giám Đốc, các phòng chuyên môn nghiệp vụ NHCSXH, sự phối hợp có hiệu quả của các tổ chức đoàn thể từ tỉnh đến các huyện, thị xã và thành phố trong tỉnh. Cơ cấu kinh tế - xã hội trong tỉnh đang đà phát triển mạnh mẽ đa dạng cả về ngành nghề lẫn quy mô vốn đầu tư, điều kiện sản xuất, kinh doanh có nhiều thuận lợi giúp người dân nói chung và người nghèo nói riêng có cơ hội phát triển kinh tế, làm ăn chính đáng vươn lên làm giàu. Đội ngũ cán bộ nhân viên Ngân hàng CSXH tỉnh Thái Nguyên mặc dù tuổi đời còn trẻ, mới tuyển dụng kinh nghiệm còn hạn chế. Song với sự nhiệt tình của tuổi trẻ, không ngại khó, ngại khổ, luôn có ý trí phấn đấu vươn lên để hoàn thành nhiệm vụ tốt mọi nhiệm vụ được giao. * Về khó khăn: Là đơn vị mới thành lập đi vào hoạt động, cơ sở vật chất phương tiện làm việc còn thiếu thốn. Bên cạnh đó, biên chế tổ chức nhân sự ban đầu còn thiếu, người cũ quen việc thì không có hoặc phải kiêm nhiệm. Người mới tuyển dụng phải đào tạo thêm và chưa qua thực tế nên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao có mặt còn hạn chế và lúng túng. Việc cho vay thu nợ của NHCSXH đa phần phải thực hiện tại UBND phường xã, thị trấn, bên cạnh đó địa bàn tỉnh là khu vực có nhiều huyện vùng núi đi lại khó khăn nên không thuận lợi trong việc cán bộ tín dụng đi giao dịch tại các điểm giao dịch ở các xã xa trung tâm thị trấn, cường độ công việc quá nhiều giao dịch 100% tại các điểm giao dịch xã cố định nên việc hoạt động vào ngày thứ bảy chủ nhật thường xuyên phải thực hiện. Là tỉnh hơn một nửa số dân sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp, một số huyện có nhiều xã bị thu hồi đất - tư liệu sản xuất nông nghiệp để cấp cho khu công nghiệp song phần lớn mới đang trong giai đoạn san lấp mặt bằng chưa đi vào sản xuất, người dân chưa biết làm gì để ổn định và nâng cao đời sống, khoảng cách giàu nghèo ngày một nới rộng hơn, đây cũng là một thách thức không nhỏ để Ngân hàng CSXH triển khai thực hiện nhiệm vụ. Đối tượng khách hàng cũng rất đa dạng, số hộ nghèo và cận nghèo là rất lớn, lực lượng lao động nông nhàn cao, rất cần được tạo cho công ăn việc làm ổn định. Các đối tượng chính sách xã hội khác có nhu cầu đi xuất khẩu lao động lớn, họ cũng rất cần vốn tín dụng chính sách. Một số cấp uỷ, chính quyền ở địa phương nhận thức chưa đầy đủ, chưa sâu sắc về tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác, cho rằng đây là công việc của chuyên ngành Ngân hàng. Các thành viên Ban đại diện HĐQT - NHCSXH của tỉnh, thành viên Ban đại diện của huyện, thị xã và thành phố, Ban xoá đói giảm nghèo các xã, thị trấn chủ yếu là kiêm nhiệm nên ít có thời gian đi cơ sở để hướng dẫn, chỉ đạo và kiểm tra, giám sát. Trình độ cán bộ hội, đoàn thể, cán bộ ban quản lý tổ còn chưa đồng đều, hiểu biết về quy trình nghiệp vụ tín dụng ưu đãi đôi khi còn chưa chính xác. Một số ít nhân dân còn hiểu chưa đúng về chính sách tín dụng ưu đãi, hiểu vốn chính sách là xin, cho, cấp, không phải hoàn lại khi chưa hết nghèo. 1.7. Tình hình lao động tại NHCSXH tỉnh Thái Nguyên Thực hiện văn bản số 10/2002/HĐQT ngày 12 tháng 11 năm 2002 của HĐQT - NHCSXH về việc thành lập ban đại diện HĐQT- NHCSXH. Ngày 11 tháng 08 năm 2004, Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên đã ra quyết định số 1871/QĐ-UB.V/v thành lập Ban đại diện HĐQT tỉnh gồm 9 thành viên. Thành phần và cơ cấu các thành viên Ban đại diện theo đúng chỉ đại của HĐQT, đến nay số thành viên là 11 đồng chí, Trưởng ban đại diện là đồng chí Phó chủ tịch UBND tỉnh các thành viên là Giám đốc các sở Ban ngành đều được phân công nhiệm vụ phụ trách từng địa bàn cụ thể, xây dựng trương trình đi kiểm tra cụ thể. Ban đại diện HĐQT hoạt động có hiệu quả, phát huy vai trò, trách nhiệm trong chỉ đạo. Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của NHCSXH. Tổng số cán bộ biên chế của Ngân hàng CSXH tỉnh Thái Nguyên cho đến nay gồm 110 cán bộ, trong đó: + Một Giám đốc tỉnh. + Hai Phó giám đốc tỉnh . + Phòng kế hoạch nghiệp vụ (KHNV) gồm 8 cán bộ. Nhiệm vụ của phòng KHNV là tổ chức cho vay trực tiếp các hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác được vay vốn tín dụng ưu đãi, lập kế hoạch nghiệp vụ và tổng hợp báo cáo toàn Ngân hàng. Đây là đội ngũ các cán bộ đại diện cho Ngân hàng tiếp xúc trực tiếp với khách hàng. Phòng KHNV có vai trò rất quan trọng trong việc quyết định đến kết quả hoạt động của toàn Ngân hàng. + Phòng Kế toán - Ngân quỹ (KTNQ) gồm có 7 cán bộ Phòng KTNQ có nhiệm vụ thực hiện công tác giao dịch với khách hàng theo chế độ quy định. Thực hiện vai trò là tổ ngân quỹ trung tâm (cân đối lượng thu chi tiền mặt của Ngân hàng) trong việc điều hoà tiền mặt với Ngân hàng CSXH Tỉnh. + Phòng tổ chức hành chính gồm có 7 cán bộ có nhiệm vụ tham mưu cho ban giám đốc Ngân hàng CSXH tỉnh thực hiện công tác cán bộ và công tác hành chính cho toàn tỉnh và các công tác khác. + Phòng tin học có 4 cán bộ làm công tác tin học hoá toàn bộ hệ thống của Chi nhánh nối mạng với toàn hệ thống để thực hiện nhiệm vụ chuyên môn trong lĩnh vực tin học. + Tám phòng giao dịch huyện thị xã thực hiện việc chuyển tải nguồn vốn tới hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác mỗi phòng gồm có từ 9 đến 14 cán bộ. Bảng 01: Phân tích lao động tại NHCSXH Thái Nguyên theo giới tính Chỉ tiêu Nam Nữ Tổng số 2010 2011 Chênh lệch Tỷ trọng Tỷ trọng Tuyệt Tương Số người Số người (%) (%) đối đối (%) 39 42,4 45 40,9 6 15,38 53 57,6 65 59,1 12 22,64 92 100 110 100 18 19,56 (Nguồn : Phòng Hành chính - Tổ chức) Ta thấy, năm 2011 tại NHCSXH Chi nhánh Thái Nguyên số lượng lao động có sự tăng lên. Số lượng lao động nữ thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số lao động có tên trong danh sách, và thường cao hơn số lao động nam từ 10% đến 15%. Do đặc thù của ngành Tài chính – Ngân hàng cần lao động có sự tỉ mỉ, cẩn thận… cũng như đặc điểm riêng của Ngân hàng Chính sách Xã hội. Bảng 02: Phân tích lao động tại NHCSXH Thái Nguyên theo trình độ 2010 2011 Tỷ Chỉ tiêu Trung cấp Cao đẳng Đại học Thạc sĩ Tiến sĩ Tổng số Số người trọng Chênh lệch Tỷ Số người trọng (%) (%) 4 4,35 4 3,63 21 22,83 28 25,45 48 52,17 56 50,90 17 18,47 20 18,18 2 2,17 2 1,82 92 100 110 100 (Nguồn : Phòng Hành chính - Tổ chức) Tuyệt Tương đối đối (%) 0 7 8 3 0 18 0 33,33 16,67 17,65 0 19,56 Bảng trên thể hiện phần nào chất lượng lao động tại Chi nhánh. Trong các năm vừa qua trình độ Cao đẳng chiếm một tỷ trọng không nhỏ, trên 20%. Đa số lao động có trình độ Đại học, thường chiếm trên 50% tổng số. Số lao động đã qua đào tạo Thạc sĩ tại Chi nhánh cũng chiếm một tỷ trọng lớn. Chi nhánh có 2 cán bộ đạt trình độ Tiến sĩ. Bên cạnh đó, hiện tại Chi nhánh đang có 7 nhân viên, cán bộ đang theo học chương trình đào tạo cao học, 1 cán bộ đang là nghiên cứu sinh tại nước ngoài. Ta có thể thấy lao động tại NHCSXH Chi nhánh Thái Nguyên có mặt bằng trình độ cao, không chỉ cao trong hệ thống Ngân hàng chính sách xã hội mà còn cao so với các Ngân hàng thương mại khác trong tỉnh. 1.8. Nhiệm vụ mục tiêu. Thực tế cho thấy công cuộc xoá đói giảm nghèo của đất nước ta còn gặp rất nhiều khó khăn, thách thức đòi hỏi phải có sự nỗ lực của toàn đảng toàn dân, toàn hệ thống chính trị, trong đó cần có sự đóng góp quan trọng của NHCS vì vậy, nhiệm vụ chính trị của NHCSXH còn nặng nề và khó khăn thách thức lớn. Trong thời gian tới, mục tiêu của Ngân hàng Chính sách Xã hội hướng tới là: Tiếp tục nâng cao hơn nữac hiệu quả của từng đồng vốn tín dụng ưu đãi để ngày càng có nhiều hộ nghèo và hộ có hoàn cảnh khó khăn tiếp cận và sử dụng vốn tín dụng ưu đãi để thoát nghèo một cách bền vững. Để thực hiện được mục tiêu cao cả này, NHCSXH cần xác định một số định hướng quan trọng trong chỉ đạo, điều hành cần tập trung triển khai là: Thứ nhất, tiếp tục thực hiện sự chỉ đạo của đảng, của nhà nước, sự hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức đoàn thể, các cấp và sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế để tập trung và thu hút tối đa nguồn lực tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác, đặc biệt là nguồn vốn tài trợ nhân đạo trong và ngoài nước không phải trả lãi hoặc trả lãi thấp. Thứ hai, tiếp tục củng cố hoàn thiện mạng lưới tổ chức và nâng cao năng lực hoạt động của NHCSXH, đảm bảo vừa tinh gọn về tổ chức bộ máy nhưng hoạt động có hiệu quả cao nhất, tiết kiệm chi phí tạo điều kiện cho 100% hộ nghèo và các đối tượng chính sách trong phạm vi cả nước, đặc biệt là các hộ ở vùng sâu vùng xa, miền núi hải đảo để có thể tiếp cận được dịch vụ tài chính để thoát nghèo một cách bền vững. Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện cơ chế cho vay uỷ thác thông qua việc phối hợp chặt chẽ với các tổ chức chính trị - xã hội các cấp để nâng cao chất lượng công tác xét duyệt cho vay, đảm bảo cho vay đúng đối tượng, đúng nhu cầu, khắc phục tình trạng bình quân, dàn trải làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đồng vốn ưu đãi của nhà nước. Thứ tư, từng bước phấn đấu nâng mức cho vay và thời gian cho vay, đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, tiếp tục nâng cao chất lượng tín dụng, đảm bảo thu hồi đủ gốc và lãi để ngày càng có nhiều hộ nghèo được tếp cận và sử dụng vốn có hiệu quả nguồn vốn tín dụng ưu đãi, có thể thoát nghèo một cách bền vững. Thư năm, Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nhận thức và chất lượng đội ngũ cán bộ, viên chức NHCSXH nhất là vấn đề giáo dục tư tưởng đạo đức, bản lĩnh chính trị, đảm bảo mỗi cán bộ, viên chức của NHCSXH là đại diện tiêu biểu và gần gũi của đảng, nhà nước đối với các hộ nghèo và các đối tượng chính sách trong công cuộc xoá đói giảm nghèo. Sau 8 năm xây dựng và trưởng thành NHCSXH việt Nam đã khẳng định được vị trí vai trò quan trọng của mình, thực sự trở thành nhân tố không thể thiếu trong công cuộc xoá đói giảm nghèo của nước ta. Đây thực sự là một kênh dẫn vốn hiệu quả đến với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, giúp họ thoát nghèo và phát huy được những thành tựu đã đạt được trong những năm qua, cùng sự lãnh đạo của đảng và nhà nước và sự hợp tác của các bộ ngành liên quan các tổ chức chính trị xã hội, sự đồng tình ủng hộ của nhân
- Xem thêm -