Phân tích tình hình tài chính tại Công ty TNHH Thiết bị in và bao bì

  • Số trang: 93 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 36 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27558 tài liệu

Mô tả:

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 1.1. Tổng quan về tài chính doanh nghiệp 1.1.1. Khái niệm về doanh nghiệp Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh trên thị trường làm tăng giá trị của chủ sở hữu. Ở Việt Nam, theo Luật doanh nghiệp 2005: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Mỗi doanh nghiệp tồn tại dưới một hình thức pháp lý nhất định về tổ chức doanh nghiệp. Ở Việt Nam, theo luật doanh nghiệp năm 2005, xét về hình thức pháp lý có các loại hình doanh nghiệp chủ yếu sau: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty hợp danh, Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn. Hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến việc tổ chức tài chính doanh nghiệp như phương thức hình thành và huy động vốn, phân phối lợi nhuận và trách nhiệm của chủ sở hữu đối với khoản nợ. 1.1.2. Khái niệm tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp là toàn bộ các quan hệ tài chính biểu hiện qua quá trình huy động và sử dụng vốn để tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. “Nguồn: PGS.TS Nguyễn Đình Kiệm, TS Bạch Đức Hiển – Giáo trình tài chính doanh nghiệp – Nhà xuất bản tài chính, trang 57” Hoạt động huy động vốn gọi là chức năng tài trợ của tài chính là quá trình tạo ra các quỹ tiền tệ từ các nguồn lực bên trong và bên ngoài để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh lâu dài với chi phí thấp. Nguồn lực tài chính bên trong là sự góp vốn từ các chủ sở hữu, lợi nhuận để lại. Nguồn lực bên ngoài là các nhà đầu tư, cơ quan nhà nước, các tổ chức tín dụng… Hoạt động sử dụng vốn hay còn gọi là đầu tư là quá trình phân bổ vốn ở đâu, khi nào, bao nhiêu sao cho vốn được sử dụng hiệu quả nhất. Những chức năng trên cho thấy bản chất của tài chính là là các quan hệ kinh tế tiền tệ thông qua việc huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp. 1 Theo khái niệm khác: Tài chính doanh nghiệp được hiểu là nhưng quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp với các chủ thể khác trong nền kinh tế. (Nguồn: PGS.TS Nguyễn Đình Kiệm, TS Bạch Đức Hiển – Giáo trình tài chính doanh nghiệp – Nhà xuất bản tài chính, trang 58) Các quan hệ tài chính trong nền kinh tế thị trường được chia thành bốn nhóm: Thứ nhất: Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với nhà nước Tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước (nộp thuế cho ngân sách nhà nước). Ngân sách nhà nước cấp vốn cho doanh nghiệp nhà nước và có thể cấp vốn với Công ty liên doanh hoặc cổ phần (mua cổ phiếu) hoặc cho vay (mua trái phiếu) tùy theo mục đích yêu cầu quản lí đối với ngành kinh tế mà quyết định tỉ lệ góp vốn, hay cho vay nhiều hay ít. Thứ hai: Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp Gồm quan hệ kinh tế giữa các phòng ban, phân xưởng, và tổ đội sản xuất trong việc nhận và thanh toán tạm ứng, thanh toán tài sản. Gồm quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với cán bộ công nhân viên trong quá trình phân phối thu nhập cho người lao động dưới hình thức tiền lương, tiền thưởng, tiền phạt và lãi cổ phần. Thứ 3: Quan hệ giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác Từ sự đa dạng hoá hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường đã tạo ra các mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác (doanh nghiệp cổ phần hay tư nhân); giữa doanh nghiệp với các nhà đầu tư, người cho vay, với người bán hàng, người mua thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong hoạt động sản xuất - kinh doanh, giữa các doanh nghiệp bao gồm các quan hệ thanh toán tiền mua bán vật tư, hàng hoá, phí bảo hiểm, chi trả tiền công, cổ tức, tiền lãi trái phiếu; giữa doanh nghiệp với ngân hàng, các tổ chức tín dụng phát sinh trong quá trình doanh nghiệp vay và hoàn trả vốn, trả lãi cho ngân hàng, các tổ chức tín dụng. Thứ 4: Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính Mối quan hệ này thường thể hiện qua việc doanh nghiệp tìm nguồn tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh: từ ngân hàng thông qua vay, từ công chúng qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu, từ các định chế tài chính khác. Trong điều kiện thị trường tài chính vững mạnh và phát triển thì mối quan hệ này cần được vận dụng linh hoạt để doanh nghiệp sử dụng nguồn tài trợ có chi phí thấp nhất. Một thị trường tài chính vững mạnh còn là môi trường thuận lợi để doanh nghiệp đầu tư vốn nhàn rỗi ra bên ngoài. 2 Thang Long University Library 1.1.3. Đặc điểm của tài chính doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, tài chính doanh nghiệp được đặc trưng bằng những nội dung chủ yếu sau đây: Một là, tài chính doanh nghiệp phản ánh những luồng chuyển dịch giá trị trong nền kinh tế: chính là sự vận động của các nguồn tài chính gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đó là sự vận động của các nguồn tài chính được diễn ra trong nội bộ doanh nghiệp để tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh và được diễn ra giữa doanh nghiệp với ngân sách nhà nước thông qua việc nộp thuế cho Nhà nước hoặc tài trợ tài chính; giữa doanh nghiệp với thị trường: thị trường hàng hoá-dịch vụ, thị trường sức lao động, thị trường tài chính...trong việc cung ứng các yếu tố sản xuất (đầu vào) cũng như bán hàng hoá, dịch vụ (đầu ra) của quá trình sản xuất kinh doanh. “Nguồn: PGS.TS Vũ Công Ty, TS Bùi Văn Vần – Giáo trình tài chính doanh nghiệp – Nhà xuất bản tài chính 2009, trang 16” Hai là, s vận động của các nguồn tài chính doanh nghiệp không phải diễn ra một cách hỗn loạn mà nó được hoà nhập vào chu trình kinh tế của nền kinh tế thị trường: đó là sự vận động chuyển hoá từ các nguồn tài chính hình thành nên các quỹ, hoặc vốn kinh doanh của doanh nghiệp và ngược lại. Sự chuyển hoá qua lại đó được điều chỉnh bằng các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị nhằm tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ phục vụ cho các mục tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. “Nguồn: PGS.TS Vũ Công Ty, TS Bùi Văn Vần – Giáo trình tài chính doanh nghiệp – Nhà xuất bản tài chính 2009, trang 17” 1.1.4. Vai trò của tài chính doanh nghiệp Vai trò của tài chính doanh nghiệp thể hiện ở sự vận động các chức năng của tài chính doanh nghiệp để giải quyết các yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể. Do đó, tài chính doanh nghiệp được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, quan trọng nhất vẫn phải kể đến vai trò của tài chính doanh nghiệp với hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Đối với hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, tài chính doanh nghiệp có một vai trò quan trọng là tạo tiền đề cho sản xuất kinh doanh và nó có quyết định đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh thể hiện như sau: Vai trò tạo nguồn vốn: đảm bảo nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh được liên tục và thuận lợi Vai trò tổ chức sử dụng vốn hợp lí và hiệu quả 3 Vai trò phân phối kết quả kinh doanh qua đó tạo động lực thúc đẩy hoạt động kinh doanh không ngừng phát triển Vai trò kiểm tra, kiểm soát mọi hoạt động của doanh nghiệp đảm bảo cho doanh nghiệp thực hiện được những mục tiêu mà chiến lược kinh doanh đã vạch ra. Bên cạnh đó, tài chính doanh nghiệp cũng được xem xét ở một vài khía cạnh khác. Cụ thể: đối với người lao động, tài chính doanh nghiệp góp phần nâng cao mức sống của người lao động trong doanh nghiệp, thể hiện qua việc tăng nhanh thu nhập danh nghĩa cho tăng các khoản lương thưởng. 1.2. Tổng quan về phân tích tài chính trong doanh nghiệp 1.2.1. Khái niệm và mục tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp Phân tích tài chính doanh nghiệp là một khâu cơ bản trong tài chính doanh nghiệp, nó có quan hệ chặt chẽ với các hoạt động khác của doanh nghiệp. Có nhiều khái niệm về phân tích tài chính doanh nghiệp, ví dụ như: “Phân tích tài chính doanh nghiệp là quá trình đi sâu nghiên cứu nội dung, kết cấu và mối ảnh hưởng qua lại của các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính để có thể đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua việc so sánh v i các mục tiêu mà doanh nghiệp đ đề ra so v i các doanh nghiệp cùng ngành nghề, t đó đưa ra quyết định và các giải pháp quản l phù hợp”. “Nguồn: PGS.TS Nguyễn Ngọc Quang – Phân tích báo cáo tài chính – Nhà xuất bản Tài chính 2010, trang 58” “Phân tích tài chính doanh nghiệp là một tập hợp các khái niệm, các phương pháp, công cụ cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý... nhằm đánh giá tình hình tài chính, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính và quyết định quản lý phù hợp”. “Nguồn: PGS.TS Nguyễn Ngọc Quang – Phân tích báo cáo tài chính – Nhà xuất bản Tài chính 2010, trang 58” Trọng tâm của phân tích tài chính doanh nghiệp là phân tích các báo cáo tài chính và các chỉ tiêu tài chính thông qua một hệ thống các phương pháp, công cụ và kĩ thuật phân tích. Từ đó giúp các đối tượng quan tâm đến doanh nghiệp từ các góc độ khác nhau, vừa có thể đánh giá toàn diện, tổng hợp, khái quát, lại vừa xem xét một cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp. Việc phân tích tình hình doanh nghiệp vừa cung cấp thông tin từ nhiều khía cạnh khác nhau, vừa đánh giá toàn diện khái quát, vừa xem xét chi tiết hoạt động tài chính 4 Thang Long University Library doanh nghiệp,... nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin khác nhau của người sử dụng. Các đối tượng sử dụng thông tin tài chính khác nhau sẽ đưa ra các quyết định với mục đích khác nhau. Vì vậy, phân tích hoạt động tài chính đối với mỗi đối tượng sẽ đáp ứng các mục tiêu khác nhau và có vai trò khác nhau. Cụ thể như sau: Phân tích tài chính doanh nghiệp đối với chủ thể doanh nghiệp: Đối với nhà quản trị doanh nghiệp kết quả của phân tích tài chính doanh nghiệp là cơ sở để các nhà quản trị tự đánh giá hiệu quả quản lý khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và việc cân bằng thu chi của doanh nghiệp trong giai đoạn đã qua. Đồng thời đây cũng là công cụ để kiểm tra, kiểm soát hoạt động trong doanh nghiệp và là cơ sở cho những dự đoán tài chính và định hướng quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh, đầu tư, tài trợ trong tương lai. Phân tích tài chính doanh nghiệp đối với các nhà cung cấp tín dụng: người cung cấp tín dụng cho doanh nghiệp thường tài trợ qua hai dạng là tín dụng ngắn hạn và tín dụng dài hạn. Đối với các khoản tín dụng ngắn hạn (vay ngắn hạn, tín dụng thương mại, ...); người tài trợ thường quan tâm đến điều kiện tài chính hiện hành, khả năng hoán chuyển thành tiền của tài sản lưu động và tốc độ quay vòng của các tài sản đó. Ngược lại, đối với các khoản tín dụng dài hạn, nhà phân tích thường hướng đến tiềm lực trong dài hạn, như dự đoán các dòng tiền, đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong dài hạn cũng như các nguồn lực đảm bảo khả năng đáp ứng các khoản thanh toán cố định (tiền lãi, trả nợ gốc..) trong tương lai. Phân tích tài chính doanh nghiệp đối với các cơ quan quản lí nhà nước: các cơ quan Nhà Nước sử dụng các báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhằm mục đích kiểm tra, giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời có cơ sở để hoạch định các chính sách vĩ mô phù hợp với tình hình chung của các doanh nghiệp. Phân tích tài chính doanh nghiệp đối với người lao động: kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có tác động trực tiếp tới người lao động, quyết định các khoản thu nhập nhận được của họ. Phân tích tài chính doanh nghiệp sẽ giúp người lao động biết được tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó an tâm làm việc. Phân tích tài chính doanh nghiệp đối với các đối thủ cạnh tranh: đối thủ cạnh tranh là những người quan tâm đến tình hình tài chính của Công ty, các chỉ tiêu thể hiện khả năng sinh lời, doanh thu bán hàng và các chỉ tiêu tài chính khác phục vụ cho việc đề ra các biện pháp cạnh tranh với Công ty. 5 1.2.2. Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp 1.2.2.1. Thu thập thông tin Phân tích tình hình tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dự đoán, đánh giá, lập kế hoạch. Nó bao gồm những thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài, những thông tin kế toán, và thông tin quản lý khác, những thông tin về số lượng và giá trị,…Trong đó vác thông tin kế toán là quan trọng nhất, được phản ánh tập trung trong các báo cáo tài chính doanh nghiệp, đó là những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng. Do vậy, phân tích hoạt động tài chính trên thực tế là phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp. 1.2.2.2. Phân tích thông tin Giai đoạn tiếp theo của phân tích hoạt động tài chính là quá trình xử lý thông tin đã thu thập. Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở các góc độ nghiên cứu, ứng dụng khác nhau phục vụ mục tiêu phân tích đã đặt ra. Xử lý thông tin là quá trình sắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân của các kết quả đã đạt được nhằm phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định. 1.2.2.3. Dự đoán và ra quyết định Có thể nói thu thập và xử lý số liệu là những bước tiền đề, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để người sử dụng thông tin dự đoán nhu cầu và đi đến mục tiêu cuối cùng là đưa ra các quyết định tài chính. Nếu đối với chủ doanh nghiệp, phân tích tài chính giúp họ đưa ra các quyết định liên quan đến mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tăng trưởng, là phát triển, là tối đa hoá lợi nhuận thì đối với người cho vay và đầu tư là đưa ra các quyết định về tài trợ và đầu tư cho doanh nghiệp. 1.2.3. Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp Để có thể đánh giá một cách chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp thì phân tích tài chính đòi hỏi phải có một lượng cơ sở thông tin đầy đủ và khách quan. Đó là sự tổng hợp của các thông tin bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Các thông tin nội bộ doanh nghiệp có thể kể đến như báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, bảng cân đối kế toán, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính... Còn các thông tin bên ngoài của doanh nghiệp thì có các thông tin về tình hình nền kinh tế, đối tác, đối thủ cạnh tranh, các nhà cung cấp và các Công ty có liên quan. Tất cả những thông tin trên đều giúp cho các nhà phân tích có cái nhìn đúng hơn để đưa ra những nhận xét, kết luận chính xác nhất. 6 Thang Long University Library 1.2.3.1. Thông tin bên trong doanh nghiệp a) Bảng cân đối kế toán (BCĐKT): Bảng cân đối kế toán là một bức tranh tổng thể về tình hình tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp tại một thời điểm. Bảng cân đối kế toán bao gồm hai phần tài sản và nguồn vốn. Đặc trưng cơ bản nhất của Bảng cân đối kế toán là tính cân bằng về mặt lượng giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản (nguồn vốn). Đặc trưng này thể hiện phương trình kế toán cơ bản: Tài sản = Nguồn vốn. Bên tài sản của bảng cân đối kế toán phản ảnh giá trị của toàn bộ tài sản hiện có đến thời điểm lập báo cáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp. Phần này bao gồm hai loại Tài sản ngắn hạn và Tài sản dài hạn. Trong đó, tài sản ngắn hạn là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ giá trị thuần của tất cả tài sản ngắn hạn hiện có của doanh nghiệp. Đây là những tài sản có thời gian luân chuyển ngắn, thường là một năm hay một chu kỳ kinh doanh: tiền và các khoản tương đương tiền, phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho,… Tài sản dài hạn là chỉ tiêu phản ánh giá trị thuần của toàn bộ tài sản có thời gian thu hồi trên một năm hay ngoài một chu kỳ kinh doanh hiện có tại doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo: tài sản cố định, đầu tư tài chính dài hạn,… ên nguồn vốn phản ánh số vốn để hình thành các loại tài sản của doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo. Đó là nợ ngắn hạn (nợ phải trả nhà cung cấp, các khoản phải nộp, phải trả khác, nợ ngắn hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác), nợ dài hạn (nợ vay dài hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác, vay bằng cách phát hành trái phiếu), vốn chủ sỡ hữu (thường bao gồm vốn góp ban đầu, lợi nhuận không chia, phát hành cổ phiếu mới). Các khoản mục trên bảng cân đối kế toán được sắp xếp theo khả năng chuyển hóa thành tiền giảm dần từ trên xuống. Bên tài sản và nguồn vốn của bảng cân đối kế toán đều có các cột chỉ tiêu: số đầu kỳ, số cuối kỳ. Ngoài các khoản mục trong nội bảng còn có một số khoản mục ngoài bảng cân đối kế toán như: một số tài sản thuê ngoài, vật tư, hàng hóa nhận giữ hộ, nhận gia công, hàng hóa nhận bán hộ, ngoại tệ các loại… b) Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh tình hình doanh thu, chi phí và kết quả của doanh nghiệp sau một kỳ hoạt động. Qua bản báo cáo này, người sử dụng thông tin có thể đánh giá được hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Số liệu báo cáo này cung cấp thông tin tổng hợp nhất về tình hình tài chính và kết quả sử dụng tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp. Báo cáo kết quả kinh doanh gồm hai phần: 7 Phần 1 (lãi, lỗ): phản ánh tình hình kết quả kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm hoạt động kinh doanh và hoạt động khác. Phần 2 (Thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước): phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước về thuế và các khoản phải nộp khác. c) áo cáo lưu chuyển tiền tệ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp nhằm phản ánh dòng tiền lưu chuyển trong kỳ. Để biết được luồng chảy tiền tệ trong kỳ của doanh nghiệp, qua đó đánh giá được khả năng thanh toán, xây dựng được kế hoạch đầu tư, dự đoán được luồng tiền trong tương lai,… Các nhà quản lý thường sử dụng thông tin trên “ áo cáo lưu chuyển tiền tệ”. áo cáo này được lập theo từng hoạt động (hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính và hoạt động đầu tư). áo cáo lưu chuyển tiền tệ gồm ba phần: Lưu chuyển tiền t hoạt động kinh doanh: phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như thu tiền mặt từ doanh thu bán hàng, các khoản thu bất thường bằng tiền mặt khác, chi tiền mặt trả cho người bán hoặc người cung cấp, chi trả lương nộp thuế, chi trả lãi tiền vay,… Lưu chuyển tiền t hoạt động tài chính: phản ánh toàn bộ dòng tiền thu, chi liên quan trực tiếp đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp bao gồm các nghiệp vụ làm tăng, giảm vốn kinh doanh của doanh nghiệp như chủ doanh nghiệp góp vốn, vay vốn dài hạn, ngắn hạn, nhận vốn liên doanh, phát hành trái phiếu… Lưu chuyển tiền t hoạt động đầu tư: phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp. Các khoản thu tiền mặt như bán tài sản, bán chứng khoán đầu tư, thu nợ các Công ty khác, thu lại về phần đầu tư. Các khoản chi tiền mặt như mua tài sản, mua chứng khoán đầu tư của doanh nghiệp khác… 1.2.3.2. Thông tin bên ngoài doanh nghiệp Sự tồn tại, phát triển cũng như quá trình suy thoái của doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Nên những thông tin để phân tích tài chính không thể chỉ giới hạn ở việc nghiên cứu những báo cáo tài chính mà phải tập hợp đầy đủ các thông tin liên quan đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, như thông tin về trạng thái nền kinh tế, chính sách tiền tệ, thuế khóa, các thông tin về lĩnh vực ngành nghề kinh doanh mà doanh nghiệp đang hoạt động, các thông tin về pháp lý đối với doanh nghiệp… Thông tin liên quan đến tình hình kinh tế: thông tin về tăng trưởng, suy thoái kinh tế; thông tin về lãi suất ngân hàng, trái phiếu kho bạc, tỷ giá ngoại tệ; thông tin về tỷ lệ lạm phát; các chính sách kinh tế lớn của Chính phủ, chính sách chính trị, ngoại giao của Nhà nước... 8 Thang Long University Library Thông tin theo ngành: mức độ và yêu cầu công nghệ của ngành, mức độ cạnh tranh và quy mô của thị trường, tính chất cạnh tranh của thị trường, mối quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp và khách hàng, nhịp độ và xu hướng vận động của ngành… Thông tin về đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp: mục tiêu và chiến lược hoạt động của doanh nghiệp (chiến lược tài chính và chiến lược kinh doanh); đặc điểm quá trình luân chuyển vốn trong các khâu kinh doanh ở từng loại hình doanh nghiệp; tính thời vụ, tính chu kỳ trong hoạt động kinh doanh và mối liên hệ giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp, khách hàng, ngân hàng. 1.2.4. Phương pháp phân tích trong phân tích tài chính doanh nghiệp 1.2.4.1. Phương pháp cân đối liên hệ Các báo cáo tài chính đều có đặc trưng chung là thể hiện tính cân đối: cân đối giữa tài sản và nguồn vốn, cân đối giữa doanh thu, chi phí và kết quả, cân đối giữa dòng tiền vào và dòng tiền ra, cân đối giữa tăng và giảm...Cụ thể là các cân đối cơ bản: Tổng tài sản = TSNH + TSDH Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn Lợi nhuận = Doanh thu - Chi phí Dòng tiền thuần = Dòng tiền vào - Dòng tiền ra Dựa vào những cân đối cơ bản trên, trong phân tích tài chính thường vận dụng phương pháp cân đối liên hệ để xem xét ảnh hưởng của từng nhân tố đến biến động của chỉ tiêu phân tích. Chẳng hạn, với biến động của tổng tài sản giữa hai thời điểm, phương pháp này sẽ cho thấy loại tài sản nào (hàng tồn kho, nợ phải thu, tài sản cố định...), biến động ảnh hưởng đến biến động tổng tài sản của doanh nghiệp. Như vậy, dựa vào biến động của từng bộ phận mà chỉ tiêu phân tích sẽ được đánh giá đầy đủ hơn. 1.2.4.2. Phương pháp so sánh Phương pháp so sánh là phương pháp sử dụng phổ biến và quan trọng nhất trong phân tích tình hình tài chính. Khi so sánh thường đối chiếu các chỉ tiêu tài chính với nhau để biết được mức độ biến động của các đối tượng đang nghiên cứu. Để kết quả so sánh có ý nghĩa thì các chỉ tiêu khi so sánh phải thống nhất về nội dung kinh tế, đơn vị tính, cách tính và các điều kiện môi trường của chỉ tiêu so sánh. Thông thường khi sử dụng phương pháp so sánh ta thường so sánh số thực hiện với số kế hoạch, số thực tế của các thời kỳ với nhau, so sánh số thực hiện với các tiêu chuẩn, định mức được ban hành, các thông số của thị trường chứng khoán. Kết quả củ việc so sánh thường thể hiện số tuyệt đối, số tương đối và số trung bình. Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu gốc 9 được chọn làm căn cứ so sánh. Khi phân tích tài chính, nhà phân tích thường sử dụng các gốc sau: Sử dụng số liệu tài chính ở nhiều kỳ trư c để đánh giá và dự báo xu hướng của các chỉ tiêu tài chính. Thông thường, số liệu phân tích được tổ chức từ ba đến năm năm liền kề. Sử dụng số liệu trung bình ngành để đánh giá sự tiến bộ về hoạt động tài chính của doanh nghiệp so với mức trung bình tiên tiến của ngành. Số liệu trung bình ngành thường được các tổ chức dịch vụ tài chính, các ngân hàng, cơ quan thống kê cung cấp theo nhóm các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong trường hợp không có số liệu trung bình ngành, nhà phân tích có thể sử dụng số liệu của một doanh nghiệp điển hình trong cùng ngành để làm căn cứ phân tích. Sử dụng các số kế hoạch, số dự toán để đánh giá doanh nghiệp có đạt các mục tiêu tài chính trong năm. Thông thường, các nhà quản trị doanh nghiệp chọn gốc so sánh này để xây dựng chiến lược hoạt động cho tổ chức của mình. Thông thường trong phân tích hay sử dụng hai kỹ thuật so sánh là kỹ thuật so sánh bằng số tuyệt đối và kỹ thuật so sánh bằng số tương đối. So sánh bằng số tuyệt đối cho thấy sự biến động về số tuyệt đối của chỉ tiêu phân tích. Công thức của kỹ thuật này như sau: Y = Y 1 – Y0 (Trong đó, Y: Trị số so sánh; Y0: Trị số gốc; Y1: Trị số phân tích) So sánh bằng số tương đối cho thấy thực tế so với kỳ gốc chỉ tiêu tăng hay giảm bao nhiêu phần trăm (%), phản ánh tốc độ tăng trưởng trong từng giai đoạn của chỉ tiêu. Công thức của kỹ thuật này như sau: (Trong đó, Y: Trị số so sánh; Y0: Trị số gốc; Y1: Trị số phân tích) 1.2.4.3. Phương pháp phân tích tỷ số Phương pháp truyền thống được áp dụng phổ biến trong phân tích tài chính là phương pháp tỷ số. Về nguyên tắc khi sử dụng nguyên tắc này cần xác định các ngưỡng, các tỷ số tham chiếu: có thể là mức trung bình ngành hoặc tỷ số của kỳ trước. Trong phân tích tài chính, các tỷ số tài chính chủ yếu thường được phân thành bốn nhóm chính: Tỷ số về khả năng thanh toán: đây là nhóm chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. 10 Thang Long University Library Tỷ số khả năng cân đối vốn hoặc cơ cấu vốn: nhóm chỉ tiêu này phản ánh mức độ ổn định và tự chủ tài chính cũng như khả năng sử dụng nợ vay của doanh nghiệp. Tỷ số về khả năng hoạt động: đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho việc sử dụng tài nguyên, nguồn lực của doanh nghiệp. Tỷ số về khả năng sinh lời: nhóm chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sản xuất – kinh doanh tổng hợp của một doanh nghiệp. 1.2.5. Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp 1.2.5.1. Phân tích tình hình biến động về tài sản, nguồn vốn Phân tích cơ cấu và biến động của tài sản Phân tích sự biến động của tài sản: nhằm giúp chúng ta thấy được sự thay đổi về giá trị, tỷ trọng của các tài sản qua các thời kỳ thay đổi như thế nào?. Để từ đó thấy được kế hoạch sản xuất kinh doanh hiện tại có phù hợp hay không?. Sự biến động của tài sản qua: tiền và các khoản tương đương tiền, khoản phải thu, hàng tồn kho, tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn,… Đầu tiên, tiến hành so sánh quy mô tổng tài sản để thấy được sự biến động của tổng tài sản giữa các thời điểm, từ đó biết được tình hình đầu tư của doanh nghiệp. Sau đó đánh giá khái quát cơ cấu tổng tài sản thông qua việc tính toán tỷ trọng của từng loại tài sản trong tổng tài sản, qua đó nhận xét về mức độ ph hợp của cơ cấu tài sản với ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp. Tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản được xác định như sau: Giá trị của từng bộ phận tài sản Tỷ trọng của từng bộ phận tài sản = x 100 Tổng tài sản ước tiếp theo là tiến hành phân tích ngang, tức là so sánh mức tăng, giảm của các chỉ tiêu tài sản trên bảng cân đối kế toán thông qua số tuyệt đối và tương đối giữa cuối kỳ với đầu kỳ hoặc nhiều thời điểm liên tiếp. ước này giúp nhận biết các nhân tố ảnh hưởng và xác định mức độ ảnh hưởng đến sự biến động về cơ cấu tài sản. Từ đó đưa ra các nhận xét về quy mô từng khoản mục thành phần của tài sản là tăng hay giảm, đồng thời lý giải cho biến động tăng hoặc giảm đó cũng như phân tích ảnh hưởng của biến động này đến kết quả và hiệu quả kinh doanh. Phân tích cơ cấu và biến động của nguồn vốn Việc phân tích tình hình nguồn vốn cũng tiến hành tương tự như phân tích tình hình tài sản. Đầu tiên, cần tính toán và so sánh tình hình biến động giữa các kỳ với nhau. Tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn được xác định như sau: 11 Tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn = Giá trị của từng bộ phận nguồn vốn Tổng nguồn vốn x 100 Phân tích vốn lưu động ròng Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn hình thành nên tài sản ngắn hạn nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên liên tục. Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một chu kỳ kinh doanh và được thu hồi toàn bộ khi kết thúc chu kỳ kinh doanh đó. Chu kỳ kinh doanh của một doanh nghiệp là khoảng thời gian trung bình cần thiết để thực hiện việc mua sắm, dự trữ vật tư, sản xuất ra sản phẩm và bán được sản phẩm, thu được tiền bán hàng. Để phân tích mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn, thường sử dụng chỉ tiêu vốn lưu động ròng. Vốn lưu động ròng là sự chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nguồn vốn ngắn hạn: Vốn lưu động ròng (VLĐR) = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này phản ánh phần tài sản lưu động được tài trợ từ nguồn vốn cơ bản, lâu dài mà không đòi hỏi phải chi trả trong thời gian ngắn, vốn lưu động ròng càng lớn phản ánh khả năng chi trả đối với nợ ngắn hạn càng cao khi đến hạn trả. Nó được xác định là phần chênh lệch giữa tổng tài sản ngắn hạn và tổng nợ ngắn hạn. H nh 1.1. Các chính sách quản lý vốn lƣu động trong doanh nghiệp Chính sách quản lý cấp tiến Chính sách quản lý thận trọng NVNH TSNH NVNH TSNH NVDH TSDH NVDH TSDH Chính sách quản lý dung hòa TSNH NVNH TSDH NVDH (Nguồn: PGS.TS Nguyễn Ngọc Quang – Phân tích báo cáo tài chính – Nhà xuất bản Tài chính 2010, trang 78) 12 Thang Long University Library Chính sách quản lý cấp tiến: Khi doanh nghiệp theo đuổi chính sách quản lý vốn cấp tiến nghĩa là doanh nghiệp đã sử dụng một phần nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn. Ưu điểm của chính sách này là mức tài sản ngắn hạn thấp nhưng được quản lý cấp tiến và hiệu quả, chi phí huy động vốn thấp hơn do lãi suất ngắn hạn thấp hơn lãi suất dài hạn, thời gian quay vòng tiền được rút ngắn do phải thu khách hàng và hàng tồn kho giảm nên vòng quay của chúng tăng và thời gian quay vòng giảm. Tuy nhiên, sự ổn định của nguồn vốn là không cao vì nguồn ngắn hạn được sử dụng nhiều, khả năng thanh toán ngắn hạn cũng không được đảm bảo. Chính sách này đem lại thu nhập cao và rủi ro cao. Chính sách quản lý thận trọng: Khi doanh nghiệp theo đuổi chính sách quản lý vốn thận trọng nghĩa là doanh nghiệp đã sử dụng một phần nguồn vốn dài hạn để đầu tư cho tài sản ngắn hạn. Trong trường hợp này doanh nghiệp sẽ không gặp phải vấn đề mất khả năng thanh toán trong ngắn hạn, tính ổn định của nguồn vốn cao, hạn chế rủi ro trong kinh doanh. Tuy nhiên, doanh nghiệp sẽ mất chi phí huy động vốn cao hơn do nguồn dài hạn là nguồn có chi phí cao hơn nguồn ngắn hạn, điều này sẽ làm giảm khả năng sinh lời của tài sản ngắn hạn, thời gian quay vòng tiền dài do phải thu khách hàng và hàng tồn kho tăng nên vòng quay của chúng giảm và thời gian quay vòng tăng. Với chính sách này doanh nghiệp có mức rủi ro thấp nhưng đem lại lợi nhuận thấp hơn so với chính sách cấp tiến. Chính sách quản lý dung hòa: Với chính sách quản lý dung hòa thì toàn bộ các tài sản ngắn hạn sẽ được tài trợ bằng nguồn vốn ngắn hạn và tài sản dài hạn sẽ được tài trợ bởi nguồn vốn dài hạn. Với chính sách này VLĐR bằng không và doanh nghiệp gần như không gặp phải rủi ro nào, tài sản ngắn hạn luôn được đảm bảo thường xuyên, liên tục thông qua nguồn nợ ngắn hạn. Vậy với mỗi doanh nghiệp có thể lựa chọn một chính sách vốn lưu động riêng. Khả năng đáp ứng nghĩa vụ thanh toán, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh và khả năng nắm bắt thời cơ thuận lợi của nhiều doanh nghiệp phụ thuộc phần lớn vào vốn lưu động ròng. Do vậy, sự phát triển của không ít doanh nghiệp còn được thể hiện ở sự tăng trưởng vốn lưu động ròng. 1.2.5.2. Phân tích tình hình doanh thu, chi phí, lợi nhuận Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cung cấp những thông tin về doanh thu, chi phí và kết quả của các hoạt động cơ bản trong doanh nghiệp như hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính và hoạt động khác. Từ đó thấy được cơ cấu doanh thu, chi phí và kết quả của từng hoạt động có phù hợp với đặc điểm và nhiệm vụ kinh doanh không. Nội dung phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh bao gồm: 13 Doanh thu: lần lượt so sánh các chỉ tiêu về doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu hoạt động tài chính và thu nhập khác thông qua số tuyệt đối và tương đối giữa kỳ này và kỳ trước hoặc nhiều kỳ với nhau. Qua đó rút ra nhận xét về tình hình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thường có quy mô lớn nhất và cũng là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tổ chức sản xuất, phân phối, bán hàng của doanh nghiệp. Phân tích tình hình doanh thu giúp các nhà quản trị thấy được ưu nhược điểm trong quá trình tạo doanh thu và xác định các yếu tố làm tăng, giảm doanh thu. Từ đó loại bỏ hoặc giảm tác động của các yếu tố tiêu cực, đẩy mạnh và phát huy yếu tố tích cực của doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Chi phí: tất cả các khoản chi phí đều là dòng tiền ra của doanh nghiệp. Giá vốn hàng bán thường là khoản chi phí lớn nhất trong doanh nghiệp. Do đó việc kiểm soát giá vốn hàng bán thông qua theo d i và phân tích từng bộ phận cấu thành của nó là rất có ý nghĩa. Vì việc giảm tỷ lệ giá vốn hàng bán trên doanh thu sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh và khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Ngoài ra, chi phí lãi vay cũng là khoản mục cần chú trọng trong phân tích vì nó phản ánh tình hình công nợ của doanh nghiệp. Như vậy, nếu chi phí bỏ ra quá lớn hoặc tốc độ tăng của chi phí lớn hơn tốc độ tăng của doanh thu thì chứng tỏ doanh nghiệp đang sử dụng nguồn lực không hiệu quả. Lợi nhuận: lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp biểu hiện kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận cao cho thấy doanh nghiệp hoạt động tốt, ít rủi ro và ngược lại. Thông qua phân tích mối quan hệ giữa tổng doanh thu, tổng chi phí và lợi nhuận đạt được của doanh nghiệp, sẽ đánh giá được chính xác hiệu quả kinh doanh và khả năng sinh lời cho chủ sở hữu. ết hợp những nhận xét và đánh giá rút ra từ ba phần doanh thu, chi phí và lợi nhuận để làm r xu hướng biến động của kết quả sản xuất kinh doanh và đưa ra các quyết định quản lý, quyết định tài chính ph hợp nhất. 1.2.5.3. Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ áo cáo lưu chuyển tiền tệ là một trong những báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh sau kỳ hoạt động của doanh nghiệp. Để phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ thường tiếp cận trên những góc độ sau: So sánh các chỉ tiêu trên báo cáo lưu chuyển tiền theo chiều ngang thông qua số tuyệt đối và tương đối để thấy được quy mô và tốc độ tăng, giảm của các chỉ tiêu ảnh hưởng tới khả năng thanh toán và chất lượng dự đoán tiền trong kỳ tới ra sao? Lưu chuyển thuần từ hoạt động kinh doanh âm (thu 1: Công ty có khả năng thanh toán nhanh tốt hay Công ty có đủ vồn bằng tiền hoặc các khoản tương đương tiền để thanh toán cho một đồng nợ ngắn hạn. Khả năng thanh toán nhanh của Công ty tốt nhưng nếu quá cao sẽ là một biểu hiện không tốt khi đánh giá về khả năng sinh lời, hệ số cao tương ứng với nắm giữ tiền mặt nhiều gây nên mất chi phí cơ hội hoặc phải thu khách hàng cao dẫn đến rủi ro cao Nếu tỷ số này nhỏ hơn <1 hoặc nhỏ hơn hẳn so với tỷ số thanh toán hiện hành thì điều đó có nghĩa là tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp phụ thuộc quá nhiều vào hàng tồn kho. Các cửa hàng bán lẻ là những ví dụ điển hình của trường hợp này. Nhìn chung hệ số này bằng 1 là lý tưởng nhất. Tuy nhiên, giống như hệ số thanh toán nợ ngắn hạn, độ lớn của hệ số này phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh và kỳ hạn thanh toán các món nợ trong kỳ. c) Khả năng thanh toán bằng tiền Hệ số khả năng thanh toán bằng tiền: cho phép đánh giá được khả năng thanh toán bằng tiền của các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bằng tiền (tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển) và các khoản tương đương tiền. 16 Thang Long University Library Tiền và các khoản tương đương tiền Tổng nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này phản ánh một đồng nợ ngắn hạn của doanh nghiệp được đảm bảo bằng bao nhiêu đơn vị tiền tệ. Nếu chỉ tiêu này cao, doanh nghiệp có khả năng thanh Hệ số khả năng thanh toán bằng tiền = toán nợ nhanh chóng do giữ lượng lớn vốn lưu động dưới dạng tiền mặt và đầu tư tài chính ngắn hạn. Ngược lại, nếu chỉ tiêu này thấp, doanh nghiệp sẽ mất nhiều thời gian hơn để đáp ứng các khoản nợ. 1.2.6.2. Nhóm chỉ tiêu khả năng quản lý tài sản a) Vòng quay hàng tồn kho Chỉ tiêu này cho phép đánh giá hiệu quả quản lý hàng tồn kho của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này cho biết số lần bình quân mà hàng tồn kho luân chuyển trong kỳ hay thời gian hàng hóa nằm trong kho trước khi được bán ra. Chỉ số này càng cao số vòng quay càng lớn thì tốc độ quay vòng của hàng tồn kho càng nhanh, cho thấy doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, hệ số này cao quá cũng không tốt, vì như vậy có nghĩa là lượng hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả năng doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần. Hơn nữa, dự trữ nguyên vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ. Công thức xác định vòng quay hàng tồn kho: Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán Hàng tồn kho TB b) Thời gian luân chuyển hàng tồn kho trung bình Từ vòng quay hàng tồn kho, ta tính được số ngày trung bình thực hiện một vòng quay hàng tồn kho qua công thức sau: Thời gian luân chuyển kho trung bình = 360 Vòng quay hàng tồn kho Thời gian luân chyển kho trung bình cho biết khoảng thời gian cần thiết để doanh nghiệp có thể tiêu thụ được hết số lượng hàng tồn kho của mình (bao gồm cả hàng hoá còn đang trong quá trình sản xuất). Chỉ tiêu này càng nhỏ, số vòng quay hàng tồn kho càng lớn, việc kinh doanh của doanh nghiệp càng hiệu quả, việc kinh doanh được đánh giá càng tốt bởi lẽ doanh nghiệp chỉ đầu tư cho hàng tồn kho thấp nhưng vẫn đạt được doanh số cao. Song, trong quá trình phân tích đánh giá, cần xem xét một cách cụ thể những yếu tố khác có liên quan, như phương thức bán hàng vận chuyển thẳng hoặc bán giao tay ba nhiều thì vòng quay hàng tồn kho càng cao hoặc nếu duy trì mức tồn kho thấp cũng sẽ làm cho thời gian quay vòng hàng tồn kho thấp những cũng làm cho khối lượng tiêu thụ hàng hóa bị hạn chế hơn. 17 c) Vòng quay các khoản phải thu Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu của doanh nghiệp thành tiền mặt và được xác định bằng công thức: Vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu thuần Các khoản phải thu TB Vòng quay các khoản phải thu cho biết các khoản phải thu phải quay khoảng bao nhiêu vòng trong một kỳ báo cáo nhất định để đạt được doanh thu trong kì đó. Vòng quay các khoản phải thu càng lớn cho thấy doanh nghiệp thu hồi càng nhanh các khoản vốn bị chiếm dụng. Tuy nhiên chỉ tiêu này cao quá có thể phương thức thanh toán tiền của doanh nghiệp quá chặt chẽ, khi đó sẽ ảnh hưởng đến sản lượng hàng tiêu thụ. Chỉ tiêu này cho biết mức độ hợp lý các khoản phải thu đối với từng mặt hàng cụ thể của doanh nghiệp trên thị trường. d) Kỳ thu tiền bình quân Kỳ thu tiền bình quân = 360 Vòng quay các khoản phải thu Kỳ thu tiền bình quân cho biết doanh nghiệp mất bình quân là bao nhiêu ngày để thu hồi các khoản phải thu của mình. Kỳ thu hồi nợ càng ngắn thể hiện chính sách thu hồi công nợ của doanh nghiệp càng hiệu quả. Tuy nhiên, nếu kỳ thu tiền bình quân quá ngắn có thể gây ảnh hưởng không tốt đến quá trình tiêu thụ sản phẩm, do khách hàng sẽ giảm mua hàng của doanh nghiệp dẫn đến giảm doanh thu. Thời gian thu nợ trung bình cho biết thời gian trả chậm trung bình các khoản phải thu hoặc thời gian trung bình để chuyển các khoản phải thu thành tiền mặt. Hệ số thu nợ trung bình càng lớn càng tốt. e) Vòng quay các khoản phải trả Chi phí chung, chi phí bán hàng, quản lý Vòng quay các khoản phải trả = Phải trả người bán Lương, thưởng, thuế + trung bình phải trả trung bình Chỉ tiêu số vòng quay các khoản phải trả phản ánh khả năng chiếm dụng vốn ngắn hạn của doanh nghiệp đối với nhà cung cấp, người lao động và cơ quan Nhà nước. Việc chiếm dụng vốn của các chủ thể khác có thể sẽ giúp doanh nghiệp giảm được chi phí về vốn, đồng thời thể hiện uy tín trong quan hệ thanh toán đối với nhà cung cấp và sự tín nhiệm của người lao động. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng nếu số vòng quay các khoản phải trả quá nhỏ (các khoản phải trả lớn), sẽ tiềm ẩn rủi ro về khả năng thanh khoản và có thể ảnh hưởng không tốt đến xếp hạng tín dụng của doanh nghiệp. 18 Giá vốn hàng bán + Thang Long University Library f) Kỳ trả tiền bình quân Kỳ trả tiền bình quân càng ngắn chứng tỏ khả năng thanh toán tiền hàng càng nhanh, doanh nghiệp ít đi chiếm dụng vốn của các đối tác. Ngược lại, kỳ trả tiền bình quân càng dài, chứng tỏ khả năng thanh toán chậm, số vốn doanh nghiệp đi chiếm dụng nhiều ảnh hưởng tới uy tín trên thị trường. Kỳ trả tiền bình quân 360 = Vòng quay các khoản phải trả g) Thời gian luân chuyển vốn bằng tiền Thời gian luân chuyển vốn bằng tiền trung bình phản ánh khoảng thời gian kể từ khi doanh nghiệp thanh toán tiền mua hàng hóa đầu vào cho tới khi doanh nghiệp thu được tiền về. Thời gian luân chuyển vốn bằng tiền = Kỳ thu tiền bình quân + Thời gian quay vòng hàng tồn kho Kỳ trả tiền bình quân Các doanh nghiệp luôn mong muốn có thời gian luân chuyển vốn bằng tiền thấp do chỉ khi nào dòng tiền thực sự quay trở lại doanh nghiệp, kinh doanh mới thực sự đạt hiệu quả trên thực tế và thời gian luân chuyển vốn bằng tiền càng ngắn, doanh nghiệp thu hồi vốn càng nhanh. Tuy nhiên, để làm được điều đó các doanh nghiệp buộc phải cung cấp chính sách tín dụng thương mại thắt chặt, đồng thời tăng khả năng chiếm dụng vốn của khách hàng. Điều này dẫn tới những ảnh hưởng không có lợi trong mối quan hệ của doanh nghiệp với các đối tác. h) Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn cho biết một đồng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn = Doanh thu thuần Tổng tài sản ngắn hạn Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp càng tốt, tài sản ngắn hạn đóng góp nhiều vào việc tạo ra doanh thu thuần và làm tăng khả năng sinh lời cho doanh nghiệp. Ngược lại, nếu chỉ tiêu này thấp phản ánh doanh nghiệp sử dụng tài sản ngắn hạn chưa hiệu quả, chính sách dự trữ kho không ph hợp, thành phẩm khó tiêu thụ và khoản phải thu lớn. Thông qua chỉ tiêu này nhà phân tích đề ra các biện pháp quản lý tài sản ngắn hạn nói riêng và tổng tài sản nói chung để nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng khả năng sinh lời cho doanh nghiệp. 19 i) Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn của doanh nghiệp, doanh nghiệp sử dụng chỉ tiêu sau: Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn = Doanh thu thuần Tổng tài sản dài hạn Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn cho biết 1 đồng tài sản dài hạn tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Chỉ tiêu này càng lớn cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn của doanh nghiệp càng cao và ngược lại. Do đó, để nâng cao chỉ tiêu này, doanh nghiệp nên cắt giảm các tài sản dài hạn thừa hoặc những tài sản dài hạn sử dụng không hiệu quả. Việc này giúp doanh nghiệp phát huy và khai thác tối đa năng lực sản xuất hiện có của tài sản dài hạn, đồng thời giúp doanh nghiệp tiết kiệm các khoản chi phí bảo dưỡng, sữa chữa. j) Hiệu suất sử dụng tổng tài sản hi đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản nói chung, bỏ qua sự khác biệt về trạng thái vật lý, giá trị, về thời gian sử dụng, thì chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tổng tài sản thường được trưng dụng. Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Doanh thu thuần Tổng tài sản Hiệu suất sử dụng tổng tài sản đo lường 1 đồng tài sản tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu. Chỉ số này càng cao đồng nghĩa với việc sử dụng tài sản của doanh nghiệp vào các hoạt động sản xuất kinh doanh càng hiệu quả. Tuy nhiên muốn có kết luận chính xác về mức độ hiệu quả của việc sử dụng tài sản của một doanh nghiệp chúng ta cần so sánh với hiệu suất sử dụng tổng tài sản bình quân của ngành. 1.2.6.3. Nhóm chỉ tiêu khả năng quản lý nợ a) Hệ số nợ (Tỷ số nợ trên tổng tài sản): Hệ số nợ được sử dụng để xác định nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với các chủ nợ trong việc góp vốn. Công thức xác định: Tỷ số nợ Nợ phải trả = Tổng tài sản Tỷ số này cho biết mức độ sử dụng nợ để tài trợ cho tài sản của doanh nghiệp, có bao nhiêu phần trăm tài sản của doanh nghiệp là từ đi vay. Qua đây biết được khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp. Hệ số nợ trên tổng tài sản nói chung thường nằm trong khoảng từ 50% đến 70% (Nguồn: PGS.TS Nguyễn Ngọc Quang – Phân tích báo cáo tài chính – Nhà xuất bản Tài chính 2010, trang 101). Tỷ số này mà quá nhỏ, 20 Thang Long University Library
- Xem thêm -