Phân tích tình hình giảm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm nhằm nâng cao khả năng cho sản phẩm tại công ty 20

  • Số trang: 74 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 33 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

Lời nói đầu Cùng với sự hội nhập mạnh mẽ của nền kinh tế toàn cầu như hiện nay, Việt Nam đã có những bước đi mạnh mẽ cho riêng mình, nhưng mục tiêu cuối cùng cũng chính là : hội nhập với nền kinh tế thế giới. Năm 2006 vừa qua đã diễn ra một sự kiện mang tính lịch sử cho nền kinh tế nước nhà đó chính là : Việt Nam là thành viên thứ 150 của WTO. Cùng với sự hội nhập của nền kinh tế đất nước, đã tạo ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp nước ta. Tuy nhiên, để tồn tại và phát triển trong sự cạnh tranh mạnh mẽ và khắc nghiệt của cơ chế thị trường cũng là một thách thức không nhỏ đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải quan tâm hơn nữa tới chiến lược kinh doanh của mình. Hiệu quả kinh doanh luôn là bài toán khó đặt ra đối với mỗi doanh nghiệp, chiến thắng đối thủ cạnh tranh khẳng định vị trí của mình thì doanh nghiệp phải làm sao định vị được thị trường của mình, đồng thời thị phần phải ngày càng được mở rộng. Có lẽ, giải pháp tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm để từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm luôn là một trong số chìa khoá quan trọng để tìm ra lời giải đáp cho doanh nghiệp. Có thể nói đó cũng chính là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp, phản ánh trình độ quản lý, sử dụng lao động, trình độ tổ chức công nghệ sản xuất sản phẩm. Tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm giúp doanh nghiệp giảm được gía bán, đẩy nhanh quá trình tiêu thụ sản phẩm, nâng cao lợi nhuận cho danh nghiệp, tăng khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh , mở rộng thị trường cho sản phẩm của mình. Vì vậy phân tích và các giải pháp hạ thấp chi phí sản xuất từ đó hạ giá thành sản phẩm nhằm nâng 1 cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm của doanh nghiệp luôn được các nhà quản lý quan tâm. Xuất phát từ thực tế đó, qua thời gian thực tập tại công ty 20, đối diện với thực trạng quản lý sản xuất kinh doanh của công ty, tôi xin mạnh dạn đi sâu nghiên cứu vấn đề “Phân tích tình hình giảm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm nhằm nâng cao khả năng cho sản phẩm tại công ty 20” với thời gian thực tập ít, kinh nghiệm hạn chế, chắc chắn báo cáo thực thậo của tôi còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn. Tôi xin chân thành cam ơn sự giúp đỡ tận tình của thầy cô trong trường cũng như của cán bộ công nhân viên công ty 20 đã giúp đỡ tôi hoàn thành bài báo cáo này. 2 CHƢƠNG 1: NHỮNGVẤNĐỀLÝLUẬNCHUNGVỀCHIPHÍSẢNXUẤT KINHDOANHVÀGÍATHÀNHSẢNPHẨMTRONGDOANHNGHIỆ PXÂYLẮP 1. CHIPHÍSẢNXUẤTKINHDOANHCỦADOANHNGHIỆP 1.1 Chi phí sản xuất kinh doanh vá phân loại chi phí sản xuất kinh doanh 1.1.1 Khái niệm về chi phí sản xuất-kinh doanh. Bất kỳ một Doanh Nghiệp nào khi tiến hành hoạt động sản xuất-kinh doanh (SX-KD) của mình đều nhằm mục đích thu được lợi nhuận hoặc để thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội khác.Để thực hiện được các mục tiêu này,các DN phải bỏ ra những chi phí nhất định. Các chi phí này phát sinh hàng ngày ,hàng giờở các giai đoạn khác nhau của quá trình SX-KD của DN trong một thời kỳ nhất định.Tuỳ thuộc vào việc thực hiện chức năng và vai trò khác nhau mà các DN cũng đòi hỏi có những chi phí khác nhau . Đối với hoạt động sản xuất,các chi phí mà DN phải bỏ ra trước hết là các chi phí cho việc sản xuất sản phẩm .Trong quá trình tạo ra sản phẩm,DN phải tiêu hao các loại vật tư như :nguyên ,nhiên vật liệu, phải chịu sự hao mòn của máy móc, công cụ, dụng cụ ,phải trả tiền lương (hoặc tiền công) cho công nhân viên chức của DN. Các chi phí này phát sinh thường xuyên và gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm . Ngoài việc sản xuất ra sản phẩm,các DN còn phải tổ chức tiêu thụ sản phẩm nhằm thu tiền về .Để thực hiện được quá trình này,DN cũng phải bỏ ra những chi phí nhất định như chi phí vận chuyển,bốc dỡ, bảo quản, bao gói sản phẩm... Mặt khác,trong điều kiện sản xuất hàng hoá có cạnh tranh ,thị trường hàng hoá ngày càng phong phú vàđa dạng ,để sản xuất và tiêu thụđược sản phẩm các 3 DN phải bỏ ra chi phíđể nghiên cứu thị trường ,quảng cáo,giới thiệu sản phẩm,thực hiện việc bảo hành sản phẩm...Những chi phí liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm được gọi là chi phí tiêu thụ sản phẩm của DN hay còn được gọi là chi phí lưu thông sản phẩm. Như vậy ,từ góc độ hoạt động sản xuất,có thể thấy chi phí SX_KD của DN là toàn bộ chi phí sản xuất ,chi phí tiêu thụ sản phẩm và các chi phí khác mà DN phải bỏ ra để phục vụ cho hoạt động SX_KD trong một thời kỳ nhất định . Đối với hoạt động kinh doanh,các chi phí mà DN phải bỏ ra đó là chi phí phát sinh ở khâu mua ,vận chuyển ,dự trữ ,tiêu thụ hàng hoá ,chi phí quản lý DN ,các chi phí phục vụ quá trình mua bán hàng hoá nhằm mục tiêu lợi nhuận...Ngoài ra, với hoạt động cung ứng dịch vụ và các hoạt động xúc tiến thương mại nhưđại diện,môi giới,quảng cáo,triển lãm ...chi phí mà DN phải bỏ ra là các chi phí về vật chất ,tiền vốn và sức lao động để thực hiện các hoạt động đó trong một thời kỳ nhất định . Từ góc độ của hoạt động kinh doanh ,có thể thấy rằng chi phí kinh doanh của DN là toàn bộ các chi phí mà DN đã bỏ ra để thực hiện được các mục tiêu mà DN đãđề ra trong một thời kỳ nhất định .Các chi phí này cóđặc điểm làđược bùđắp bằng doanh thu kinh doanh của DN trong thời kỳđó . Trong nền kinh tế thị trường ,các chi phí nêu trên đều được biểu hiện bằng tiền. Vì vậy có thể nói rằng :Chi phí SX-KD của một DN là biểu hiện bằng tiền của những hao phí về vật chất ,về sức lao động và các chi phí bằng tiền khác liên quan và phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho quá trình SX-KD của DN trong một thời kỳ nhất định đồng thời đƣợc bùđắp từ doanh thu SX-KD của DN trong thời kỳđó . 4 Chi phí SX-KD của DN biểu hiện hao phí lao động cá biệt của DN trong một thời kỳ nhất định ,nó là căn cứđể xác định số tiền phải bùđắp từ thu nhập của DN trong thời kỳđó . Do vậy ,một trong những thông tin quan trọng đối với nhà quản lý tài chính DN là các thông tin về chi phí vì mỗi khi chi phí tăng thêm thì sẽ cóảnh hưởng trực tiếp tới doanh thu và lợi nhuận của DN .Các nhà quản lý cần hiểu rõ vai trò của chi phíđối với DN và cần khảo sát chặt chẽ các khoản chi phí của DN . 1.1.2 ý nghĩa của việc tăng cường quản lý chi phí và tiết kiệm chi phí . Trong quá trình hoạt động SX-KD ,các DN phải luôn quan tâm đến việc quản lý chi phí vì mỗi đồng chi phí không hợp lýđều làm giảm lợi nhuận của DN. Chi phí SX-KD chính là cơ sởđể tính lợi nhuận của DN . Ta có công thức tính lợi nhuận : Lợi nhuận hoạt động kinh doanh = Tổng Tổng chi doanh _ phí kinh thu doanh Chi phí _ bán hàng Chi phí _ quản lý doanh nghiệp Vậy vấn dề quan trọng đặt ra cho mỗi DN là phải kiểm soát được tình hình chi phí SX-KD của DN .Quản lý và sử dụng chi phí hợp lý cóý nghĩa quan trọng trong SX-KD vì nóảnh hưởng trực tiếp đến tình hình và kết quả kinh doanh của DN .Nếu DN quản lý tốt chi phí thì sẽ có tác dụng thúc đẩy quá trình hoạt động SX-KD ,tăng doanh thu và hiệu quả kinh tế và ngược lại nếu DN quản lý không tốt chi phí thì kết quả kinh doanh sẽ bị hạn chế,hiệu quả kinh tế giảm. Nhờ có tiết kiệm chi phí mà DN có thể tăng được tích luỹ,hoàn thành nghĩa vụđối với Nhà Nước,tăng lợi nhuận cho DN ,đảm bảo đời sống cho người lao động. 5 Từ các vai trò và tác dụng kể trên của chi phí ,ta thấy được việc thực hiện tốt chi phí kinh doanh là cơ sởđể DN thực hiện tốt các kế hoạch SX-KD mà DN đãđề ra .Chi phí SX-KD là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh đầy đủ tình hình hoạt động SX-KD của DN .Chỉ tiêu này được sử dụng đểđánh giá hoạt động SX-KD giữa thực tế với kế hoạch ,giữa các kỳ với nhau hay giữa các đơn vị trong cùng một ngành . Do trong quá trình hoạt động SX-KD trong một thời kỳ nhất định có nhiều loại chi phí của DN phát sinh không phục vụ hoạt động SX_KD cho DN trong kỳ vàđồng thời cũng không được bùđắp từ doanh thu hoặc thu nhập của DN trong thời kỳđó nên cần thiết phải xác định phạm vi của chi phí SX-KD để từđó DN lập kế hoạch chi phí hợp lý. 1.2 Phạm vi của chi phí SX-KD trong các DN . Nhưđã nêu trên ,chi phí SX-KD của DN sẽđược bùđắp từ doanh thu hoặc thu nhập của DN trong kỳ vì vậy về nguyên tắc tất cả các khoản chi phí phát sinh trong kỳđược bùđắp từ các nguồn khác đều không phải là chi phí SX-KD hợp lệ ,hơn nữa chi phí kinh doanh chỉ phục vụ hoạt động SX-KD của DN trong kỳ nên tất cả các khoản chi phí phát sinh trong kỳ nhưng không trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ SX_KD của kỳđóđều không được tính vào chi phí SX-KD .Chỉ có những khoản chi phí trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến doanh thu trong kỳ của DN mới được ghi nhận là chi phí kinh doanh hợp lệ. Các khoản chi phí không hợp lệ thì không được phép hạch toán vào chi phí SX_KD trong kỳ mà phải dùng thu nhập sau thuế hoặc vốn hiện cóđể bùđắp . Trong thực tế ,đôi khi các DN hay các tổ chức không thực hiện đúng qui định và làm đúng với chính sách tài chính của Nhà nước .Vì nhiều mục đích khác nhau ,các DN đã làm tăng hoặc giảm các khoản chi phí SX_KD từđó dẫn đến việc làm trái với qui định ,tăng hoặc giảm lợi nhuận của DN .Do những bất cập đó vàđểđảm bảo công bằng giữa các thành phần kinh tế ,các loại hình DN 6 khi thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà Nước nhất là khi tính thuế thu nhập mà DN phải nộp,Bộ Tài Chính đã ban hành thông tư số 63/1999và 08/2000 quy định cụ thể các khoản chi phí không được phép hạch toán vào chi phí SX-KD. Đó là các khoản mục sau: Thứ nhất: Chi phíđầu tư dài hạn của DN .Chi phíđầu tư dài hạn của DN là các khoản chi phí phát sinh cần thiết để tạo ra các yếu tố của quá trình SX-KD của DN theo kế hoạch đầu tư dài hạn nhằm phục vụ cho hoạt động SX-KD trong một thời gian dài của DN . Nhóm chi phí này bao gồm :Chi phíđầu tư xây dựng cơ bản ,chi phí mua sắm TSCĐ ,bổ sung TSCĐ cần thiết hoặc hình thành TSLĐ cần thiết ban đầu ,chi đào tạo dài hạn đội ngũ cán bộ quản lý kỹ thuật, nhân công,chi nghiên cứu khoa học.... Nhóm chi phí này được bùđắp từ nguồn vốn đầu tư dài hạn của DN vì vậy chúng không thuộc vào chi phí kinh doanh của DN trong kỳ . Thứ hai: Các khoản chi phúc lợi xã hội như chi về văn hoá ,thể thao, y tế, vệ sinh ,chi ăn trưa,chi tiền thưởng ,ủng hộ nhân đạo ,trợ cấp khó khăn ,chi ủng hộ các tổ chức xã hội....Các khoản chi này cũng không tính vào chi phí của DN bởi vì nguồn bùđắp chủ yếu của các khoản chi này lấy từ các quỹ chuyên dùng và sựđóng góp ủng hộ của các tổ chức xã hội khác (nếu có). Thứ ba: Các khoản tiền phạt vi phạm pháp luật như luật giao thông ,luật thuế luật môi trường ,luật lao động ,vi phạm chếđộ báo cáo thống kê,tài chính kế toán và các luật khác. Nếu do tập thể cá nhân vi phạm luật thì tập thể hoặc cá nhân đó phải nộp phạt .Ngoài khoản tiền đền bù nói trên,khoản tiền phạt còn lại, DN phải lấy từ lợi nhuận sau thuế. Thứ tư : là chi phíđi công tác nước ngoài vượt định mức DN . Thứ năm :là các khoản thuộc nguồn kinh phí khác đài thọ như chi phí sự nghiệp đãđược ngân sách Nhà nước cấp ,cơ quan cấp trên cấp hoặc các tổ chức xã hội 7 khác hỗ trợ.Khoản chi trả lãi vay vốn đầu tư XDCB trong thời kỳ công trình chưa hoàn thành đưa vào sử dụng sẽđược hạch toán vào chi phíđầu tư XDCB. Thứ sáu :là các khoản chi phí SX_KD vượt mức quy định của chếđộ tài chính khoản chi này được bùđắp bằng quỹ khen thưởng phúc lợi . Thứ bảy :là các khoản thua lỗ thiệt hại do chủ quan của đơn vị gây ra hoặc khách quan đưa lại đãđược Nhà nước hoặc cơ quan bảo hiểm thanh toán bồi thường,các khoản chi trong kỳ do nguồn kinh phí khác tài trợ. Riêng đối với DN Nhà nước ,theo thông tư số 76/T C/TCD của bộ Tài Chính Nhà nước khống chế chi phí như tiếp tân ,hội họp giao dịch,đối ngoại, lãi vay ngân hàng hoặc vay của các tổ chức tín dụng ,cá nhân... Các khoản chi phíđược hạch toán vào chi phí SX-KD là những khoản chi phí phục vụ trực tiếp và gián tiếp cho hoạt động SX-KD của DN trong kỳ ,các khoản chi phíđóđược bùđắp bởi doanh thu của DN . Có một số các khoản chi tiêu, chi phí của DN xét về mặt bản chất không phải là chi phí SX-KD nhưng để thống nhất DN vẫn hạch toán và quyết toán vào chi phí SX-KD trong kỳ. Một số khoản chi không liên quan đến hoạt động SX-KD của DN nhưng người lao động trong DN phải có nghĩa vụđóng góp theo luật định thì vẫn được phép hạch toán vào chi phí SX-KD . Việc xác định đúng đắn phạm vi của chi phí SX-KD trong DN cóý nghĩa kinh tế lớn đối với công tác quản lý chi phí kinh doanh nói riêng và công tác quản lý kinh tế của DN nói chung . Xác định đúng đắn phạm vi của chi phí SX-KD là cơ sở cho việc tập hợp các chi phí của DN phát sinh trong kỳ vào chi phí SX-KD trong kỳđó hoặc quyết toán chi phí ,trên cơ sởđó xác định được giá vốn toàn bộ của sản phẩm hàng hoá và dịch vụ phục vụ cho chiến lược phát triển kinh doanh của DN trong điều kiện có cạnh tranh của nền kinh tế thị trường đồng thời đó là căn cứđể DN xác 8 định khoản phải bùđắp từ doanh thu của DN trong kỳ ,giúp DN xác định được chính xác lợi nhuận và hiệu quả kinh tế của mình . Việc xác định rõ ràng các khoản mục chi phí của chi phí SX-KD làm cơ sở cho DN phấn đấu giảm chi phí trên cơ sở thực hiện tốt nhất kế hoạch SX-KD , kế hoạch lưu chuyển hàng hoá và tăng lợi nhuận của DN . Chi phí SX-KD gồm nhiều loại có nội dung ,công dụng và tính chất khác nhau.Cho nên để tiện cho việc quản lý sử dụng và hạch toán chi phí ta cần tiến hành phân loại chi phí . 1.3 Phân loại chi phí SX-KD của DN . Đểđáp ứng yêu cầu của quản lý chi phí ,xác định đúng đắn phương hướng phấn đấu tiết kiệm chi phí SX-KD ,nâng cao lợi nhuận ,nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vật tư ,tiền vốn và lao động của DN ,việc nghiên cứu kết cấu chi phí SX-KD của DN là cần thiết . Tuỳ thuộc vào tính chất ,địa điểm ,ngành nghề kinh doanh và các mục tiêu quản lý chi phí mà ta có thể phân loại chi phí theo nhiều tiêu thức khác nhau. 1.3.1 Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế là căn cứ vào đặc điểm kinh tế giống nhau của chi phíđể xếp chúng vào từng loại. Mỗi loại là một yếu tố chi phí có cùng nội dung kinh tế và không thể phân chia được nữa, bất kể chi phíđó dùng làm gì và phát sing ởđịa điểm nào. Theo cách phân loại này, toàm bộ chi phí sản xuất khing doanh được chia làm 5 loại: Chi phí vật tư mua ngoài: là toàn bộ giá trị các loại vật tư mua ngoài dùng vào hoạt đọng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhên liệu,phụ tùng thay thế... Chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương: là tonà bộ các khoản tiền lương, tiền công Doanh nghiệp phải trả cho người tham gia vào hoạt động sản 9 xuất kinh doanh; các khoản chi phí trích nộp theo lương như chi phí BHXH,BHYT, kinh phí công đoàn mà Doanh nghiệp phải nộp trong kỳ. Chi phí khấu hao tài sản cốđịnh: toàn bộ tiền khấu hao các loại TSCĐ trích trong kỳ. Chi phí dịch vụ mua ngoài: toàn bộ số tiền Doanh nghiệp phải trả cho các dịch vụđã sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ do các đơn vị khác bên ngoài cung cấp. Chi phí bằng tiền khác:là các khoản phải chi bằng tiền ngoài các khoản trên. Cách phân loại này cho thấy mức chi phí về lao đọng vật hoá và lao đọng sống trong toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh phát sinh lần đầu trong năm. Vì vậy nó có tác dụng giúp cho Doanh nghiệp lập được dự toán chi phí sản xuất theo yếu tố; kiểm tra sự cân đối giữa kế hoạch cung cấp vật tư, kế hoạch lao động tiền lương, kế hoạch khấu hao tài sản cốđịnh, kế hoạch nhu cầu vốn lưu động. 1.3.2 Phân loại chi phí theo công dụng kinh tế vàđịa điểm phát sinh chi phí Theo cách phân loại này những chi phí có cùng nội dung kinh tế vàđịa điểm phát sinh được xếp vào một loại, gọi là các khoản mục chi phí. Chi phí vật tư trực tiếp: là chi phí về nguyên vật liệu, nhiên liệu, dụng cụ sản xuất trực tiếp dùng vào việc sản xuất sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ. Chi phí nhân công trực tiếp: là các khoản tiền lương, tiền công, các khoản cấp có tính chất lương, các khoản chi BHXH,BHYT, kinh phí công đoàn của công nhân trực tiệp sản xuất trong Doanh nghiệp. Chi phí sản xuất chung: là các khoản chi phí sử dụng ở các phân xưởng, bộ phân kinh doanh như: tiền lương và phụ cấp lương của quản đốc, nhân viên phân xưởng. Chi phí khấu hao TSCĐ thuộc phân xưởng, chi phí vật liệu, công cụ, dụng cụ, chi phí dịch vụ mua ngoài, các chi phí bằng tiền phát sinh ở phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất. 10 Chi phí bán hàng : bao gồm các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thu sản phẩm như chi phí tiền lương, phụ lương trả cho nhân viên bán hàng, tiếp thị, vận chuyển bảo quản , các chi phí khấu hao phương tiện vận tải, chi phí vật liệu, bao bì, chi phí dịch vụ mua ngoài, các chi phí bằng tiền khác như bảo hành hàng hoá, quảng cáo. Chi phí quản lý doanh nghiệp: là các chi phí cho bộ máy quản lý Doanh nghiệp, các chi phí có liên quan đến hoạt động chung của Doanh nghiệp như khấu hao TSCĐ phục vụ cho bộ máy quản lý; chi phí công cụ dụng cụ các chi phí khác phát sinh ở phạm vi toàn doanh nghiệp như tiền lương và phụ cấp lương trả cho Hội đồng quản trị, ban giám đốc, nhân viên các phòng ban quản lý; chi phí vật liệu, đồ dùng văn phòng, các khoản thuế, lệ phí, bảo hiểm, chi phí dịch vụ mua ngoài thuộc văn phòng Doanh nghiệp. Các khoản chi phí dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng nợ khóđòi, công tác phí, các chi phí giao dịch, đối ngoại... Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp có thể tập hợp chi phí và tính giá thành cho từng loại sản phẩm; quản lý chi phí tại địa điểm phát sinh để khai thác khả năng hạ giá thành sản phẩm của Doanh nghiệp. 1.3.3 Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với quy mô sản xuất kinh doanh Theo cách phân loại này chi phí sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp được chia thành hai loại: Chi phí cốđịnh và chi phí biến đổi. Chi phí cốđịnh là các chi phí không thay đổi (hoặc thay đổi không đáng kể) theo sự thay đổi quy mô sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp. Thuộc loại chi phí này bao gồm: Chi phí khấu hao TSCĐ(theo thời gian), chi phí tiền lương trảcho cán bộ, nhan viên quản lý, chuyên gia, lãi tiền vay phải trả,chi phí thuê tài sản, văn phòng. 11 Chi phí biến đổi là các chi phí thay đổi trực tiếp theo sự thay đổi của quy mô sản xuất. Thuộc loại chi phí này bao gồm: chi phí nguyên vật liệu, chi phí tiền lương trả cho công nhân trực tiếp sx, chi phí hoa hồng bán hàng, chi phí dịch vụ cung cấp như tiền điện, nước, điện thoại... Do đặc điểm của từng loại chi phí trên nên khi quy mô sản xuất kinh doanh càng tăng thì chi phí cốđịnh cho một đơn vị sản phẩm hàng hoá càng giảm. Riêng đối với chi phí biến đổi việc tăng giảm hay không đổi khi tính chi phí này cho 1 đơn vị sản phẩm hàng hoá còn phụ thuộc vào tương quan biến đổi giữa quy mô sản xuất kinh doanh và tổng chi phí biến đổi của Doanh nghiệp. Cách phân loại này giúp cho Doanh nghiệp thấy dduwowcj xu hướng biến đổi của từng loại chi phí theo quy mô kinh doanh, từđó Doanh nghiệp có thể xác định được sản lượng hoà vốn cũng như quy mô kinh doanh hợp lýđểđạt được hiệu quả cao nhất. -Phân loại chi phí SX_KD của DN phải phù hợp với tình hình đặc điểm SXKD và các mục tiêu quản lý kinh tế của DN ,điều đó sẽ giúp DN xác định được xu hướng hình thành kết cấu của chi phí sản xuất kinh doanh trong từng thời kỳ khác nhau ,đồng thời làm cơ sở cho công tác kế hoạch hoá ,kiểm tra, phân tích đánh giá tình hình thực hiện ké hoạch chi phí của DN .Cũng nhờđó DN tìm ra được các biện pháp quản lý chi phí tốt hơn, giảm chi phí SX-KD hạ giá thành sản phẩm, hạ thấp chi phí của DN ,nâng cao hiệu quả kinh tế của DN. Kết cấu của chi phíđược biểu hiện qua tỷ trọng tính thành phần % của từng loại chi phí trong tổng số chi phí của DN trong một thời kỳ nhất định.Nó chịu sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau nhưđặc điểm công nghệ ,công tác quản lý ngoài ra còn phụ thuộc vào các thời kỳ khác nhau. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ ,xu hướng biến đổi chung là tỷ trọng các chi phí 12 về lao động vật hoá ngày càng tăng lên trong khi tiền lương thì có xu hướng giảm xuống một cách tương đối trong tổng chi phí kinh doanh của DN . ý nghĩa của việc nghiên cứu kết cấu chi phí trong DN: _Cho phép biết được tỷ trọng của các bộ phận chi phí trong tổng chi phí sản xuất từđó nhận biết được xu hướng vận động của các bộ phận chi phíđó tạo tiền đề tốt cho công tác lập kế hoạch chi phí của DN . _Tạo tiền đề cho việc kiểm tra ,phân tích đánh giá việc thực hiện kế hoạch chi phí ,xác định đúng đắn giá thành sản phẩm hàng hoá,dịch vụ ,xác định chính xác các biện pháp phấn đấu hạ thấp chi phí SX-KD ,giảm giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ . 1.4 Yêu cầu quản lý và lập kế hoạch chi phí SX-KD của DN . Một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác quản lý DN là tiết kiệm được chi phí SX-KD. Yêu cầu cơ bản của việc quản lý và lập kế hoạch chi phí SX-KD làđảm bảo tốt nhất quá trình SX-KD của DN trên cơ sở sử dụng hợp lý, tiết kiệm mọi nguồn vật tư ,tiền vốn ,sức lao động của DN đểđạt được lợi nhuận tối đa trong khuôn khổ của luật pháp ,nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế của DN. Để quản lý tốt chi phí sản xuất kinh doanh, các DN phải lập kế hoạch chi phí. Lập kế hoạch chi phí thực chất là dùng hình thức tiền tệ tính toán trước mọi chi phí SX-KD của DN trong kỳ kế hoạch cùng các biện pháp phấn đấu thực hiện kế hoạch đó .Kế hoạch chi phí SX-KD là xác định mục tiêu phấn đấu của đơn vịđồng thời cũng là căn cứđểđơn vị cải tiến công tác quản lý kinh doanh thực hiện chếđộ tiết kiệm ,hạ giá thành sản phẩm hàng hoá ,tăng lợi nhuận, tăng hiệu quả kinh tế cho DN trong kỳ . Chỉ tiêu chi phí SX-KD cóảnh hưởng tích cực đến các chỉ tiêu khác ví dụ như chỉ tiêu vốn lưu động được xác định căn cứ vào dự toán chi phí SX-KD của đơn vị ,lợi nhuận của DN nhiều hay ít phụ thuộc phần lớn vào giá thành sản 13 lượng hàng hoá kỳ kế hoạch vàđược xác định trên cơ sở dự toán chi phí SX-KD trong kỳ . Nhiệm vụ chủ yếu của việc lập kế hoạch chi phí SX_KD là phát hiện vàđộng viên mọi nguồn tiềm năng sẵn có của DN để không ngừng giảm bớt chi phí SXKD và chi phí tiêu thụ sản phẩm, tăng lợi nhuận nhằm đáp ứng yêu cầu tái sản xuất mở rộng ,tái đầu tư và cải thiện đời sống của cán bộ công nhân viên chức trong đơn vị . Việc lập kế hoạch chi phí SX_KD cần phải căn cứ vào các kế hoạch kinh tế liên quan như kế hoạch lưu chuyển hàng hoá ,vận tải ,khấu hao TSCĐ ,tiền lương, đầu tư ra ngoài DN ... và hệ thống các tiêu chuẩn định mức kinh tế-kỹ thuật của Nhà Nước ,của ngành hoặc của chính DN .Mặt khác DN cần phải tiến hành phân tích ,đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chi phí SXKD của kỳ trước ,những khả năng ,những mặt mạnh ,mặt yếu của DN, các nhân tốảnh hưởng và những biện pháp xử lý trong kỳ kế hoạch tới. Lập kế hoạch chi phí SX-KD đòi hỏi phải sử dụng những phương pháp thích hợp và những chỉ tiêu về chi phí SX-KD trong kỳ kế hoạch . 1.5 Giá thành sản phẩm và các loại giá thành sản phẩm trong Doanh nghiệp xây lắp Khái niệm: Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ chi phí Doanh nghiệp đã bỏ ra đẻ hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một đơn vị sản phẩm hay loại sản phẩm nhất định. 1.5.1 Giá thành sản phẩm xây lắp Sự vận động của quá trình sản xuất trong Doanh nghiệp xây lắp bao gồm hai mặt đối lập nhau, nhưng có quan hệ mật thiết với nhau. Một là các chi phí Doanh nghiệp đã chi ra, mặt khác là kết quả sản xuất thu được, những sản phẩm của công việc lao vụđã hoàn thành, phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của xã hội cần dược tính giá thành. 14 Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm, lao vu đẫ hoàn thành. Giá thành sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hoá, phản ánh lượng hao phí của những lao động sống và lao động vật hoáđã thực sự chi ra cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí tham ra trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất, tiêu thụ phải được bồi hoàn để tái sản xuất ở Doanh nghiệp mà không bao gồm những chi phí phát sinh trong kỳ kinh doanh của Doanh nghiệp. Giá thành công tác xây lắp là một phần của công tác xây lắp, bao gồm các chi phí về tư liệu sản xuất và chi phí tiền lương của cán bộ, công nhân viên để tạo nên khối lượng công tác xây lắp(công trình, hạng mục công trình có thể bàn giao thanh quyết toán...) Giá thành trong công tác xây lắp bao gồm: chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí máy thi công và các khoản chi phí khác. 1.5.2 Các loại giá thành sản phẩm 1.5.2.1 Căn cứ vào thời gian và cơ sở số liệu, giá thành sản phẩm được chia thành: Giá thành kế hoạch: là giá thành tính trước khi bắt đầu sản xuất kinh doanh của kỳ kế hoạch, trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trước cũng như căn cứ vào các định mức và dự toán chi phí của kỳ kế hoạch. Giá thành kế hoạch do bộ phận ké hoạch trong Doanh nghiệp thực hiện vàđược xem là mục tiêu phấn đấu của Doanh nghiệp, là cơ sởđể phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, kế hoạch hạ giá thành của Doanh nghiệp. Giá thành định mức: cũng giống như giá thành kế hoạch, việc tính giá thành định mức cũng có thể thực hiện trước khi bắt đầu sản xuất, chế tạo sản phẩm cơ sở các định mức hiện hành tại một thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch. Do 15 đó giá thành định mức luôn luôn thay đổi để phùhợp với sự thay đổi của các định mức chi phí trong quá trình thực hiện kế hoạch giá thành. Giá thành định mức được xem là thước đo chính xác để xác đinh kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, tiền vốn trong Doanh nghiệp, nhằm đánh giá các giải pháp mà Doanh nghiệp đãáp dụng trong kỳ sản xuất kinh doanh với mục đích nâng cao hiệu quả chi phí. Giá thành thực tế: khác với hai loại giá thành trên, giá thành thực tế của sản phẩm lao vụ chỉđược xác định khi quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm đã hoàn thành và là chỉ tiêu được xác định trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm. Giá thành thực tế sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả phấn đấu của Doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử dụng các giải pháp kinh tế -tổ chức -kỹ thuật để thực hiện quá trình sản xuất, là cơ sởđể xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp, cóảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của Doanh nghiệp. Cách phân loại trên có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí, xác định được các nguyên nhân vượt hay hụt định mức chi phí trong kỳ hặch toán. Từđóđiều chỉnh kế hoạch hoặc định mức chi phí cho phù hợp. 1.5.2.2 Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí Theo phạm vi phát sinh chi phí, chỉ tiêu giá thành được chia thành giá thành sản xuất và giá thành tiêu thụ. Giá thành sản xuất: (còn gọi là giá thành công xưởng) là chỉ tiêu phản ánh tất cả các chi phí liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng sản xuất. Giá thành tiêu thụ: (còn gọi là giá thành toàn bộ hay giá thành dầy đủ) là chỉ tiêu phản ánh tất cả các chi phí liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Giá thành tiêu thu được tính theo công thức: 16 Giá thành toàn bộ của sản phẩm Chi phí Giá thành sản = xuất của sản phẩm + Chi phí bán hàng + quản lý Doanh nghiệp Cách phân loại này có tác dụng giúp cho nhà quản lý biết được kết quả kinh doanh lỗ lãi của từng loại sản phẩm mà Doanh nghiệp thực hiện. Tuy nhiên, do những hạn chế nhất định khi lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí bán hàng và chi phí quản lý cho từng loại sản phẩm nên cách phân loại này chỉ cóý nghĩa về mặt lý thuyết. 1.6 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình snr xuất tạo ra sản phẩm. Chi phí biểu hiện mặt hao phí , còn giá thành biểu hiện mặt kết quả của quá trình sản xuất, đây là hai mặt thống nhất của từng quá trình, vậy chúng giống nhau về mặt chất. Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm đùe bao gồm các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá. 2. Một số chỉ tiêu cơ bản về chi phí sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp Xác định hệ thống chỉ tiêu kế hoạch chi phí kinh doanh của DN phải căn cứ vào tình hình đặc điểm SX-KD ,chếđộ quản lý tài chính kế toán của Nhà Nước, của ngành hoặc của chính DN trong từng thời kỳ kế hoạch cụ thể . Tuỳ thuộc vào mục tiêu quản lý kinh tế ,quản lý tài chính ,quản lý chi phí của các DN mà hệ thống chỉ tiêu kế hoạch chi phí SX-KD có thể rộng hẹp khác nhau nhưng nhìn chung chúng bao gồm các chỉ tiêu sau : 2.1 Đối với hoạt động sản xuất có các chỉ tiêu : 2.1.1 Tổng mức giá thành sản phẩm 17 Trong hoạt động sản xuất ,khi quyết định lựa chọn phương án sản xuất một loại sản phẩm nào đó ,DN cần tính đến lượng chi phí bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đó .Điều đó có nghĩa là DN phải xác định được giá thành của sản phẩm . Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ chi phí của DN để hoàn thành sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm nhất định . Đó là biểu hiện chi phí cá biệt của DN để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Cùng loại sản phẩm trên thị trường có thể có nhiều DN cùng sản xuất nhưng do trình độ trang thiết bị ,công nghệ sản xuất và trình độ quản lý khác nhau nên giá thành sản phẩm của các DN về loại sản phẩm đó cũng khác nhau. Trong phạm vi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm có thể phân biệt giá thành sản xuất sản phẩm và giá thành tiêu thụ sản phẩm .Giá thành sản xuất sản phẩm bao gồm toàn bộ chi phí của DN bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất sản phẩm . Giá thành tiêu thụ sản phẩm hàng hoá hay còn được gọi là giá thành toàn bộ của sản phẩm hàng hoá bao gồm toàn bộ chi phíđể hoàn thành việc sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm (tức là gồm cả chi phí lưu thông sản phẩm ). Để quản lý giá thành và có phương hướng phấn đấu giảm giá thành ,mỗi đơn vị sản xuất đều cần phải xác định kế hoạch giá thành .Xác định kế hoạch giá thành tức là dùng hình thức tiền tệ xác định mức độ hao phí lao động sống và lao động vật hoá trong sản xuất ở kỳ kế hoạch ,mức hạ giá thành và tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm so sánh được của kỳ kế hoạch so với kỳ báo cáo .Bởi vậy giá thành được xác định là mục tiêu phấn đấu giảm chi phí của DN đồng thời là căn cứ thúc đẩy DN cải tiến quản lý SX-KD ,thực hiện chếđộ tiết kiệm trong sản xuất để hạ giá thành sản phẩm . Muốn xác định Tổng mức giá thành sản phẩm theo khoản mục trước hết phải xác định giá thành đơn vị của sản phẩm .Cách tính giá thành đơn vị của sản phẩm như sau: 18 - Đối với những khoản mục độc lập (khoản mục trực tiếp )như nguyên vật liệu chính ,vật liệu phụ,nhiên liệu ,năng lượng ,tiền lương của công nhân sản xuất ta tính được bằng cách lấy định mức tiêu hao cho 1 đơn vị sản phẩm nhân với đơn giá kế hoạch .Đểđảm bảo tính chất đúng đắn của kế hoạch cần phải hệ thống định mức kinh tế-kỹ thuật tiên tiến và hệ thống đơn giá phải được tính toán hợp lý. -Đối với những khoản mục chi phí tổng hợp (chi phí gián tiếp )như chi phí quản lý phân xưởng ,chi phí quản lý xí nghiệp ,chi phí tiêu thụ …thì trước hết phải lập dự toán chung sau đó lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ thích hợp cho mỗi đơn vị sản phẩm . Có nhiều tiêu thức phân bổ chi phí gián tiếp cho các loại sản phẩm. Những tiêu chuẩn thường dùng là giờ công định mức ,tiền lương chính của CNSX,giờ máy chạy... Chi phí tiêu thụ cũng phải lập dự toán nhưng khi phân bổ thông thường chỉ phân phối cho sản lượng sản phẩm tiêu thụ .Phương pháp phân bổ chi phí tiêu thụ thường là tính theo tỷ lệ % nhất định so với giá thành công xưởng sản phẩm hàng hoá tiêu thụ . Công thức tính: Giá thành 1 đơn vị sản phẩm Giá thành toàn bộ sản phẩm = = Tổng giá thành sản phẩm sản xuất trong kỳ Số lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ Tổng số sản phẩm sản xuất trong kỳ x Giá thành 1 đơn vị sản phẩm 2.1.2 Mức hạ giá thành sản phẩm: là chỉ tiêu phản ánh quy mô tiết kiệm chi phí của DN . 19 Các DN hoạt động trong cơ chế thị trường cóđiều tiết và cạnh tranh điều đó buộc các DN phải hết sức quan tâm đến việc giảm chi phí ,hạ thấp giá thành của sản phẩm có thể so sánh được.Sản phẩm có thể so sánh được là những sản phẩm mà DN đã tiến hành sản xuất ở kỳ trước ,đã có tài liệu hạch toán về giá thành ,đãổn định về mặt kinh tế -kỹ thuật-công nghệ . Công thức tính : n M Z  i 1 Q i1    Z i1  S i1  Z i 0  Trong đó : MZ :Mức hạ giá thành sản phẩm kỳ so sánh. Zi0 :Giá thành đơn vị sản phẩm kỳ gốc. Zi1 :Giá thành đơn vị sản phẩm kỳ kế hoạch . Si1 :Số lượng sản phẩm kỳ kế hoạch . n :Loại sản phẩm so sánh được . i :Loại sản phẩm so sánh thứ i. 2.1.3 Tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm: là chỉ tiêu phản ánh tốc độ hạ giá thành sản phẩm . Công thức tính: M  100    S Z :Tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm (%) T Z  Z n i 1 Trong đó TZ i1 i0 MZ :Mức hạ giá thành sản phẩm Si1 :Số lượng sản phẩm kỳ kế hoạch Zi0 :Giá thành đơn vị sản phẩm kỳ gốc Khi xem xét việc hạ giá thành sản phẩm trong kỳ cần phải kết hợp xem xét cả 2 chỉ tiêu Mức hạ giá thành sản phẩm và Tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm. Chỉ 20
- Xem thêm -