Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở tỉnh vĩnh long

  • Số trang: 76 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 9 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Tỉnh Vĩnh Long CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ: 1.1.1 Sự cần thiết hình thành đề tài: Là một tỉnh đất hẹp người đông, nông nghiệp Vĩnh Long có xuất phát điểm thấp, diện tích đất nông nghiệp là 118.658 ha. Xác định mô hình cho một nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn đa dạng hóa về cây trồng, vật nuôi, ngành nghề dịch vụ nhằm từng bước phá thế thuần nông và độc canh cây lúa đồng thời chuyển từ nền nông nghiệp tự sản, tự tiêu sang nền nông nghiệp hàng hóa, tỉnh Vĩnh Long đã thực hiện nhiều biện pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Thực hiện chỉ đạo của Chính Phủ thông qua nghị quyết số 09/NQ - CP ngày 15/06//2000 về “chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp”, Hội Đồng Nhân Dân tỉnh Vĩnh Long đã phê duyệt đề án “chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp giai đọan 2001 - 2005 và kế họach 2006 - 2010” với mục tiêu nông nghiệp tăng trưởng bền vững và liên tục theo vùng sinh thái, phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Quán triệt nghị quyết trên, tỉnh đã định hướng trong thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, chỉ đạo tập trung cho các cấp ngành, đồng thời xác định được ngành hàng và địa bàn sản xuất thích hợp.Qua các năm thực hiện tỉnh đã đạt được một số thành tựu đáng khích lệ, đặc biệt là trong cơ cấu nôi bộ ngành nông nghiệp. Tuy nhiên bên cạnh đó việc thực hiện chuyển dịch vẫn còn hạn chế và tồn tại. Đề tài “phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Vĩnh Long” xin được điểm qua tình hình cũng như thành tựu của tỉnh khi thực hiện việc chuyển dịch và đưa ra các giải pháp góp phần giải quyết những khó khăn, hạn chế nhất là khi Việt Nam đã là thành viên của WTO. 1.1.2 Căn cứ khoa học và thực tiễn: - Căn cứ khoa học: ngày nay khoa học công nghệ đã khẳng định vai trò của mình trong nhiều lĩnh vực và nông nghiệp cũng không ngoại lệ. Cũng như các quốc gia khác trên thế giới, nước ta cũng phải công nhận khoa học công nghệ đã có tác động tích cực thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Nếu như trước đây, đất đai và lao động là hai yếu tố chủ yếu tác động GVHD: Trương Chí Tiến 1 SVTH: Lê Thị Bích Trâm Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Tỉnh Vĩnh Long đến tăng trưởng kinh tế nông nghiệp thì khi đất đai được toàn dụng thì vốn và khoa học công nghệ là những yếu tố nổi lên hàng đầu. Những tiến bộ của khoa học trong lĩnh vực chăn nuôi như: công nghệ thụ tinh nhân tạo, lai tạo giống, chuyển phôi, giúp cải tạo đàn gia súc, gia cầm về năng suất cũng như chất lượng thịt. Trong trồng trọt việc lai, ghép, nhũng giống cây trồng phù hợp với điều kiện khí hậu, chăm sóc ở nước ta đã tạo ra những giống cây trồng, rau màu có khả năng kháng bệnh và phẩm chất ngon hơn. Bên cạnh đó, công nghệ sau thu hoạch và công nghệ chế biến đã tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các sản phẩm chế biến từ nông nghiệp và thủy sản. Nhờ đó, hàng nông sản Việt Nam nói chung và Vĩnh Long nói riêng tạo được thị trường trong nước và nước ngoài. Chúng ta không chỉ xuất khẩu ra nước ngoài các sản phẩm thô và sơ chế mà các sản phẩm qua chế biến ngày càng nhiều góp phần làm gia tăng giá trị xuất khẩu. Mức độ tác động của khoa học công nghệ vào nông nghiệp – nông thôn diễn ra nhanh chóng làm thay đổi quan hệ tỉ lệ giữa các ngành, các thành phần kinh tế và các vùng lãnh thổ. Thừa hưởng những thành tựu về khoa học công nghệ, Vĩnh Long có lợi thế chọn lọc công nghệ phù hợp hơn để đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng ngày càng hợp lý hơn. - Căn cứ thực tiễn: cũng như các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, Vĩnh Long được thiên nhiên ưu đãi với điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Lượng đất phù sa màu mỡ thuộc loại bậc nhất so với các tỉnh khác trong khu vực, hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằn chịt cung cấp nguồn nước tưới phục vụ cho trồng trọt cũng như nuôi trồng và khai thác thủy sản. Vĩnh Long có Quốc lộ 1A chạy qua tỉnh, có cầu Mỹ Thuận, cầu Cần Thơ đang xây dựng, Quốc lộ 53, 54, 80 cùng với giao thông đường thủy khá thuận lợi đã nối liền tỉnh với các vùng trong cả nước tạo cho Vĩnh Long có vị thế rất quan trọng trong chiến lược phát triển và hợp tác kinh tế với cả vùng. Qua các năm thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nền nông nghiệp đã đạt được những thành tựu đáng kể, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng, nhiều mô hình sản xuất có hiệu quả đã được áp dụng thành công góp phần cải thiện một bộ phận đời sống người dân. Đồng thời người dân Vĩnh Long cần cù, chăm chỉ ham học hỏi đây là lực lượng lao động dồi dào phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, cùng với sự chỉ GVHD: Trương Chí Tiến 2 SVTH: Lê Thị Bích Trâm Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Tỉnh Vĩnh Long đạo, hướng dẫn, hỗ trợ của các cấp, ban, ngành Tỉnh đã góp phấn thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp thành công bước đầu. 1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: 1.2.1 Mục tiêu chung: Phân tích tình hình cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh qua các năm 2001 – 2007, so sánh hiệu quả đạt được từ việc chuyển dịch. 1.2.2 Mục tiêu cụ thể: 3 mục tiêu - Phân tích tình hình cơ cấu kinh tế của tỉnh sau khi chuyển dịch giai đoạn 2001 – 2007 qua các ngành như: trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản và sơ lược tình hình nông nghiệp Vĩnh Long trước khi thực hiện chuyển dịch giai đoạn 1995 – 2000. - So sánh hiệu quả đạt được từ việc chuyển dịch trong nội bộ ngành trồng trọt, thủy sản trước khi thực hiện chuyển dịch ( năm 2000) và sau khi thực hiện chuyển dịch (2007) và hiệu quả của một số mô hình luân canh lúa màu với mô hình canh tác cũ. - Các định hướng, giải pháp thực hiện chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp trong thời gian tới và các giải pháp tổng thể chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng bền vững. 1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU: - Thực trạng chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Long thời gian qua như thế nào? - Hiệu quả của việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở các lĩnh vực như: trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản như thế nào? - Các giải pháp nào để khắc phục những hạn chế và nâng cao hiệu quả sản xuất từ chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp? 1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU: 1.4.1 Phạm vi không gian: Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi tỉnh Vĩnh Long, cụ thể nghiên cứu cơ cấu nông - lâm – ngư của tỉnh. 1.4.2 Phạm vi thời gian: số liệu của đề tài dược thu thập qua các năm 1995 đến năm 2007. GVHD: Trương Chí Tiến 3 SVTH: Lê Thị Bích Trâm Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Tỉnh Vĩnh Long 1.4.3 Giới hạn đề tài: Đề tài phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh là cơ cấu nông – lâm – ngư, trong đó ngành nông nghiệp phân tích hai lĩnh vực là trồng trọt, chăn nuôi; lâm nghiệp không đề cập trong đề tài vì chiếm tỉ trọng nhỏ; ngư nghiệp phân tích hai lĩnh vực đánh bắt và nuôi trồng. 1.4.4 Đối tượng nghiên cứu: - Trồng trọt: cây lương thực, cây ăn trái, rau màu. - Chăn nuôi: gia súc, gia cầm. - Thủy sản: đánh bắt và nuôi trồng. 1.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU CÓ LIÊN QUAN: Dương Ngọc Thành ( 2005), chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp sau những năm đổi mới vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long. Vì đề tài này có ý nghĩa rất tích cực, là tiền đề cho các chính sách phát triển sản xuất cũng như thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. GVHD: Trương Chí Tiến 4 SVTH: Lê Thị Bích Trâm Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Tỉnh Vĩnh Long CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN: 2.1.1 Các khái niệm cơ bản: 2.1.1.1 Kinh tế nông nghiệp: a) Nông nghiệp: - Nông nghiệp: theo nghĩa rộng là tổng hợp các ngành sản xuất gắn liền với các quá trình sinh học (đối tượng sản xuất là những cơ thể sống) gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp. - Nông nghiệp: theo nghĩa hẹp bao gồm trồng trọt và chăn nuôi. Ngành trồng trọt và chăn nuôi lại được phân ra thành những ngành nhỏ hơn, các ngành đó có mối quan hệ mật thiết với nhau và cùng hợp thành ngành sản xuất nông nghiệp. b) Cơ cấu kinh tế nông nghiệp: - Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là những tổng thể các bộ phận hợp thành kinh tế nông nghiệp có mối quan hệ mật thiết với nhau về chất lượng và hợp thành hệ thống kinh tế nông nghiệp. - Theo nghĩa rộng: kinh tế nông nghiệp là tổng thể kinh tế bao gồm các ngành kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp. - Theo nghĩa hẹp: kinh tế nông nghiệp là tổng thể kinh tế bao gồm kinh tế ngành trồng trọt và chăn nuôi. c) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp: Là sự thay đổi quan hệ tỉ lệ về mặt lượng giữa các thành phần, các yếu tố và các bộ phận hợp thành nền kinh tế nông nghiệp theo xu hướng nhất định.Chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp cũng có thể diễn ra theo hai cách: tự phát và tự giác. * Chuyển dịch tự phát: là quá trình kinh tế nông nghiệp chuyển dịch không theo một xu hướng mục tiêu định trước mà là chuyển dịch phụ thuộc vào tác động của qui luật và điều kiện kinh tế khách quan. GVHD: Trương Chí Tiến 5 SVTH: Lê Thị Bích Trâm Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Tỉnh Vĩnh Long * Chuyển dịch tự giác: là sự chuyển dịch theo một xu hướng, mục tiêu sẵn có cả về lượng và chất, là sự chuyển dịch có sự can thiệp, tác động của con người nhằm thúc đẩy, định hướng cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo xu hướng có lợi và hiệu quả hơn. 2.1.1.2 Kinh tế nông thôn: Kinh tế nông thôn là một bộ phận hợp thành kinh tế quốc dân, là tổng thể các ngành kinh tế trong khu vực nông thôn gồm các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp và dịch vụ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau về chất lượng và theo tỉ lệ nhất định về số lượng. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn: chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn là một quá trình biến đổi thành phần và quan hệ tỉ lệ các ngành kinh tế nông nghiệp và dịch vụ từ trạng thái này sang trạng thái khác theo những xu hướng nhất định.Cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn diễn ra theo hai cách: tự phát và tự giác. 2.1.1.3 Nông nghiệp bền vững: Năm 1991 theo Fao đưa ra định nghĩa như sau: “phát triển bền vững là quá trình quản lí và bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, định hướng sự thay đổi công nghệ và thể chế theo một phương thức đảm bảo đạt được sự thỏa mãn một cách liên tục các nhu cầu con người ở thế hệ hiện tại cũng như thế hệ tương lai. Sự phát triển như vậy trong lĩnh vực nông nghiệp ( nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản) chính là sự bảo tồn đất đai, nguồn nước, các nguồn gen động thực vật, không làm suy thoái môi trường, hợp lí về kĩ thuật, dễ thấy về lợi ích kinh tế và chấp nhận về mặt xã hội”. 4 tiêu chí cho nông nghiệp bền vững là: + Thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng cơ bản của các thế hệ hiện tại và tương lai. + Đối với những người trực tiếp làm nông nghiệp thì phải đảm bảo việc làm, đủ thu nhập và điều kiện sống đảm bảo lâu dài. + Duy trì và tăng cường khả năng sản xuất của các cơ sở tài nguyên thiên nhiên và khả năng tái sản xuất của các nguồn tài nguyên tái tạo được mà không phá vỡ chức năng của các chu trình sinh thái cơ sở và cân bằng tự nhiên, không phá vỡ bản sắc văn hóa xã hội của cộng đồng sống ở nông thôn. + Giảm thiểu khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp. GVHD: Trương Chí Tiến 6 SVTH: Lê Thị Bích Trâm Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Tỉnh Vĩnh Long 2.1.2 Cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp: Cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn của tỉnh là cơ cấu nông – lâm – ngư, trong đó nông nghiệp chiếm tỉ trọng tương đối lớn. Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp của tỉnh trong điều kiện ngày nay thực chất là chuyển từ nông thôn thuần nông sang nông thôn đa dạng hóa ngành nghề, trong nông nghiệp xây dựng nhiều mô hình sản xuất đa dạng về cây trồng, vật nuôi. Đặc biệt trong lĩnh vực ngư nghiệp việc nuôi trồng và khai thác thủy sản phát triển nhanh nhất đặc biệt là trong lĩnh vực nuôi công nghiệp, đây là mũi đột phá của ngành trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Đồng thời phát triển theo hướng bền vững, công nghiệp hóa hiện đại hóa. 2.1.3 Sự cần thiết thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp: Một cách tổng quát, cơ cấu nông nghiệp truyền thống bao gồm các ngành sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản. Từ xã hội nông nghiệp bước sang xã hội công nghiệp, nhờ tác động công nghiệp, nông nghiệp được công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ngoài các ngành truyền thống như trên còn có thêm các ngành như: chế biến lương thực, thực phẩm, chế biến thủy sản, dịch vụ nông nghiệp,…mang tính chuyên môn hóa. Và khi bước sang xã hội hậu công nghiệp, lại phát sinh thêm những ngành mới như: công nghệ sinh học, tin học nông nghiệp, để có ngành nông nghiệp hoàn chỉnh trong tương lai. Sản xuất nông nghiệp tạo ra các sản phẩm phục vụ nhu cầu thiết yếu của con người do đó sản xuất nông nghiệp ở mỗi vùng chịu sự tác động mạnh mẽ của nhu cầu thị trường, thị hiếu, sức mua dân cư, chẳng những chịu sự tác động trực tiếp của thị trường trong nước mà còn chịu ảnh hưởng cạnh tranh của sản phẩm ngoại nhập. Cùng tốc độ của tăng trưởng kinh tế, thu nhập và sức mua của tầng lớp dân cư cũng tăng tương ứng, mức sống được nâng lên, mặt tích cực là đã tác động kích thích các ngành sản xuất nông nghiệp phải tăng trưởng nhanh để không chỉ đáp ứng về mặt số lượng và chất lượng do nhu cầu tiêu dùng đã tăng rất cao. Chính những đòi hỏi này về mặt hàng nông sản đặt ra yêu cầu bức xúc phải điều chỉnh chuyển dịch cơ cấu ngành sản xuất nông nghiệp. GVHD: Trương Chí Tiến 7 SVTH: Lê Thị Bích Trâm Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Tỉnh Vĩnh Long 2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu: Số liệu được thu thập từ niên giám thống kê của tỉnh về nông – lâm – ngư, báo cáo về chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp của tỉnh. 2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu: - Đối với mục tiêu nghiên cứu 1: sử dụng phương pháp thống kê, mô tả thực trạng chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, giá trị sản xuất, sản lượng, diện tích qua đó đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu giữa ngành trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản. - Đối với mục tiêu nghiên cứu 2: so sánh hiệu quả việc chuyển dịch giữa các ngành trồng trọt, thủy sản vì đây là 2 ngành có những hiệu quả nhất định trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp; phân tích và đánh giá hiệu quả sản xuất của các mô hình luân canh lúa màu so với mô hình cũ dựa trên phân tích các tỉ số tài chính trên 1 ha đất canh tác. Một số chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả sản xuất như: + Thu nhập/chi phí: 1 đồng chi phí đầu tư thì sẽ thu được bao nhiêu đồng thu nhập nhằm xác định hiệu quả khai thác sử dụng vốn trên đơn vị đất canh tác. + Lợi nhuận/chi phí: 1 đồng chi phí bỏ ra thì sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận nhằm đánh giá hiệu quả đầu tư của các mô hình. + Lợi nhuận/thu nhập: nhằm xác định khả năng sinh lời từ hoạt động sản xuất. - Đối với mục tiêu nghiên cứu 3: chỉ ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất trong quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp của tỉnh dựa trên kết quả đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất. GVHD: Trương Chí Tiến 8 SVTH: Lê Thị Bích Trâm Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Tỉnh Vĩnh Long CHƯƠNG 3 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ TỈNH VĨNH LONG VÀ THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP. 3.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ TỈNH VĨNH LONG: 3.1.1 Điều kiện tự nhiên: 3.1.1.1 Vị trí địa lí: Vĩnh Long nằm ở trung tâm đồng bằng sông Cửu Long ( ĐBSCL), nằm giữa hai sông Tiền và sông Hậu, tọa độ địa lí 9052’45” đến 10019’50” vĩ độ Bắc và từ 104041’25” đến 106017’00” kinh độ Đông. Phía Đông Bắc giáp tỉnh Tiền Giang và Bến Tre, phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Trà Vinh, phía Tây và Tây Nam giáp Cần Thơ và Tây Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp. Cũng như các tỉnh ĐBSCL, Vĩnh Long chịu ảnh hưởng trực tiếp của vùng trọng điểm kinh tế phía Nam, đặc biệt là TPHCM và Cần Thơ. Vị trí đó vừa là thuận lợi, nhưng cũng là thách thức nhất là trong việc thu hút đầu tư nước ngoài và thu hút đầu tư lao động chất lượng cao. Mặt khác, Vĩnh Long là nơi tập trung đầu mối giao thông thủy và bộ mà không tỉnh nào ở ĐBSCL có được, vị trí đó giúp Vĩnh Long mở rộng giao thương thuận lợi với các vùng trong khu vực và cả nước. Do đó, phát huy đúng mức lợi thế về vị trí địa lí này sẽ giúp Vĩnh Long chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế. Vĩnh Long có tổng diện tích tự nhiên là 147.204,84 ha (có qui mô nhỏ nhất trong các tỉnh ĐBSCL). Diện tích đất nông nghiệp là 119.135 ha (80,93%). Trong đất nông nghiệp được chia ra thành: đất canh tác cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm và mặt nước nuôi trồng thủy sản. Chất lượng đất tương đối cân đối các thành phần NPK, thích hợp cho phát triển ngành trồng trọt. Vùng đất ngập nước thích hợp cho việc trồng lúa, vùng đất bãi bồi ở các cù lao thích hợp cho việc phát triển các loại cây ăn trái. GVHD: Trương Chí Tiến 9 SVTH: Lê Thị Bích Trâm Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Tỉnh Vĩnh Long 3.1.1.2 Đặc điểm địa hình: Vĩnh Long có địa hình khá bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 20 cao trình khá thấp so với mực nước biển (62,85% diện tích có cao trình dưới 1,0 m). Ở trung tâm tỉnh có dạng lòng chảo và cao dần về hướng bờ sông Tiền, sông Hậu, sông Mang Thít và ven các sông rạch lớn. Trên từng cánh đồng có những chỗ gò (cao trình 1,2 – 1,8 m) hoặc trũng cục bộ (cao trình dưới 0,4 m). Vĩnh Long có thể chia làm 3 cấp địa hình như sau: + Vùng có cao trình từ 1,0 – 2.0m (chiếm 37,17% diện tích), phân bố ven sông Tiền, Sông Hậu, sông Mang Thít và các rạch lớn và vùng đất giồng gò cao của huyện Vũng Liêm, Trà Ôn. Do cao trình lí tưởng, ít ngập lũ và phân bố ven sông, thuận tiện giao thông, nên đây chính là địa bàn chủ yếu cho hoạt động công nghiệp, đô thị và dân cư nông thôn. Cơ cấu kinh tế vùng này là cây ăn trái, cây công nghiệp ngắn ngày (mía, cói), lúa, màu và tiểu thủ công nghiệp. + Vùng có cao trình từ 0,4 – 1,0 m (chiếm 61.53% diện tích), với tiềm năng tưới tiêu tự chảy khá lớn, khả năng tăng vụ cao. Đất trồng cây lâu năm không thích hợp vì thường bị lũ. Vùng bắc quốc lộ 1A (huyện Bình Minh giáp với Đồng Tháp) là vùng chịu ảnh hưởng lũ hằng năm, dân cư phân bố ít. Cơ cấu kinh tế của vùng này là lúa cao sản 2 -3 vụ/năm. + Vùng có cao trình nhỏ hơn 0,4m (chiếm 1,3% diện tích), có địa hình thấp trũng, ngập sâu, cơ cấu sản xuất nông nghiệp chủ yếu là lúa 2 vụ (đông xuân – hè thu, hè thu – mùa) trong điều kiện quản lí nước tốt. 3.1.1.3 Khí hậu, thủy văn: a) Khí hậu: Vĩnh Long nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, quanh năm nóng ẩm, có chế độ nhiệt tương đối cao và bức xạ dồi dào. + Nhiệt độ: nhiệt độ trung bình hằng năm từ 25 – 270C, nhiệt độ tối thấp17,70C. Biên độ nhiệt bình quân giữa ngày và đêm là 7,30. + Bức xạ: bức xạ tương đối cao, bình quân số giờ nắng 7,5 giờ/ngày, bức xạ quang hợp/năm là 79.600 cal/m2. Thời gian chiếu sáng bình quân từ 2.550 – 2.700 giờ/năm. Điều kiện thuận lợi về nhiệt và bức xạ dồi dào đã tạo thành lợi thế nhiệt đới cho phép sản xuất các đặc sản xuất khẩu. GVHD: Trương Chí Tiến 10 SVTH: Lê Thị Bích Trâm Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Tỉnh Vĩnh Long + Độ ẩm: độ ẩm không khí bình quân 80 – 83% tháng cao nhất (tháng 9) 88% và tháng thấp nhất (tháng 3) là 77 %. + Gió: trong năm có hai hướng gió chính: gió Đông Bắc thổi từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau và gió Tây Nam từ tháng 4 đến tháng 10, ở Vĩnh Long hầu như không có bão. + Lượng bốc hơi: lượng bốc hơi bình quân của tỉnh khá lớn khoảng 1400 – 1500mm/năm, trong đó lượng bốc hơi/tháng vào mùa khô là 116 – 179mm/tháng. +Mưa: lượng mưa bình quân 1.450 -1.504mm/năm số ngày mưa bình quân 100 – 115 ngày/năm. Số lượng mưa tập trung vào mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10), ngày bắt đầu mưa từ 12 đến 15/5 và ngày kết thúc mùa mưa từ ngày 4 đến 13/11( tần suất 75%). Cá biệt năm 1998 do ảnh hưởng của hiện tượng Elnino và Lanina nên khí hậu thời tiết có diễn biến phức tạp, khác thường; năm 2000 vàv 2001 cả ĐBSCL bị ngập lũ lớn nhất trong 60 năm nay. So với cả nước, Vĩnh Long là nơi có điều kiện khí hậu ưu đãi, rất hiếm khi có hiện tượng khí hậu khắc nghiệt như ở miền Bắc nên ảnh hưởng tốt đến sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, do lượng mưa chỉ tập trung vào mùa mưa trùng hợp với mùa lũ tạo ngập úng ở những vùng trũng thấp (vùng phía Bắc quốc lộ 1A là yếu tố hạn chế đối với sản xuất nông nghiệp ở vùng này). b) Thủy văn: Vĩnh Long cách biển Đông gần 200 km nên hầu như không có nước mặn. Toàn tỉnh chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông thông qua hai nhánh sông chính là sông Tiền và sông Hậu với sông Mang Thít nối liền hai sông này. Mực nước và biên độ triều khá cao, triều cường mạnh, biên độ triều vào mùa lũ khoảng 70 – 90 cm và vào mùa khô dao động từ 140 – 144 cm, kết hợp với hệ thống kênh rạch khá chằng chịt (mật độ 67,5 m) tạo tiềm năng tưới tự chảy cho cây trồng rất lớn, khả năng tiêu rút nước tốt, chủ yếu tập trung ven bờ sông Tiền, sông Hậu và sông Mang Thít là những nơi có thế đất cao hơn. Ngoài ra, hệ thống sông rạch phong phú với chế độ thủy văn bán nhật triều còn là tiềm năng lớn để phát triển giao thông. Tuy nhiên, do phần lớn diện tích (62,85%) có cao trình mặt đất khá thấp (dưới 1,0m) nhiều vùng bị ngập sâu, khó tiêu thoát nên phân bố đất trồng cây hàng năm (lúa). Những vùng đất không GVHD: Trương Chí Tiến 11 SVTH: Lê Thị Bích Trâm Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Tỉnh Vĩnh Long ngập lũ hoặc ngập nông, có thế đất cao, tập trung ven hai bờ sông Tiền, sông Hậu và ven sông rạch lớn, nơi đây trồng cây lâu năm và hoa màu trồng cạn, thổ cư xen lẫn đất vườn. Đặc điểm thuận lợi của tỉnh là có nguồn nước ngọt quanh năm dồi dào, hệ thống kênh rạch khá dày, phân bố đều, kết hợp tác động thủy triều, khả năng tải lượng nước lớn, trữ lượng nước cao, tạo điều kiện cho chủ động tưới tiêu, có thể khai thác thích hợp cho thâm canh, tăng vụ, cải tạo đất và ngọt hóa môi trường nông nghiệp so với các tỉnh khác ven biển Đông và biển Tây thuộc ĐBSCL. Tuy nhiên, một số tiểu vùng trũng thấp bị ảnh hưởng nhẹ bởi nước nhiễm phèn (các huyện Bình Minh, Vũng Liêm, Mang Thít, Trà Ôn). Tiềm năng khai thác và nuôi trồng thủy sản khá lớn. 3.1.2 Tài nguyên thiên nhiên: 3.1.2.1 Tài nguyên đất: theo kết quả điều tra thổ nhưỡng của chương trình đất, Vĩnh Long có 4 nhóm đất chính: đất phèn chiếm 70,16% diện tích, đất phù sa chiếm 29,54% diện tích, đất cát giồng chiếm 0,21% và đất xáng thổi chiếm 0,09% diện tích. + Đất phèn: có diện tích lớn nhất 92.278,13 ha (70,16%), phân bố chủ yếu ở các vùng thấp trũng của huyện Bình Minh, Tam Bình, Vũng Liêm, Long Hồ, Mang Thít…Khác với đất phèn vùng tứ giác Long Xuyên và vùng Đông Tháp Mười, đất phèn ở đây có tầng sinh phèn nằm khá sâu so với mặt tiền đất nên ít ảnh hưởng đến canh tác, hiện nay nơi đây là vùng lúa năng suất cao của tỉnh (canh tác 2 -3 vụ/năm), tiềm năng phát triển cây lúa còn lớn nếu trình độ thâm canh được nâng cao. + Đất phù sa: diện tích 38.852,56 ha (29,54%), phân bố tập trung ở vùng đất cao hai bên sông Tiền – sông Hậu và cù lao giữa sông thuộc các huyện: Trà Ôn, Vũng Liêm, Bình Minh, Long Hồ, thị xã Vĩnh Long. Đây là nhóm đất không phèn, thuận lợi cho canh tác lúa màu, cây ăn trái và nuôi trồng thủy sản. + Đất cát giồng: có qui mô diện tích nhỏ: 113,794 ha (0,21%) phân bố tập trung ở huyện Trà Ôn, Vũng Liêm, hiện trạng chủ yếu làm đất thổ cư và canh tác cây ăn trái, rau màu. Nhóm đất này có tiềm năng thích nghi hoa màu trồng cạn và cây ăn trái. GVHD: Trương Chí Tiến 12 SVTH: Lê Thị Bích Trâm Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Tỉnh Vĩnh Long + Đất xáng thổi: qui mô diện tích đất nhỏ (0,09%) phân bố ở vùng ven sông Mang Thít của huyện Tam Bình. Địa hình cao, thích hợp làm đất ở và đất xây dựng, trồng cây ăn trái và mía. Nhìn chung, các kết quả đánh giá đất đai của tỉnh cho thấy: vùng trung tâm tỉnh phần lớn diện tích đất thấp nên thích nghi cơ cấu 2 – 3 vụ lúa hoặc cơ cấu lúa mùa hoặc cơ cấu lúa – màu. Vùng ven sông Tiền, Sông Hậu và sông Mang Thít do thế đất cao hơn, đa số thích nghi cơ cấu cây trồng: lúa – màu hoặc chuyên màu và cây ăn trái đặc sản. Lợi thế khí hậu nhiệt đới cần phải được lưu ý để phát triển các sản phẩm nông nghiệp, nhiệt đới vốn rất được yêu thích ở thị trường Châu Âu. 3.1.2.2 Tài nguyên khoáng sản: kết quả điều tra các khoáng sản sét và cát sông của Công ty địa chất khoáng sản (GEOSIMCO), tỉnh Vĩnh Long có: + Cát sông: trữ lượng khoảng 70 triệu m3, phân bố chủ yếu ở khu vực phà Mỹ Thuận. Cát thô sử dụng cho trộn hồ, làm gạch không nung. Ngoài ra, ở hầu hết các huyện trong tỉnh đều có đất pha sét dùng làm đập thủy nông. + Sét: trữ lượng khoảng 92 triệu m3 phân bố chủ yếu ở thị xã Vĩnh Long và huyện Long Hồ. Thành phần sét gồm có Kaolinite, thích hợp để làm nguyên liệu sản xuất đồ gốm, gạch ngói. Sét là loại tài nguyên có lợi thế của Vĩnh Long, từ sét Vĩnh Long đã có đồ gốm xuất khẩu sang Châu Âu. 3.1.2.3 Tài nguyên sinh vật: Vĩnh Long có hệ động vật và thực vật phong phú, đa dạng có nhiều loại quí hiếm.Thảm thực vật trên đất nông nghiệp bao gồm tập đoàn cây ngắn ngày và cây dài ngày, cây ngắn ngày chủ yếu là lúa nước, phân bố khắp toàn tỉnh và vùng ĐBSCL. Lúa nước là cây có qui mô phát triển hàng đầu so với các loại cây ngắn ngày khác, nó tỏ ra thích hợp với môi trường sinh thái ở ĐBSCL đã, đang và sẽ còn phát triển mạnh ở đây. Bên cạnh cây lúa nước, Vĩnh Long còn có hầu hết các loại cây ngắn ngày nhiệt đới như: màu lương thực, cây công nghiệp, rau quả và cây thuốc. Trong tập đoàn cây dài ngày có dừa, cây ăn trái ( xoài, chôm chôm, nhãn, cam, quýt, chanh, bưởi, măng cụt, sầu riêng…) đặc biệt bưởi năm roi ở Bình Minh và cam sành ở Tam Bình là hai đặc sản mà không nơi nào ở ĐBSCL có chất lượng bằng và là sản phẩm xuất khẩu có triển vọng. GVHD: Trương Chí Tiến 13 SVTH: Lê Thị Bích Trâm Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Tỉnh Vĩnh Long Hệ động vật cũng rất phong phú: heo, bò, trâu, gà, vịt… đều đã được thuần dưỡng từ rất lâu đời, những giống ngoại nhập cũng thích nghi tốt với môi trường địa phương. Nguồn tài nguyên thủy sản rất phong phú, gồm thủy sản nước ngọt và lợ. Vĩnh Long có 3 hệ sinh thái thủy sản chính: hệ kênh rạch, hệ ao hồ mương vườn, hệ ruộng lúa, là tiềm năng phát triển thủy sản chưa được khai thác tốt. 3.1.3 Tiềm năng kinh tế: 3.1.3.1 Tiềm năng du lich: Cũng như các tỉnh khác nằm trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long có tài nguyên du lịch mang đặc thù của sông nước, kênh rạch, miệt vườn. Các thế mạnh để phát triển du lịch thể hiện ở những danh lam thắng cảnh, những di tích văn hóa, cùng như di tích lịch sử của Vĩnh Long, tỉ lệ người Khơme thấp nhưng vẫn mang đậm nét văn hóa truyền thống riêng như: lễ vào năm mới, lễ cúng ông bà, lễ hội cúng trăng, lễ dâng bông, lễ dâng phước của người Khơme luôn là thời điểm hấp dẫn du khách tham quan, nhất là những khách du lịch muốn tìm hiểu về văn hóa, tín ngưỡng. 3.1.3.2 Những lĩnh vực kinh tế lợi thế: Nguồn tài nguyên không nhiều nhưng đa dạng, nông sản làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, đất sét, cát tạo điều kiện để phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng và gốm sứ. Nhiều ngành, nghề truyền thống là cơ sở để phát triển tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn và tham gia xuất khẩu. 3.1.4 Dân số, lao động: Dân số trung bình của Vĩnh Long năm 2000 là 1 triệu người, năm 2007 là 1,057 triệu người, mật độ dân số trung bình 708 người/km2 vào hàng cao nhất của ĐBSCL. Nguồn lao động dồi dào và tỉ lệ tăng khá nhanh, đa số là lao động nông, lâm, ngư ở tỉnh đều chưa qua đào tạo chiếm tới 97,32%, tỉ lệ lao động đã qua đào tạo ở các bậc sơ cấp, trung cấp, cao dẳng và đại học chỉ chiếm 2,69%. Những con số cho thấy hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư còn mang nặng tính tập quán, truyền thống, trình độ của người lao động còn hạn chế, gây khó khăn cho việc hiện đại hóa nông nghiệp – nông thôn GVHD: Trương Chí Tiến 14 SVTH: Lê Thị Bích Trâm Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Tỉnh Vĩnh Long 3.1.5 Cơ sở hạ tầng phục vụ cho chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp: Điều kiện tự nhiên Vĩnh Long có nhiều sông rạch và hệ thống đường bộ chưa phát triển nên giao thông thủy có vai trò đặc biệt quan trọng trong vận chuyển. Đường thủy chiếm ưu thế về vận chuyển hàng hóa, đường bộ chiếm ưu thế về vận chuyển hành khách. 3.1.5.1 Đường thủy: sông Tiền và các chi nhánh của nó cùng sông Mang Thít là những tuyến giao thông chính của tỉnh Vĩnh Long. Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các sông không sử dụng được cho tàu lớn. Tuyến sông Tiền nối với TPHCM hiện chỉ lưu thông được tàu có tải trọng dưới 3000 tấn. Hàng hóa vận chuyển bằng đường thủy chủ yếu là gạo, vật liệu xây dựng, phân bón. 3.1.5.2 Đường bộ: tổng chiều dài hệ thống đường bộ cấp quốc lộ, tỉnh lộ, hương lộ đến cấp huyện là 320 km. Quốc lộ 1A từ TPHCM qua Vĩnh Long đến Cần Thơ dài 44 km, quốc lộ 53 nối liền tỉnh Trà Vinh dài 65 km, và quốc lộ 54 nối liền Sa Đéc dài 21 km. Toàn tỉnh có 6 tỉnh lộ dài 117 km. Nhìn chung hệ thống giao thông bộ ở Vĩnh Long khá thuận lợi cho việc đi lại và sản xuất hàng hóa ở qui mô phân tán. Đứng trước yêu cầu công nghiệp hóa nông thôn và sản xuất nông sản tập trung hệ thống đường bộ của tỉnh còn nhiều khó khăn nhất là tải trọng các cầu ở các tỉnh lộ nối liền các khu, cụm và tuyến công nghiệp. 3.1.5.3 Điện, nước sinh hoạt: + Điện: đến nay 100% số huyện và xã, phường, thị trấn đã có nguồn từ điện lưới quốc gia, số hộ sử dụng điện chiếm trên 95%. Điện nông thôn chỉ phục vụ sinh hoạt là chính, phần phục vụ cho sản xuất còn chiếm tỉ trọng nhỏ chỉ đạt mức 18% điện 3 pha cho phát triển sản xuất. + Nước sinh hoạt: hiện nay có 6/8 huyện thị có nhà máy nước. Phát triển cấp nước ở Vĩnh Long, đặc biệt ở nông thôn là vấn đề hết sức phức tạp vì điều kiện tự nhiên nhiều sông rạch, dân cư nông thôn phân bố không tập trung và tập quán quen dùng nước sông, ao. Do đó, cần phải có nhiều mô hình cấp nước thích hợp ở từng địa bàn cụ thể. GVHD: Trương Chí Tiến 15 SVTH: Lê Thị Bích Trâm Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Tỉnh Vĩnh Long 3.2 THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NÔNG NGHỆP VĨNH LONG NĂM 2007: Với sự chỉ đạo của các cấp, ban ngành chức năng Vĩnh Long đã thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp với bước đầu đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Sản xuất nông nghiệp phát triển liên tục với tốc độ cao. Một số thành tựu đạt được năm 2007: - Giá trị sản xuất bình quân/ha/năm đất sản xuất nông nghiệp: 69 triệu/ha/năm, tăng 37,6% so năm 2006, nguyên nhân tăng do sản lượng thủy sản nuôi công nghiệp tăng 44.557 tấn, giá lúa tăng. - Diện tích đạt 50 triệu/ha/năm: 34.305,5 ha, chiếm 29,3% diện tích đất nông nghiệp. Mô hình canh tác cụ thể như sau: Cây ăn trái: 20.970,6 ha (chiếm 57,6% diện tích cây ăn trái), có thu nhập từ 50 – 140 triệu đồng/ha. Đất lúa luân canh màu: 10.400 ha, có thu nhập từ 50 - 55 triệu đồng/ha; đất chyên màu: 1799,4 ha, có thu nhập từ 73 – 120 triệu đồng: đất trồng cỏ: 60 ha, có thu nhập từ 50 – 75 triệu đồng/ha. Ao hồ thủy sản: 625,5 ha, có thu nhập từ 180 – 1.440 triệu đồng/ha. Nuôi thủy sản bãi bồi ven sông: 450 ha, có thu nhập từ 1.440 – 4.020 triệu đồng/ha; đất chuyên nuôi cá ở Long Hồ, ven sông các xã cù lao, ven sông Hậu từ Tân An Thạnh – Tân Quới, ven các cồn Lục Sỹ - Phú Thành. - Diện tích chuyển đổi: + Diện tích chuyển dịch từ lúa sang màu: 10 ha, nâng tổng số diện tích chuyên màu 1.598 ha; diện tích màu luân canh trên ruộng lúa: 16.250 ha. + Diện tích chuyển dịch từ lúa sang cây ăn trái lâu năm: 562 ha, nâng tổng diện tích vườn cây lâu năm: 45.331 ha trong đó diện tích cây ăn trái: 38.559 ha, cây dừa: 6.732 ha. + Diện tích chuyển dịch từ chuyên sản xuất nông nghiệp sang thủy sản: 160 ha, nâng tổng diện tích nuôi thủy sản lên 301 ha. + Phong trào sản xuất nấm rơm được phát triển rộng rãi: tổng diện tích 14.869 ha, tập trung nhiều ở Bình Minh (4.975 ha), Tam Bình (3.532 ha), Vũng Liêm (5.787 ha), Trà Ôn (550 ha), Mang Thít (25 ha). Sản lượng đạt gần 6.859 tấn nấm tươi. GVHD: Trương Chí Tiến 16 SVTH: Lê Thị Bích Trâm Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Tỉnh Vĩnh Long Tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế: + Cơ cấu kinh tế nông nghiệp thủy sản tuy có sự điều chỉnh mạnh vào năm 2007 nhưng chưa thật sự cân đối so với tiềm năng nuôi trồng thủy sản của địa phương.Quá trình phát triển thủy sản tuy nhanh nhưng nhìn chung chưa vững chắc, còn nhiều tiềm ẩn, rủi ro về thị trường, môi trường dịch bệnh, khả năng cung cầu cũng như năng lực chế biến còn hạn chế. + Chuyển dịch cơ cấu trồng trọt – chăn nuôi – dịch vụ còn chậm, trồng trọt nhất là cây lúa vốn đã chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu nhưng do tác động giá cả thị trường thì nay lại càng tỏ ra có ưu thế hơn cả chăn nuôi. Đặc biệt từ năm 2004 đến nay do ảnh hưởng của dịch bệnh, ngoài đàn bò tăng mạnh còn lại đàn heo và đàn gia cầm có tố độ phát triển chậm lại, chưa ngang xứng với khả năng và thị trường. Dịch vụ nông nghiệp có lợi thế nhưng chưa được phát huy và đang ở dạng tiềm năng. + Kinh tế thuần nông, nhỏ lẻ, phân tán, phân đoạn, chuyên canh cây lúa là đặc trưng cơ bản của kinh tế nông thôn tỉnh nhà. Con đường để gia tăng sản lượng và giá trị sản lương thông qua thâm canh, tăng vụ lúa đã tới ngưỡng là một trong những nguyên nhân sâu xa làm chậm tốc độ tăng giá trị của ngành nông nghiệp. Quá trình tiêu thụ hàng hóa nếu gặp khó khăn về thị trường, giá cả đầu vào, đầu ra ắt sẽ phát sinh tiêu cực mang tính dây chuyền đến toàn bộ hệ thống từ người trồng lúa đến các doanh nghiệp thu mua, chế biến, bảo quản xuất lúa gạo trong tỉnh, mà hậu quả cuối cùng là làm phát sinh sự bất ổn về kinh tế cũng như xã hội nông thôn. + Công tác giống cây trồng, vật nuôi chậm được đổi mới về chất lượng, công nghệ sản xuất cũng như hệ thống phân phối. Các mặt hàng về trái cây ngoài cam sành, bưởi 5 roi, xoài cát là đặc sản chính của địa phương có truyền thống là chất lượng khá song độ đồng đều về chất lượng những năm gần đây có dấu hiệu sa sút, sản xuất lại manh mún, quá trình sản xuất, thu mua, tiêu thụ, phân chia ra nhiều công đoạn đã làm phát sinh nhiều chi phí bất hợp lí, đẩy giá thành lên cao, giảm năng lực cạnh tranh với hàng hóa cùng loại của nước ngoài. Quá trình ứng dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn gặp khó khăn nên khi hàng hóa trái cây Vĩnh Long xuất sang thị trường các nước khó vượt qua hàng rào vệ sinh an toàn thực phẩm. GVHD: Trương Chí Tiến 17 SVTH: Lê Thị Bích Trâm Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Tỉnh Vĩnh Long + Trong xu thế hội nhập các hình thức tổ chức sản xuất kinh tế, hợp tác, trang trại đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tổ chức sản xuất quy mô lớn, tập trung, ứng dụng mạnh mẽ các tiến bộ khoa học công nghệ mới như kinh tế hợp tác, hợp tác xã, trang trại trên địa bàn Vĩnh Long hoạt động còn lúng túng, nông dân tham gia hợp tác cũng như tổ hợp tác còn mang tính hình thức, hiệu quả kinh tế mang lại từ sự sản xuất kinh doanh của nhiều tổ hợp tác xã trong ngành chưa thực sự hấp dẫn đối với nông dân. + Năng lực đầu tư về tài chính để hiện đại hóa nông nghiệp như giống cây trồng, vật nuôi, trình độ sản xuất thâm canh, thông tin thị trường, xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu, nông sản hàng hóa, sơ chế, chế biến, bảo quản nông sản, hàng hóa chưa thật sự xứng với nhu cầu. GVHD: Trương Chí Tiến 18 SVTH: Lê Thị Bích Trâm Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Tỉnh Vĩnh Long CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NÔNG NGHIỆP Ở VĨNH LONG. 4.1 TÌNH HÌNH NÔNG NGHIỆP VĨNH LONG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP: Giai đoạn 1995 – 2000, nông nghiệp Vĩnh Long chiếm 59,2% trong GDP, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 4,25% năm, chiếm tỉ trọng 94,98% 95,89%, một tỉ lệ “áp đảo”trong cơ cấu nông – lâm – ngư. Sản phẩm chủ yếu là cây lúa, giá trị sản xuất trên 1 ha là 30,3 triệu đồng, đây là chỉ số thấp. Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp hầu như không chuyển đổi, nông nghiệp luôn có tỉ trọng cao, thủy sản chiếm vị trí thứ hai, tuy có khá hơn lúc trước nhưng vẫn còn khiêm tốn, sự mất cân đối trong cơ cấu nông – lâm – nghiệp kéo dài, chậm được khắc phục gây ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp. Tổng giá trị sản xuất nông – lâm – ngư của tỉnh năm 2000 (tính theo giá hiện hành) là 3.675.108 triệu đồng, trong đó nông nghiệp là 3.498.309 triệu đồng, lâm nghiệp là 36.001 triệu đồng, ngư nghiệp là 140.798 triệu đồng ( Nguồn: SNN&PTNT Vĩnh Long). Bảng 1: CƠ CẤU GIÁ TRỊ NÔNG - LÂM - NGƯ CỦA TỈNH NĂM 2000. Chỉ tiêu Cơ cấu ( %) Nông nghiệp 95,19 Lâm nghiệp 0,98 Ngư nghiệp 3,83 Tổng 100 Nguồn: SNN& PTNT Vĩnh Long. GVHD: Trương Chí Tiến 19 SVTH: Lê Thị Bích Trâm Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Tỉnh Vĩnh Long Biểu đồ 1: Cơ cấu giá trị nông - lâm ngư của tỉnh năm 2000. 0.98% 3.83% Nông nghiệp Lâm nghiệp Ngư nghiệp 95.19% 4.1.1 Nội bộ ngành nông nghiệp: Cơ cấu trồng trọt - chăn nuôi – dịch vụ trong nông nghiệp giai đoạn này chuyển dịch theo hướng giảm tỉ trọng trồng trọt, tăng tỉ trọng ngành chăn nuôi. Tuy nhiên, trồng trọt vẫn giữ vai trò then chốt trong nông nghiệp, tỉ trọng giá trị trồng trọt năm 1995 (tính theo giá hiện hành) là 78,95%, năm 2000 giảm còn 73,47% giảm 1,4%/năm. 4.1.1.1 Nội bộ ngành trồng trọt: Trong giai đoạn này cây lương thực chiếm tỉ trọng cao nhất, mặc dù cơ cấu ngành trồng trọt chuyển dịch theo hướng giảm tỉ trọng cây lương thực, tăng tỉ trọng cây lâu năm, rau đậu và gia vị. Bảng 2: CƠ CẤU GIÁ TRỊ NỘI BỘ NGÀNH TRỒNG TRỌT NĂM 2000. Chỉ tiêu Cơ cấu ( %) Cây lương thực 58,5 Cây lâu năm 27,7 Rau đậu, gia vị 4,68 Khác 9,12 Tổng 100 Nguồn: SNN&PTNT Vĩnh Long. GVHD: Trương Chí Tiến 20 SVTH: Lê Thị Bích Trâm
- Xem thêm -