Phân tích thực trạng và triển khai một số giải pháp can thiệp nhằm xây dựng Trung tâm Kiểm nghiệm thuốc

  • Số trang: 151 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 21 |
  • Lượt tải: 1
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI VŨ TRỌNG THƯỞNG PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN KHAI MỘT SỐ GIẢI PHÁP CAN THIỆP NHẰM XÂY DỰNG TRUNG TÂM KIỂM NGHIỆM THUỐC, MỸ PHẨM, THỰC PHẨM TỈNH YÊN BÁI ĐẠT TIÊU CHUẨN “THỰC HÀNH TỐT PHÒNG KIỂM NGHIỆM THUỐC – GLP” LUẬN ÁN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II HÀ NỘI, NĂM 2013 BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI VŨ TRỌNG THƯỞNG PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN KHAI MỘT SỐ GIẢI PHÁP CAN THIỆP NHẰM XÂY DỰNG TRUNG TÂM KIỂM NGHIỆM THUỐC, MỸ PHẨM, THỰC PHẨM TỈNH YÊN BÁI ĐẠT TIÊU CHUẨN “THỰC HÀNH TỐT PHÒNG KIỂM NGHIỆM THUỐC – GLP” LUẬN ÁN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC MÃ SỐ: CK 62.73. 20. 01 Người hướng dẫn : PGS.TS. Nguyễn Thị Song Hà HÀ NỘI - 2013 LỜI CẢM ƠN Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đến quí thầy cô ở bộ môn Quản lý và Kinh tế dược, phòng Sau đại học, và các thầy cô giáo trường Đại học Dược Hà Nội, đặc biệt là những thầy cô đã tận tình dạy bảo cho tôi suốt thời gian học tập tại trường. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Thị Song Hà, Trưởng phòng Sau đại học, người đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp. Nhân đây, tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Văn Lợi - Trưởng Phòng Quản lý chất lượng Thuốc & Mỹ phẩm - Cục Quản lý Dược và Thạc sỹ Nguyễn Đăng Lâm – Phó viện trưởng Viện Kiểm Nghiệm thuốc Trung ương đã có những ý kiến đóng góp quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, những người đã không ngừng động viên, hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn. Cuối cùng, tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn đến các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn một cách hoàn chỉnh. Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp quí báu của quí thầy cô và các bạn đồng nghiệp. Yên Bái, tháng 4 năm 2013 Học viên Vũ Trọng Thưởng MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ 1 Chương 1. TỔNG QUAN 2.1. Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan đến nội dung nghiên cứu. 3 2.2. Khái quát tình hình phát triển và thực hiện các tiêu chuẩn “Thực hành tốt phòng kiểm nghiệm – GLP” trên thế giới đến năm 2012. 3 2.2.1. Quá trình hình thành GLP. 3 2.2.2. Một số nội dung chính của GLP-WHO. 5 2.2.3. Tình hình thực hiện GLP trên thế giới. 7 2.3. Thực trạng việc quản lý chất lượng thuốc và thực hiện “Thực hành tốt phòng kiểm nghiệm thuốc – GLP“ tại Việt Nam đến năm 2012. 9 2.3.1. Một vài nét về quản lý chất lượng thuốc tại Việt Nam. 9 2.3.2. Quá trình hình thành và một số nội dung chính của GLP Việt Nam. 13 2.3.3. Tình hình triển khai và thực hiện GLP tại Việt Nam. 22 2.4. Khái quát tình tình chất lượng thuốc và một vài nét về thực trạng Trung 23 tâm kiểm nghiệm thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm tỉnh Yên Bái đến năm 2011. 2.4.1. Một vài nét về đặc điểm tình hình tỉnh Yên Bái 23 2.4.2. Thực trạng chất lượng thuốc tại tỉnh Yên Bái. 24 2.4.3. Một vài nét về thực trạng Trung tâm kiểm nghiệm thuốc, mỹ phẩm, 24 thực phẩm tỉnh Yên Bái đến năm 2011. Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1.Đối tượng nghiên cứu 30 2.2. Các nội dung và chỉ tiêu nghiên cứu. 31 2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 32 2.4. Phương pháp nghiên cứu 32 2.4.1. Phương pháp mô tả cắt ngang 34 2.4.2. Phương pháp mô tả hồi cứu 34 2.4.2. Phương pháp can thiệp không có đối chứng 34 2.5. Phương pháp thu thập số liệu 38 2.5.1. Thu thập từ tài liệu 38 2.5.2. Thu thập từ quan sát, phỏng vấn nhân viên 39 2.6. Phương pháp phân tích và trình bày số liệu 40 2.6.1- Phương pháp quản trị học 40 2.6.2. Phương pháp xử lý và trình bày số liệu 40 Chương 3. KẾT QỦA NGHIÊN CỨU 3.1. Phân tích thực trạng hoạt động của TTKN Thuốc - Mỹ phẩm - Thực phẩm Yên Bái năm 2011 theo Danh mục kiểm tra "Thực hành tốt phòng 41 kiểm nghiệm thuốc" 3.1.1. Thực trạng về tổ chức và nhân sự 41 3.1.2. Thực trạng về phương pháp tổ chức và quản lý điều hành 42 3.1.3. Thực trạng về điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị và dụng cụ phân tích 49 3.1.4 Thực trạng về thuốc thử, chất đối chiếu và chuẩn đo lường 51 3.2. Đề xuất và thực hiện một số giải pháp can thiệp để xây dựng trung tâm 53 đạt tiêu chuẩn “Thực hành tốt phòng kiểm nghiệm thuốc – GLP” 3.2.1. Đề xuất một số giải pháp để xây dựng trung tâm đạt tiêu chuẩn GLP 53 3.2.2. Kết quả thực hiện một số tác động can thiệp tại trung tâm năm 2012 55 3.2.2.1. Kết quả can thiệp tới công tác tổ chức và nhân sự 55 3.2.2.2. Kết quả can thiệp tới phương pháp tổ chức và quản lý điều hành 56 3.2.2.3. Kết quả can thiệp tới cơ sở vật chất, trang thiết bị và dụng cụ phân tích 63 3.2.2.4. Kết quả can thiệp tới thuốc thử, chất đối chiếu và chuẩn đo lường 65 Chương 4. BÀN LUẬN 4.1. Thực trạng hoạt động của Trung tâm kiểm nghiệm thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm tỉnh Yên Bái năm 2011 theo Checklist GLP 69 4.1.1. Công tác tổ chức và nhân sự: 69 4.1.2. Phương pháp tổ chức và quản lý điều hành hoạt động tại trung tâm 70 4.1.3. Cơ sở vật chất, trang thiết bị và dụng cụ phân tích. 72 4.1.4. Thuốc thử, chất đối chiếu và chuẩn đo lường 74 4.2. Hiệu quả thực hiện một số giải pháp can thiệp trong năm 2012 để xây dựng trung tâm tiến tới đạt tiêu chuẩn GLP 78 4.2.1- Hiệu quả của các tác động can thiệp tới công tác tổ chức và nhân sự: 78 4.2.2. Hiệu quả của tác động can thiệp tới phương pháp tổ chức và quản lý điều hành 79 4.2.3. Hiệu quả của tác động can thiệp tới cơ sở vật chất, trang thiết bị phân tích 81 4.2.4. Hiệu quả của tác động can thiệp tới thuốc thử, chất đối chiếu và chuẩn 81 đo lường KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận 84 1.1- Về thực trạng hoạt động của trung tâm năm 2011 theo các tiêu chuẩn của GLP. 84 1.2- Hiệu quả của các tác động can thiệp trong năm 2012 để xây dựng trung tâm đạt tiêu chuẩn GLP 85 2. Kiến nghị. 86 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Từ viết tắt Cụm từ tiếng Việt Cụm từ tiếng Anh ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á Association of Southeast Asian Nations MAD Hệ thống chấp nhận lẫn nhau Mutual Acceptance of Data (MAD) system GMP Thực hành tốt sản xuất thuốc Good Manufacturing Practice GLP Thực hành tốt kiểm nghiệm thuốc Good Laboratory Practice GSP Thực hành tốt bảo quản thuốc Good Storage Practice GPP Thực hành tốt nhà thuốc Good Pharmacy Practice GDP Thực hành tốt phân phối thuốc Good Distribution Practice GPs Thực hành tốt Good Practices HC-KH Hành chính – Kế hoạch ISO Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế International Standardization Organization OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Organization for Economic Cooperation and Development TCCL Tiêu chuẩn chất lượng TTKN Trung tâm kiểm nghiệm UNDP Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc United Nations Development Programe WHO Tổ chức Y tế thế giới World Health Organization WTO Tổ chức thương mại thế giới World Trade Organization DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1: So sánh tiêu chuẩn Thực hành tốt phòng kiểm nghiệm thuốc của WHO giữa hai phiên bản năm 2002 và năm 2010 Bảng 1.2: Các nước tham gia hệ thống MAD của OECD 6 8 Bảng 1.3: Tỷ lệ thuốc không đạt chất lượng qua các năm 2007 – 2011 Bảng 1.4: Tỷ lệ thuốc đông dược không đạt chất lượng qua các năm 2007 - 2011 Bảng 1.5: Tỷ lệ thuốc giả trong nước qua các năm 2008 - 2011 Bảng 1.6: So sánh những nội dung chủ yếu của các Hệ thống chất lượng đối với phòng thí nghiệm Bảng 1.7: So sánh sự khác biệt về mục tiêu và yêu cầu giữa hai hệ thống chất lượng ISO/IEC 17025 và GLP Bảng 1.8: Tình hình chất lượng thuốc tại Yên Bái các năm 2009 – 2011 Bảng 1.9: Cơ cấu nhân lực tại trung tâm năm 2011 Bảng 1.10: Một số trang thiết bị chính hiện có tại trung tâm năm 2011 Bảng 1.11. Tình hình sử dụng khi phí của Trung tâm kiểm nghiệm thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm Yên Bái các năm 2009 – 2011 10 11 Bảng 2.1: Phân loại các chỉ báo đưa vào phân tích và đánh giá trong nghiên cứu Bảng 3.1: Thực trạng về công tác giải quyết khiếu nại tại trung tâm năm 2011 Bảng 3.2. Thực trạng công tác tự thanh tra tại trung tâm năm 2011 Bảng 3.3: Phương pháp tổ chức quản lý điều hành tại trung tâm năm 2011 Bảng 3.4: Tổng hợp kết quả thực hiện các chỉ báo theo Checklist GLP tại trung tâm năm 2011 Bảng 3.5: Một số giải pháp can thiệp và lộ trình thực hiện các giải pháp để xây dựng trung tâm tiến tới đạt tiêu chuẩn GLP vào năm 2015 Bảng 3.6: Mô tả kết quả tác động can thiệp tới khiếu nại về kết quả thử nghiệm tại trung tâm năm 2012 Bảng 3.7: Kết quả thực hiện các chỉ báo trước và sau can thiệp tới phương pháp tổ chức và quản lý điều hành tại trung tâm năm 2012 Bảng 3.8: Tổng hợp kết quả thực hiện các chỉ báo trước và sau can thiệp tại trung tâm năm 2012 30 11 20 21 24 26 27 28 46 48 49 53 54 61 63 66 DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1.1: Bốn giai đoạn thiết kế, chế tạo, bảo lưu và phát huy chất lượng của thuốc 12 Hình 1.2: Sơ đồ các nguyên tắc “Thực hành tốt phòng kiểm nghiệm thuốc” 14 Hình 2.1: Mô hình can thiệp 34 Hình 3.1 : Mô hình tổ chức và cơ cấu nhân lực của trung tâm năm 2011 41 Hình 3.2: Tỷ lệ thực hiện các chỉ báo về tổ chức và nhân sự theo GLP năm 2011 42 Hình 3.3: Tỷ lệ thực hiện các chỉ báo về hệ thống chất lượng năm 2011 43 Hình 3.4: Tỷ lệ thực hiện các chỉ báo về tiêu chuẩn và phương pháp phân tích năm 2011 43 Hình 3.5: Tỷ lệ thực hiện các chỉ báo về Mẫu thử năm 2011 44 Hình 3.6: Tỷ lệ thực hiện các chỉ báo về thử nghiệm và đánh giá kết quả năm 2011 45 Hình 3.7: Tỷ lệ thực hiện các chỉ báo về hồ sơ và tài liệu năm 2011 45 Hình 3.8: Tỷ lệ thực hiện các chỉ báo về an toàn phòng thí nghiệm năm 2011 47 Hình 3.9: Tỷ lệ thực hiện các chỉ báo về tự thanh tra năm 2011 48 Hình 3.10: Tỷ lệ thực hiện các chỉ báo về Cơ sở vật chất năm 2011 50 Hình 3.11: Tỷ lệ thực hiện các chỉ báo về trang thiết bị, dụng cụ phân tích năm 2011 51 Hình 3.12: Tỷ lệ thực hiện các chỉ báo về thuốc thử và chất đối chiếu năm 2011 52 Hình 3.13: Tỷ lệ kết quả thực hiện các chỉ báo về tổ chức và nhân sự trước và sau can thiệp 56 Hình 3.14: So sánh tỷ lệ thực hiện các chỉ báo về hệ thống chất lượng trước và sau can thiệp 57 Hình 3.15: So sánh tỷ lệ thực hiện các chỉ báo về tiêu chuẩn chất lượng và phương pháp phân tích trước và sau can thiệp 58 Hình 3.16: So sánh tỷ lệ thực hiện các chỉ báo về mẫu thử trước và sau can thiệp 58 Hình 3.17: So sánh tỷ lệ thực hiện các chỉ báo về 59 Thử nghiệm và đánh giá kết quả trước và sau can thiệp Hình 3.18: So sánh tỷ lệ thực hiện các chỉ báo về hồ sơ và tài liệu trước và sau can thiệp 60 Hình 3.19: Tỷ lệ thực hiện các chỉ báo về an toàn phòng thí nghiệm trước và sau can thiệp 62 Hình 3.20: Tỷ lệ thực hiện các chỉ báo về tự thanh tra trước và sau can thiệp 63 Hình 3.21: Tỷ lệ thực hiện các chỉ báo về cơ sở vật chất trước và sau can thiệp 64 Hình 3.22: Tỷ lệ thực hiện các chỉ báo về trang thiết bị và dụng cụ phân tích trước và sau can thiệp 65 Hình 3.23: So sánh tỷ lệ thực hiện các chỉ báo về thuốc thử và chất đối chiếu trước và sau can thiệp 67 ĐẶT VẤN ĐỀ Thuốc là loại hàng hoá đặc biệt vì ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ và có thể đến cả tính mạng con người. Do đó chất lượng thuốc phòng bệnh, chữa bệnh là vấn đề được tất cả các quốc gia trên thế giới hết sức quan tâm. Để đảm bảo thuốc được sử dụng an toàn, hiệu quả, giảm sự đề kháng thuốc, ngăn chặn thất bại trong điều trị, giảm gia tăng bệnh tật và tử vong, cộng đồng thế giới nói chung và từng quốc gia nói riêng ngày càng nỗ lực hợp tác với nhau trong việc giám sát, quản lý chất lượng thuốc trong suốt quá trình từ khi sản xuất đến tay người sử dụng nhằm chuẩn hoá các hoạt động này. Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra bộ tiêu chuẩn thực hành tốt về các hoạt động thuộc lĩnh vực Dược (GPs) bao gồm: tiêu chuẩn thực hành tốt trong thử nghiệm lâm sàng (GCP); trong sản xuất (GMP), trong bảo quản (GSP), trong kiểm nghiệm (GLP), trong phân phối thuốc (GDP) và trong bán lẻ tại nhà thuốc (GPP) … để từ đó mỗi nước căn cứ vào đó đưa ra những hướng dẫn phù hợp với quốc gia mình. Trong suốt quá trình từ nghiên cứu, sản xuất, tồn trữ và phân phối thuốc. Để quyết định chấp nhận hay loại bỏ lô thuốc có được lưu hành hay không, kiểm nghiệm đánh giá chất lượng thuốc là khâu hết sức quan trọng. Do đó, tại Việt Nam, nhằm nâng cao tính hiệu quả của hệ thống các phòng kiểm nghiệm thuốc trên cả hai mặt quản lý kỹ thuật và nghiệp vụ, đảm bảo tính khách quan, trung thực và chính xác trong việc đánh giá chất lượng thuốc, ngày 22 tháng 5 năm 2000 Bộ Y tế đã ban hành quyết định số 1570/2000/QĐ-BYT về việc triển khai áp dụng nguyên tắc " Thực hành tốt phòng kiểm nghiệm thuốc - GLP" áp dụng cho các cơ sở Kiểm nghiệm của Nhà nước và các phòng kiểm nghiệm của các doanh nghiệp dược. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong quá trình hội nhập quốc tế cũng như lộ trình chuẩn hoá các phòng kiểm nghiệm theo GLP, ngày 15 tháng 8 năm 2002 Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 108/2002/QĐ-TTg về Chiến lược phát triển ngành Dược giai đoạn 2002-2010, đến 2010 tất cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu và kiểm nghiệm dược phẩm đều phải đạt tiêu chuẩn thực hành tốt ( Good Practices – GPs). Tiêu chuẩn GLP đưa ra yêu cầu cao về nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, thiết bị phân tích kiểm nghiệm, hóa chất thuốc thử… nên việc triển khai đòi hỏi đầu tư rất lớn về nhân lực có chất lượng cao và kinh phí cho đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phân tích. Vì vậy, từ 1 khi ban hành nguyên tắc GLP đến nay, các doanh nghiệp sản xuất thuốc để đảm bảo sự tồn tại và phát triển đã đầu tư xây dựng được phòng kiểm nghiệm đạt tiêu chuẩn GLP phù hợp với qui mô của mình. Đối với hệ thống kiểm nghiệm nhà nước trên toàn quốc, đến hết năm 2011 ngoài 2 viện: Viện kiểm nghiệm thuốc Trung ương và Viện Kiểm nghiệm thuốc thành phố Hồ Chí Minh duy trì đạt cả hai tiêu chuẩn ISO và GLP; 06 Trung tâm kiểm nghiệm đạt chuẩn ISO/IEC 17025 ( Cần Thơ, Thừa Thiên – Huế, Hà Nội, Phú Thọ, Vĩnh Long và Gia Lai ) và Trung tâm kiểm nghiệm dược Quân đội được chứng nhận GLP, còn lại hầu hết trung tâm kiểm nghiệm các tỉnh đều chưa đạt tiêu chuẩn này. Do đó, việc xây dựng các cơ sở Kiểm nghiệm đạt tiêu chuẩn GLP ở nước ta là vấn đề hết sức cấp thiết bởi đã quá thời hạn qui định theo Quyết định số 108/2002/QĐ-TTg. Tại tỉnh Yên Bái, trong những năm qua Trung tâm kiểm nghiệm Thuốc - Mỹ phẩm - Thực phẩm đã được UBND tỉnh và Sở Y tế quan tâm, chú trọng đầu tư khá nhiều về cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực xong để đạt tiêu chuẩn GLP thì còn nhiều vấn đề cần phải được giải quyết. Để làm rõ thực tế đó và góp phần xây dựng Trung tâm tiến tới đạt tiêu chuẩn GLP, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Phân tích thực trạng và triển khai một số giải pháp can thiệp nhằm xây dựng Trung tâm kiểm nghiệm Thuốc - Mỹ phẩm - Thực phẩm Yên Bái đạt tiêu chuẩn “ Thực hành tốt phòng kiểm nghiệm thuốc - GLP” với các mục tiêu sau: 1. Phân tích thực trạng của Trung tâm kiểm nghiệm thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm tỉnh Yên Bái năm 2011 theo các nguyên tắc, tiêu chuẩn “ Thực hành tốt phòng kiểm nghiệm thuốc – GLP” 2. Triển khai một số giải pháp can thiệp để xây dựng trung tâm đạt tiêu chuẩn “ Thực hành tốt phòng kiểm nghiệm thuốc” Để từ đó hoàn thiện việc xây dựng trung tâm được công nhận đạt tiêu chuẩn “Thực hành tốt phòng kiểm nghiệm thuốc – GLP “ vào năm 2015. 2 Chương 1. TỔNG QUAN 2.1. Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan đến nội dung nghiên cứu. * Đơn vị kiểm nghiệm: là một bộ phận của phòng kiểm nghiệm thuốc được chuyên môn hóa để thực hiện các phân tích theo một kỹ thuật chung, thí dụ phân tích lý, hóa, vi sinh ..[3]. * Hệ thống chất lượng: là một hệ thống bao gồm: chính sách, mục tiêu, cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ, qui trình và nguồn lực cần thiết để đảm bảo chất lượng hoạt động của một đơn vị. Hệ thống chất lượng được xây dựng để đáp ứng yêu cầu quản lý chất lượng nội bộ của một tổ chức, bao gồm luôn cả các mối quan hệ với khách hàng [3]. * Hệ thống phân tích: là một thiết bị hoặc một tập hợp hoàn chỉnh các thiết bị được dùng để tiến hành các phân tích trên một mẫu [3]. * Quy trình thao tác chuẩn : là các hướng dẫn chi tiết có tính chất pháp lý cho việc thực hiện các bước của một thao tác, một công việc hay một quá trình khi kiểm nghiệm thuốc [3]. * Tiêu chuẩn chất lượng: bao gồm các qui định về chỉ tiêu, yêu cầu kỹ thuật, phương pháp kiểm nghiệm, bao gói, ghi nhãn, vận chuyển, bảo quản và các yêu cầu khác có liên quan đến chất lượng thuốc. Tiêu chuẩn chất lượng thuốc được thể hiện dưới hình thức văn bản kỹ thuật [6]. * Thực hành tốt: là những bộ nguyên tắc, tiêu chuẩn về sản xuất, bảo quản, kiểm nghiệm, lưu thông thuốc; nuôi trồng, thu hoạch và chế biến dược liệu do Bộ Y tế ban hành [6]. * Kiểm nghiệm thuốc: là việc lấy mẫu, xem xét tiêu chuẩn kỹ thuật, tiến hành các thử nghiệm tương ứng và cần thiết nhằm xác định nguyên liệu, bán thành phẩm, thành phẩm có đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật không để quyết định việc chấp nhận hay loại bỏ thuốc đó [6]. 2.2. Khái quát tình hình phát triển và thực hiện các tiêu chuẩn “Thực hành tốt phòng kiểm nghiệm – GLP” trên thế giới đến năm 2012. 2.2.1. Quá trình hình thành GLP. Từ những năm 1970, các khái niệm về "Thực hành tốt phòng thí nghiệm - GLP" chính thức ra đời tại Mỹ do những lo ngại về tính hợp lệ của dữ liệu an toàn phi lâm sàng gửi đến cơ quan Quản lý dược phẩm và thực phẩm Mỹ (FDA). Các quy định của GLP đưa ra nhằm đảm bảo những dữ liệu nghiên cứu trình FDA là trung thực, phản ánh các công việc đã được thử nghiệm. Vào những năm 1979, 1980 các qui định về GLP đầu tiên được ban hành dưới dạng dự thảo, đến năm 1983 bản qui tắc cuối cùng đã được ban hành [28]. 3 Vào những năm 1980, Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) là một tổ chức liên chính phủ, trong đó có đại diện của các quốc gia công nghiệp hóa ở Bắc Mỹ, Châu Âu và Thái Bình Dương ( Úc, Áo, Bỉ, Canada, Đan Mạch, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, New Zealand, Na Uy, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh, Hoa Kỳ, Ủy ban của Cộng đồng Châu Âu, Tổ chức Y tế giới) đã xây dựng nguyên tắc GLP đầu tiên của khối. Chỉ thị 87/18/EEC ngày 18 tháng 12 Năm 1986 của Hội đồng Châu Âu lần đầu tiên chính thức giới thiệu GLP và được công nhận trong hệ thống pháp luật Châu Âu. Theo quy định của OECD, kết quả thử nghiệm tuân thủ theo GLP ở một nước thành viên sẽ được chấp nhận ở các nước thành viên còn lại trong khối [23]. Ngày 26 tháng 11 năm 1997, Hội đồng OECD thông qua quyết định các nước không phải là thành viên của OECD có khả năng tự nguyện tuân thủ theo đúng tiêu chuẩn GLP của OECD, và sau khi thực hiện đầy đủ thì được phép tham gia vào phần tương ứng của chương trình hóa chất của OECD, là cơ sở cho sự chấp nhận lẫn nhau về dữ liệu và để mở rộng khả năng này cho các nước bên ngoài khối OECD. Năm 1999 Liên minh Châu Âu đã ban hành Chỉ thị 1999/11/EC của Ủy ban EC sửa đổi các Nguyên tắc của GLP áp dụng trong khuôn khổ các nước OECD nhằm thích nghi với hoàn cảnh mới [28]. Năm 1984, WHO ban hành dự thảo GLP đầu tiên với tên Thực hành tốt ở các phòng kiểm nghiệm thuốc thuộc Chính phủ (Good Laboratory Practices in Governmental Drug Control Laboratories) với mục tiêu là để thực hiện tại các Labô kiểm nghiệm thuốc thuộc chính phủ, tuy nhiên nhiều nội dung hướng dẫn kỹ thuật và nghiệp vụ trong tài liệu này có thể vận dụng để áp dụng ở các phòng kiểm nghiệm thuốc của các doanh nghiệp. Năm 1999, WHO đã sửa đổi và ban hành hướng dẫn mới có tên Thực hành tốt phòng kiểm nghiệm thuốc (Good Drug Quality Control Laboratories Practices). Năm 2002, tiếp thu những ý kiến đóng góp vào văn bản năm 1999, WHO đã ban hành GLP với tên Thực hành tốt phòng kiểm nghiệm dược phẩm quốc gia [21]. Để thích nghi với hoàn cảnh mới, năm 2010 WHO đã ban nguyên tắc GLP mới nhất với tên Thực hành tốt quản lý phòng kiểm nghiệm dược phẩm. So với các phiên bản trước, thì lần này để cập đến vấn đề: hệ thống quản lý chất lượng; hợp đồng phụ; chất đối chiếu và liên kết chuẩn đo lường; phương pháp phân tích được công nhận; giấy chứng nhận phân tích được đề cập một cách rõ ràng và đầy đủ hơn [29]. Theo đó, thực hành tốt phòng thí nghiệm (GLP) được định nghĩa là "Một hệ thống chất lượng liên quan tới các điều kiện và qui trình vận hành của tổ chức áp dụng cho các nghiên cứu về an toàn y tế phi lâm sàng và môi trường được lên kế hoạch, thực hiện, 4 theo dõi, ghi chép, lưu trữ và báo cáo" (Phi lâm sàng là các nghiên cứu chủ yếu trên động vật hoặc trong ống nghiệm, bao gồm cả các lĩnh vực phân tích cho các nghiên cứu đó) [24]. Mục đích của những nguyên tắc của Thực hành tốt phòng thí nghiệm là nhằm thúc đẩy sự phát triển của kiểm tra chất lượng dữ liệu. So sánh chất lượng của dữ liệu thử nghiệm, tạo cơ sở cho việc chấp nhận lẫn nhau về kiểm tra dữ liệu giữa các nước. Áp dụng các nguyên tắc này sẽ giúp tránh việc tạo ra các rào cản kỹ thuật đối với thương mại, và tiếp tục cải thiện việc bảo vệ sức khỏe con người và môi trường [23]. 2.2.2. Một số nội dung chính của GLP-WHO. Nhằm thiết lập chuẩn mực giúp các quốc gia thành viên, đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho việc đạt được những thỏa thuận giữa các quốc gia trong giao lưu thương mại quốc tế về dược phẩm và sinh phẩm được thuận lợi, giảm thiểu thuốc kém chất lượng lưu thông trên thị trường. Thừa kế những thành tựu trước đó và áp dụng những tiến bộ mới của khoa học kỹ thuật trong quản lý chất lượng thuốc, năm 2002 WHO đã ban hành nguyên tắc “Thực hành tốt phòng kiểm nghiệm dược phẩm quốc gia” tại Phụ lục 3 của Báo cáo thứ 36 trong Báo cáo kỹ thuật số 902. Hướng dẫn này gồm 4 phần với 19 nguyên tắc, 02 phụ lục ( Phụ lục 1: Mô hình phân tích, báo cáo thử nghiệm đối với hoạt chất, tá dược và các sản phẩm dược phẩm; Phụ lục 2: Danh mục thiết bị cho một phòng kiểm nghiệm dược phẩm giai đoạn đầu và phòng kiểm nghiệm cỡ vừa) Danh mục tự kiểm tra đánh giá “Thực hành tốt phòng kiểm nghiệm dược phẩm quốc gia” gồm 4 phần tương ứng của nguyên tắc này với 291 chỉ báo đánh giá [26]. Để kiểm soát tốt hơn chất lượng thuốc và giúp các quốc gia nâng cao năng lực kiểm nghiệm dược phẩm, năm 2010 WHO đã ban nguyên tắc “Thực hành tốt quản lý phòng kiểm nghiệm dược phẩm” tại Phụ lục 1 của Báo cáo thứ 44 trong Báo cáo kỹ thuật số 957. Hướng dẫn này gồm 4 phần với 21 nguyên tắc, 01 phụ lục (Phụ lục: Danh mục thiết bị cho một phòng kiểm nghiệm dược phẩm giai đoạn đầu và phòng kiểm nghiệm cỡ vừa), thay thế cho “Thực hành tốt phòng kiểm nghiệm dược phẩm quốc gia” ban hành năm 2002 và Danh mục tự đánh giá GLP gồm 4 phần tương ứng với 344 chỉ báo đánh giá. Ngoài ra WHO còn phát triển một hướng dẫn “ Thực hành tốt phòng thí nghiệm dược phẩm vi sinh” riêng cho các phòng thí nghiệm vi sinh (tham chiếu QAS/09, 297) [29]. So với phiên bản trước, GLP năm 2010 nhiều hơn 2 nguyên tắc, và các nguyên tắc trong bộ tiêu chuẩn này đều đã được cập nhật hài hòa với các hệ thống chất lượng của Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế, cụ thể, chi tiết hơn và bao quát hầu hết các hoạt động của phòng thí nghiệm, đòi hỏi yêu cầu cao hơn trên cả hai mặt quản lý và kỹ thuật. Khi đáp 5 ứng được yêu cầu theo hướng dẫn mới, được đánh giá đạt yêu cầu bởi Tổ chức công nhận chất lượng của WHO thì phòng kiểm nghiệm sẽ trở thành phòng kiểm nghiệm tiền đánh giá của WHO, được tham gia vào các dịch vụ kiểm nghiệm của WHO khi có yêu cầu [29]. Sự khác nhau giữa hai lần ban hành được thể hiện qua Bảng 1.1 dưới đây. Bảng 1.1: So sánh tiêu chuẩn Thực hành tốt phòng kiểm nghiệm thuốc của WHO giữa hai phiên bản năm 2002 và năm 2010 Phụ lục 3, Báo cáo thứ 36 trong Báo cáo của WHO No.902,2002 Phụ lục 1, Báo cáo thứ 44 trong Báo cáo của WHO No.957, 2010 Phần 1: Quản lý và cơ sở hạ tầng Phần 1: Quản lý và cơ sở hạ tầng 1 Tổ chức và quản lý 1 Tổ chức và quản lý 2 Hệ thống chất lượng 2 Hệ thống quản lý chất lượng 3 Kiểm soát tài liệu 3 Kiểm soát tài liệu 4 Hồ sơ 4 Hồ sơ 5 Thiết bị xử lý dữ liệu 5 Thiết bị xử lý dữ liệu 6 Nhân sự 6 Nhân sự 7 Cơ sở vật chất 7 Cơ sở vật chất 8 Trang thiết bị, dụng cụ và các thiết bị khác 8 Trang thiết bị, dụng cụ và các thiết bị khác 9 Hợp đồng Phần 2: Vật liệu và lập thiết bị, dụng cụ và các thiết bị khác Phần 2: Vật liệu, thiết bị, dụng cụ và các thiết bị khác 9 Thông số kỹ thuật lưu trữ 10 Hoá chất 10 11 Liên kết chuẩn đo lường 11 12 Hiệu chuẩn, xác nhận và kiểm tra các thiết bị, dụng cụ và các thiết bị khác 12 13 Hồ sơ phân tích thử nghiệm 13 6 Hoá chất Chất đối chiếu và liên kết chuẩn đo lường Hiệu chuẩn, xác minh về hiệu suất và trình độ của các thiết bị, dụng cụ và các thiết bị khác Hồ sơ phân tích thử nghiệm Phần 3: Quy trình làm việc Phần 3: Quy trình làm việc 14 Nhận mẫu 14 Nhận mẫu 15 Phân tích dữ liệu 15 Phân tích dữ liệu 16 Phương pháp phân tích được công nhận 16 Thử nghiệm 17 Thử nghiệm 17 Đánh giá kết quả kiểm tra 18 Đánh giá kết quả kiểm tra 19 Giấy chứng nhận phân tích 20 Lưu mẫu 18 Lưu mẫu Phần 4: An toàn phòng thí nghiệm Phần 4: An toàn phòng thí nghiệm 19 21 Quy tắc chung Quy tắc chung 2.2.3. Tình hình thực hiện GLP trên thế giới. Với sự phát triển và giao lưu thương mại ngày càng mang tính toàn cầu, để hàng hóa lưu thông được chấp nhận ở mọi nơi và mọi quốc gia, đòi hỏi việc đánh giá chất lượng sản phẩm hàng hóa dựa trên những chứng thư kết quả thử nghiệm được công nhận một cách rộng rãi ở tất cả các quốc gia. Hệ thống MAD (Hệ thống chấp nhận dữ liệu lẫn nhau về đánh giá hóa chất của OECD) – một thỏa thuận đa phương cho phép các nước thuộc OECD và các nước không phải là thành viên OECD nếu tự nguyện tham gia sẽ được đảm bảo rằng kết quả thử nghiệm phi lâm sàng ở một nước sẽ được chấp nhận trong tất cả các quốc gia khác ký kết tham gia, điều đó giúp cho hàng hóa được lưu thông thuận lợi, tránh đánh giá hai lần và làm giảm nguy cơ tranh chấp thương mại. Vì vậy những nguyên tắc của Thực hành tốt phòng thí nghiệm đã ngày càng phổ biến ở các nước Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh [25],[27]. Năm 1999, Nam phi là quốc gia đầu tiên không phải là thành viên OECD đăng ký tham gia hệ thống MAD. Tiếp theo đó nhiều nước khác có nền kinh tế khá phát triển cũng tiếp tục đăng ký như: Slovenia, Ấn Độ, Brazil, Israel, Argentina, Thái Lan, Malaysia ... Đến tháng 30/7/2012 đã có 50 nước tham gia “ Thực hành tốt phòng thí nghiệm “ theo tiêu chuẩn GLP của OECD và tham gia hệ thống MAD, danh mục chi tiết thể hiện ở Bảng 1.2 [30]. 7 Bảng 1.2: Các nước tham gia hệ thống MAD của OECD STT QUỐC GIA STT QUỐC GIA 1 Argentina* 26 Lithuania 2 Úc 27 Lúc-xăm-bua 3 Áo 28 Malaysia 4 Bỉ 29 Malta 5 Brazil* 30 Moldova 6 Bulgaria 31 Hà Lan 7 Canada 32 New Zealand 8 Chile 33 Na Uy 9 Trung Quốc 34 Ba Lan 10 Đài Loan 35 Bồ Đào Nha 11 Crô-a-ti-a 36 Cộng hòa Ireland 12 Síp 37 Romania 13 Cộng hòa Séc 38 Nga 14 Đan Mạch 39 Xin-ga-po 15 E-xtô-ni-a 40 Xlô-va-ki-a 16 Phần Lan 41 Slovenia 17 Pháp 42 Nam Phi 18 Đức 43 Hàn Quốc 19 Hy Lạp 44 Tây Ban Nha 20 Hungary 45 Thụy Điển 21 Ấn Độ 46 Thụy Sĩ 22 Israel 47 Thái Lan 23 Ý 48 Thổ Nhĩ Kỳ 24 Nhật Bản 49 Vương Quốc Anh 25 Latvia 50 Hoa Kỳ * Chú ý: tuân thủ đầy đủ cho Argentina và Brazil chỉ áp dụng cho các hóa chất công nghiệp, thuốc trừ sâu và chất diệt sinh vật. Ở Đông Nam Á, trong chương trình hợp tác kỹ thuật dược của các nước thuộc khối ASEAN cũng có nội dung xây dựng GLP-ASEAN, và cuộc họp lần thứ 14 về Hợp 8 tác kỹ thuật ASEAN ở Kuala Lumper tháng 12 năm 1994 đã thông qua văn bản hướng dẫn GLP này với tên là “Hướng dẫn thực hành tốt phòng kiểm nghiệm ASEAN” (ASEAN Good Coltrol Laboratory Practice Guidelines). Văn bản này được xây dựng trên cơ sở tham khảo GLP của WHO 1984, GLP của FDA Hoa Kỳ, Anh Quốc, OECD và của ISO/IEC Guide 25 đã có vào khoảng thời gian này. Phạm vi áp dụng của nó là các phòng kiểm nghiệm thuốc phục vụ quản lý nhà nước, các phòng kiểm nghiệm của doanh nghiệp dược và cả các phòng kiểm nghiệm thuốc phục vụ theo hợp đồng [21]. 2.3. Thực trạng việc quản lý chất lượng thuốc và thực hiện “Thực hành tốt phòng kiểm nghiệm thuốc – GLP“ tại Việt Nam đến năm 2012. 2.3.1. Một vài nét về quản lý chất lượng thuốc tại Việt Nam. Ngay từ khi thành lập, ngành y tế nước ta đã hết sức quan tâm đến phát triển hệ thống ngành nói chung và hệ thống quản lý chất lượng thuốc nói riêng: Nghiệp vụ dược, Thanh tra dược, Kiểm nghiệm thuốc từ trung ương đến cơ sở. Hệ thống văn bản pháp qui ngày một toàn diện trong lĩnh vực quản lý chất lượng nói chung và ngành dược nói riêng: Luật Dược (2005), Nghị định 79/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Dược ra đời đã tạo ra một hành lang pháp lý cho tất cả người dân, các thành phần kinh tế hiểu về quyền và nghĩa vụ của mình, từ đó tạo điều kiện để các thành phần kinh tế yên tâm tham gia vào đầu tư, tập trung các nguồn lực để phát triển ngành dược [13],[17]. Theo cam kết gia nhập WTO, đến cuối năm 2010 các doanh nghiệp dược Việt Nam đều phải đạt tiêu chuẩn của WTO về chất lượng sản xuất (GMP-WHO), sau thời hạn đó các doanh nghiệp không đạt tiêu chuẩn sẽ buộc phải ngừng sản xuất. Đến hết năm 2011, cả nước có 109 cơ sở sản xuất thuốc và 4 cơ sở sản xuất vắc xin đạt tiêu chuẩn GMP, và đến tháng 9/2012 có thêm 01 cơ sở sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn GMP. Năm 2011, trị giá thuốc sản xuất trong nước đạt 1.140 triệu USD, chiếm 46,86% tổng trị giá tiền thuốc sử dụng [10],[11]. Trong giai đoạn hiện nay, sự hội nhập và toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, do đó ngành dược Việt Nam có nhiều cơ hội để phát triển và lớn mạnh. Do có sự tiếp thu những thành tựu khoa học mới nên mặt hàng thuốc đăng ký lưu hành ngày càng đa dạng về chủng loại hoạt chất, ngày càng có nhiều thuốc có nguồn gốc sinh học, dược 9 chất phóng xạ, ngày càng nhiều dạng bào chế mới (hệ trị liệu qua da, thuốc giải phóng có kiểm soát..), có nhiều dạng thuốc được bào chế bằng công nghệ cao (công nghệ nano, liposome...) phong phú đa dạng, chất lượng cao được đưa vào lưu hành trên thị trường. Tuy nhiên trên thực tế vẫn còn một số nhà sản xuất, công ty kinh doanh thuốc chữa bệnh vì lợi nhuận vẫn bất chấp mọi qui định, pháp luật của nhà nước đưa ra ngoài thị trường nhiều thuốc chữa bệnh kém chất lượng, thuốc giả, thuốc không được phép lưu hành nên công tác kiểm tra chất lượng thuốc cũng phức tạp hơn [11],[22]. Theo cảnh báo của Tổ chức Y tế thế giới và thực tế ở Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, thuốc giả có chiều hướng ra tăng và diễn biến phức tạp. Thuốc giả được làm tinh vi hơn, nếu bằng cảm quan rất khó phát hiện. Thuốc giả trước đây thường phát hiện ở vùng sâu, vùng xa, nhưng hiện nay thuốc giả được phát hiện cả ở thành phố và khu đô thị lớn, thậm chí thuốc giả đã được phát hiện ngay trong bệnh viện [11]. Tình hình thuốc không đạt chất lượng ở nước ta qua mẫu lấy để kiểm tra chất lượng qua các năm 2007 – 2011 được thể hiện ở Bảng 1.3. [22] Bảng 1.3: Tỷ lệ thuốc không đạt chất lượng qua các năm 2007 – 2011 Năm Thuốc sản xuất trong nước Mẫu không đạt TCCL Số Thuốc nhập khẩu Mẫu không đạt TCCL Số lượng Số Tỷ lệ lượng (%) lượng Số lượng Tỷ lệ (%) 2007 23.150 706 3,05 2.310 133 2008 25.320 744 2,94 4.170 2009 28.433 912 3,21 2010 28.672 849 2011 29.041 796 Tổng số mẫu thuốc kiểm nghiệm Mẫu không đạt TCCL Số lượng Số lượng Tỷ lệ (%) 5,76 25.460 839 3,30 96 2,30 29.490 840 2,85 3.109 139 4,47 31.542 1.051 3,33 2,96 3.641 159 4,37 32.313 1.008 3,12 2,74 4.467 144 3,22 33.508 940 2,81 Tỷ lệ thuốc đông dược không đạt chất lượng qua mẫu lấy để kiểm tra chất lượng qua các năm 2007 – 2011 được thể hiện ở Bảng 1.4. [22] 10
- Xem thêm -