Phân tích thực trạng sử dụng thuốc theo danh mục thuốc tại khoa Sản bệnh lý bệnh viện Phụ sản TƯ

  • Số trang: 119 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 40 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

BỘ Y TẾ TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI LẠI THỊ HỒNG TƢƠI PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC THEO DANH MỤC THUỐC TẠI KHOA SẢN BỆNH LÝ BỆNH VIỆN PHỤ- SẢN TRUNG ƢƠNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ HÀ NỘI – 2015 BỘ Y TẾ TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI LẠI THỊ HỒNG TƢƠI PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC THEO DANH MỤC THUỐC TẠI KHOA SẢN BỆNH LÝ BỆNH VIỆN PHỤ - SẢN TRUNG ƢƠNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ Ngƣời hƣớng dẫn: 1. Ths.Cao Thị Bích Thảo 2. ThS. Trần Thị Thanh Hà Nơi thực hiện: 1. Bộ môn Dƣợc Lâm Sàng Trƣờng Đại học Dƣợc Hà Nội 2. Bệnh viện Phụ - Sản Trung Ƣơng HÀ NỘI – 2015 LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới hai người thầy: Ths. Trần Thị Thanh Hà – Trưởng khoa Dược bệnh viện Phụ sản Trung ương và Ths. Cao Thị Bích Thảo – Bộ môn Dược Lâm Sàng trường Đại học Dược Hà Nội đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo, động viên tôi trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới tất cả các thầy cô giáo tại bộ môn Dược Lâm Sàng trường Đại học Dược Hà Nội, những người thầy luôn ở bên lắng nghe, chia sẻ cùng tôi những khó khăn trong quá trình làm khóa luận. Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới bệnh viện Phụ sản Trung Ương, toàn thể các dược sĩ tại khoa Dược, các bác sĩ, y tá, cán bộ công nhân viên tại khoa Sản bệnh lý đã nhiệt tình chỉ bảo và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu. Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu, các phòng ban, các thầy cô giáo và cán bộ nhân viên trường Đại học Dược Hà Nội đã dạy bảo và giúp đỡ tôi trong suốt 5 năm học tập tại trường. Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, các anh chị, bạn bè đã luôn ở bên, chia sẻ, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận. Hà Nội, ngày 14 tháng 5 năm 2015 Sinh viên Lại Thị Hồng Tƣơi MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ ______________________________________________________1 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN __________________________________________2 1.1. Danh mục thuốc bệnh viện _______________________________________2 1.1.1. Khái niệm danh mục thuốc bệnh viện ___________________________2 1.1.2. Xây dựng DMT bệnh viện ____________________________________2 1.2. Các phương pháp phân tích DMT __________________________________3 1.2.1. Phương pháp phân tích ABC __________________________________4 1.2.2. Phương pháp phân tích VEN __________________________________6 1.2.3. Phương pháp phân tích ma trận ABC/VEN _______________________8 1.2.4. Tổng quan các nghiên cứu phân tích DMT _______________________9 1.3. Một số bệnh lý phổ biến trong sản khoa ____________________________16 1.3.1. Tăng huyết áp thai kì và tiền sản giật___________________________16 1.3.2. Dọa đẻ non _______________________________________________17 1.3.3. Thai lưu _________________________________________________18 1.3.4. Rau tiền đạo ______________________________________________18 1.3.5. Rau cài răng lược __________________________________________18 1.3.6. Đái tháo đường ____________________________________________19 CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU _________20 2.1. Đối tượng nghiên cứu __________________________________________20 2.2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu _____________________________20 2.2.1. Phân tích ABC danh mục thuốc _______________________________20 2.2.2. Phân tích VEN danh mục thuốc _______________________________21 2.2.3. Phân tích ma trận ABC/VEN _________________________________23 2.3. Các chỉ tiêu nghiên cứu _________________________________________23 2.3.1. Phân tích ABC ____________________________________________23 2.3.2. Phân tích VEN ____________________________________________24 2.3.3. Phân tích ABC/VEN _______________________________________24 2.4. Phương pháp xử lý số liệu _______________________________________24 CHƢƠNG 3. THỰC NGHIỆM, KẾT QUẢ ____________________________25 3.1. Phân tích ABC danh mục thuốc __________________________________25 3.1.1. Tỷ lệ giá trị các nhóm thuốc__________________________________25 3.1.2. Phân loại ABC DMT theo tên thương mại và tên hoạt chất _________27 3.1.3. Các thuốc nhóm A và B theo tên thương mại trong DMT __________27 3.1.4. Các thuốc nhóm A, B theo tên hoạt chất trong DMT ______________29 3.2. Phân tích VEN danh mục thuốc __________________________________30 3.2.1. Tỷ lệ các bệnh phổ biến tại khoa Sản bệnh lý ____________________30 3.2.2. Thuốc điều trị các bệnh phổ biến sau khi xin ý kiến _______________31 3.2.3. Tổng hợp thông tin các thuốc trong DMT được BTY cảnh báo ______33 3.2.4. Tỷ lệ các thuốc trong khoa nằm trong một số DMT của BYT và BV __34 3.2.5. Phân loại thuốc vào các nhóm V, E, N _________________________35 3.3. Phân tích ma trận ABC/VEN ____________________________________37 3.3.1. Ma trận ABC/VEN _________________________________________37 3.3.2. Số lượng và % giá trị các nhóm I, II, III trong phân tích ABC/VEN __37 3.3.3. Các thuốc V, E, N trong nhóm A, B (theo hoạt chất) ______________38 CHƢƠNG 4. BÀN LUẬN ___________________________________________40 4.1. Kết quả phân tích ABC _________________________________________40 4.2. Phân tích VEN và ABC/VEN ____________________________________41 4.2.1. Kết quả phân tích __________________________________________41 4.2.2. Phương pháp phân tích VEN _________________________________45 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ________________________________________48 Kết luận ________________________________________________________48 Kiến nghị _______________________________________________________48 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT ABC Phương pháp phân tích tương quan giữa lượng tiêu thụ và chi phí BV Bệnh viện BYT Bộ Y tế DMT Danh mục thuốc HDĐT Hướng dẫn điều trị HĐT&ĐT Hội đồng thuốc và điều trị ICD - 10 IUI IVF VEN VED WHO Bảng phân loại bệnh quốc tế bệnh (The International Classification of Diseases) Bơm tinh trùng vào buồng tử cung (Intrauterine inseminations) Kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (In vitro fertilization) Sống còn, thiết yếu, không thiết yếu (Vital, essential, non – essential) Sống còn, thiết yếu, kỳ vọng (Vital, essential, desirable) Tổ chức y tế thế giới (World Health Organization) DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1. Kết quả phân tích ma trận ABC/VEN ........................................................9 Bảng 1.2. Mức độ kiểm soát đối với từng nhóm A, B, C trong nghiên cứu .............10 Bảng 1.3. Kết quả một số nghiên cứu phân tích ABC/VED .....................................13 Bảng 1.4. Bảng hướng dẫn phân loại VEN trong nghiên cứu BV Vĩnh Tường ......14 Bảng 1.5. Tiêu chí phân loại VEN trong 2 nghiên cứu của Huỳnh Hiền Trung (2012) và Hoàng Thị Minh Hiền (2012) ...................................................................15 Bảng 1.6. Các yếu tố nguy cơ của tiền sản giật .......................................................17 Bảng 2.1. Kết quả phân tích ma trận ABC/VEN ......................................................23 Bảng 3.1. Tỷ lệ giá trị của các nhóm thuốc trong danh mục ....................................25 Bảng 3.2. Phân loại ABC danh mục thuốc theo tên thương mại và hoạt chất ..........27 Bảng 3.3. Các thuốc nhóm A, B theo tên thương mại ..............................................28 Bảng 3.4. Các thuốc nhóm A, B theo tên hoạt chất ..................................................29 Bảng 3.5. Các bệnh phổ biến của khoa Sản bệnh lý – Bệnh viện Phụ sản Trung Ương năm 2014 .........................................................................................................30 Bảng 3.6. Đặc điểm phiếu xin ý kiến và kết quả xin ý kiến .....................................32 Bảng 3.7. Các văn bản của BYT liên quan đến thuốc trong DMT của khoa ............33 Bảng 3.8. Tỷ lệ, % giá trị các thuốc nằm trong DMT thiết yếu, DMT thuốc chủ yếu, DMT bệnh viện..................................................................................................34 Bảng 3.9. Tỷ lệ các thuốc được phân loại VEN các thuốc theo từng chuyên gia .....35 Bảng 3.10. Mức độ đồng thuận của chuyên gia khi phân loại VEN .........................35 Bảng 3.11. Kết quả phân loại V, E, N các thuốc trong DMT khoa Sản I ..................36 Bảng 3.12. Các thuốc chưa phân loại được V, E, N ..................................................37 Bảng 3.13. Số lượng và % giá trị các nhóm trong phân tích gộp ABC/VEN ...........37 Bảng 3.14. Số lượng và % giá trị các nhóm I, II, III trong phân tích ABC/VEN .....38 Bảng 3.15. Kết quả phân loại các thuốc V, E, N trong nhóm A, B ...........................38 DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ Hình 3.1. Tỷ lệ các phân nhóm trong nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn ...................26 Hình 3.2. Tỷ lệ giá trị các phân nhóm trong nhóm thuốc tác dụng đối với máu ....26 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Phân tích ABC/VEN là phương pháp hữu ích đã được tổ chức y tế thế giới (WHO) khuyến cáo sử dụng trong xây dựng danh mục thuốc và quản lý sử dụng thuốc theo danh mục [50]. Tuy nhiên phương pháp này hầu như chưa được áp dụng tại Việt Nam. Theo một nghiên cứu đánh giá hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị (HĐT&ĐT) trong xây dựng và thực hiện danh mục thuốc vào năm 2012 tại 5 bệnh viện (BV) tuyến trung ương, 14 BV tuyến tỉnh và 17 BV tuyến huyện thì chỉ có 1 BV tuyến tỉnh đã tiến hành phân tích ABC/VEN [13]. Sau khi Bộ y tế ban hành Thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 8/8/2013 qui định về tổ chức và hoạt động của HĐT&ĐT trong BV, có quy trình hướng dẫn các bước để tiến hành phân tích ABC/VEN thì các BV bắt đầu nghiên cứu áp dụng phương pháp này [10]. Theo hướng dẫn trong Thông tư này thì phân tích ABC/VEN cần dựa trên tổng kết về mô hình bệnh tật và hướng dẫn điều trị chuẩn. Năm 2014, BV Phụ sản Trung Ương bắt đầu nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích này, trước tiên thí điểm ở khoa Phụ ung thư, kết quả là xác định được các thuốc chiếm tỷ lệ giá trị cao (nhóm A, B) trong đó docetaxel là thuốc chiếm tỷ lệ giá trị cao nhất (43,1%), 3 thuốc không thiết yếu (N) nhưng thuộc nhóm A, B là glutathion, acridon acetic acid + n – methylglucamin và n - methylglucamin. Tuy nhiên, việc phân loại VEN trong nghiên cứu này chưa được thông qua Hội đồng thuốc của BV. Trong năm 2015, BV tiếp tục thí điểm ở khoa Sản bệnh lý để hoàn thiện phương pháp. Đây là lí do chúng tôi tiến hành đề tài: “Phân tích tình hình sử dụng thuốc theo danh mục thuốc tại khoa Sản bệnh lý bệnh viện Phụ sản Trung ương” với mục tiêu nghiên cứu là: 1. Phân tích ABC, VEN, ABC/VEN danh mục thuốc tại khoa Sản bệnh lý – BV Phụ Sản Trung Ương năm 2014. 2 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN 1.1. Danh mục thuốc bệnh viện 1.1.1. Khái niệm danh mục thuốc bệnh viện Danh mục thuốc (DMT) là danh sách các thuốc được sử dụng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe, các bác sĩ sẽ kê đơn các thuốc nằm trong danh mục này [47]. DMT của BV là một danh sách các thuốc đã được lựa chọn, phê duyệt để sử dụng trong bệnh viện [13]. 1.1.2. Xây dựng DMT bệnh viện 1.1.2.1 Nguyên tắc xây dựng DMT bệnh viện Một trong những nhiệm vụ quan trọng của HĐT&ĐT là đánh giá và chọn lọc thuốc vào DMT bệnh viện[50]. Theo hướng dẫn của Thông tư số 21/2013/TT-BYT của Bộ y tế [10], thuốc được chọn vào DMT trong BV nên dựa trên các nguyên tắc sau:  Bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều trị trong bệnh viện;  Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật;  Căn cứ vào các hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã được xây dựng và áp dụng tại bệnh viện hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;  Đáp ứng với các phương pháp mới, kỹ thuật mới trong điều trị  Thống nhất với danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu do Bộ Y tế ban hành;  Ưu tiên thuốc sản xuất trong nước; 1.1.2.2 Các bƣớc xây dựng DMT bệnh viện Theo thông tư số 21/2013/TT-BYT của Bộ Y tế [10] thì các bước xây dựng DMT được tiến hành như sau: 3  Thu thập, phân tích tình hình sử dụng thuốc năm trước về số lượng và giá trị sử dụng, phân tích ABC/VEN, thuốc kém chất lượng, thuốc hỏng, các phản ứng có hại của thuốc, các sai sót trong điều trị dựa trên các nguồn thông tin đáng tin cậy;  Đánh giá các thuốc đề nghị bổ sung hoặc loại bỏ từ các khoa lâm sàng một cách khách quan;  Xây dựng danh mục thuốc và phân loại các thuốc trong danh mục theo nhóm điều trị và theo phân loại VEN;  Xây dựng các nội dung hướng dẫn sử dụng danh mục (ví dụ như: thuốc hạn chế sử dụng, thuốc cần hội chẩn, thuốc gây nghiện, hướng tâm thần,…) DMT sẽ không có giá trị trừ khi có chính sách và hướng dẫn sử dụng danh mục thuốc kèm theo. Hướng dẫn này nên bao gồm [50]:  Những ai nên sử dụng danh mục này (cả người kê đơn và bộ phận mua sắm)  Danh mục này nên được đánh giá và cập nhật như thế nào  Cơ chế rõ ràng trong trường hợp thêm hoặc bỏ một thuốc từ danh mục  Nhân viên y tế có thể yêu cầu một thuốc nằm ngoài danh mục trong trường hợp khẩn cấp hoặc được chấp nhận thì như thế nào.  Sau khi xây dựng DMT định kỳ hằng năm đánh giá, sửa đổi, bổ sung danh mục thuốc. 1.2. Các phƣơng pháp phân tích DMT Theo hướng dẫn của WHO năm 2004 [50], có 4 phương pháp để giải quyết các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc tại BV mà HĐT&ĐT nên áp dụng thường xuyên, đó là:  Phƣơng pháp tổng hợp dữ liệu: Các dữ liệu tổng hợp được không liên quan đến từng cá thể bệnh nhân, và dữ liệu có thể thu thập một cách tương đối dễ dàng. Các phương pháp cụ thể như phân tích ABC, phân tích VEN, 4 phương pháp DDD (là phương pháp liều xác định hàng ngày) được sử dụng để xác định những vấn đề lớn liên quan đến sử dụng thuốc.  Phƣơng pháp thu thập thông tin ở cấp độ cá thể các bệnh nhân: dùng để nghiên cứu các chỉ số liên quan đến thuốc, những thông tin này có thể được thu thập từ những người không kê đơn và được sử dụng để xác định các vấn đề sử dụng thuốc, chăm sóc bệnh nhân, đánh giá các can thiệp cải thiện các vấn đề được xác định. Tuy nhiên phương pháp thu thập này thường không đủ thông tin để đánh giá việc sử dụng thuốc phù hợp với chẩn đoán.  Các phƣơng pháp định tính: tập trung thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu, xây dựng bộ câu hỏi, là những phương pháp hữu ích để xác định vấn đề sử dụng thuốc.  Phân tích chi tiết các dữ liệu trên từng các thể bệnh nhân: Đánh giá sử dụng thuốc là một hệ thống đánh giá dựa trên các tiêu chí liên tục của việc sử dụng thuốc, đảm bảo việc sử dụng thuốc thích hợp với từng cấp độ bệnh nhân. Để phát hiện các vấn đề lớn liên quan đến thuốc nhằm quản lý tốt danh mục thuốc thì phương pháp phân tích ABC, VEN là phương pháp hữu ích [50]. 1.2.1. Phƣơng pháp phân tích ABC 1.2.1.1 Khái niệm phân tích ABC Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong chi phí dành cho thuốc của bệnh viện [10, 50]. 1.2.1.2 Các bƣớc thực hiện Theo thông tư số 21/2013/TT-BYT của BYT [10] phân tích ABC được tiến hành qua các bước sau: Bước 1. Liệt kê các sản phẩm thuốc 5 Bước 2. Điền các thông tin về đơn giá và số lượng tiêu thu củamỗi sản phẩm thuốc: Bước 3. Tính số tiền cho mỗi sản phẩm bằng cách nhân đơn giá với số lượng sản phẩm. Tổng số tiền sẽ bằng tổng của lượng tiền cho mỗi sản phẩm thuốc. Bước 4. Tính giá trị phần trăm của mỗi sản phẩm bằng cách lấy số tiền của mỗi sản phẩm thuốc chia cho tổng số tiền. Bước 5. Sắp xếp lại các sản phẩm theo thứ tự phần trăm giá trị giảm dần. Bước 6. Tính giá trị phần trăm tích lũy của tổng giá trị cho mỗi sản phẩm; bắt đầu với sản phẩm số 1, sau đó cộng với sản phẩm tiếp theo trong danh sách. Bước 7. Phân hạng sản phẩm như sau:  Hạng A: Gồm những sản phẩm chiếm 75 - 80% tổng giá trị tiền;  Hạng B: Gồm những sản phẩm chiếm 15 – 20% tổng giá trị tiền;  Hạng C: Gồm những sản phẩm chiếm 5 – 10% tổng giá trị tiền; Bước 8. Thông thường, sản phẩm hạng A chiếm 10 – 20% tổng số sản phẩm, hạng B chiếm 10 – 20% và còn lại là hạng C chiếm 60 – 80%. Bước 9. Kết quả thu được có thể trình bày dưới dạng đồ thị bằng cách đánh dấu phần trăm của tổng giá trị tích lũy vào cột dọc hay trục tung của đồ thị và số sản phẩm (tương đương giá trị tích lũy này) trên cột ngang hay trục hoành của đồ thị. 1.2.1.3 Vai trò và ý nghĩa của phân tích ABC Phân tích ABC chỉ ra các thuốc được sử dụng nhiều mà thuốc thay thế có giá thấp hơn, sẵn có trong danh mục hoặc trên thị trường. Kết quả phân tích ABC còn có thể được sử dụng để lựa chọn những thuốc thay thế có chỉ số chi phí – hiệu quả cao hơn, xác định các liệu pháp điều trị thay thế, hoặc đàm phán mức giá thấp hơn với các đơn vị cung cấp [50]. Phân tích ABC còn giúp đo lường mức độ tiêu thụ, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe cộng đồng, vì vậy có thể dự đoán việc sử dụng thuốc bất hợp lý thông qua lượng thuốc tiêu thụ và mô hình bệnh tật [50]. 6 Bên cạnh đó phân tích ABC có thể xác định việc mua sắm cho các thuốc không nằm trong danh mục thuốc thiết yếu của bệnh viện ví dụ như các thuốc không nằm trong DMT bảo hiểm chi trả [50]. Sau khi hoàn thành phân loại A, B, C cần kiểm tra lại từng thuốc, đặc biệt là các thuốc nhóm A, thay thế các thuốc không có trong DMT bảo hiểm và các thuốc đắt tiền bằng các thuốc rẻ hơn mà hiệu quả điều trị tương đương [50]. Tóm lại, ưu điểm của phân tích ABC là có thể xác định các thuốc chiếm chi phí lớn, tuy nhiên nhược điểm lớn nhất của phương pháp phân tích này là không cung cấp thông tin để có thể so sánh các thuốc về sự khác biệt hiệu quả điều trị [50]. 1.2.2. Phƣơng pháp phân tích VEN 1.2.2.1 Khái niệm phân tích VEN Phân tích VEN là phương pháp giúp xác định ưu tiên cho hoạt động mua sắm và tồn trữ thuốc trong bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ để mua toàn bộ các loại thuốc như mong muốn. Theo như thông tư 21/2013/TT-BYT của Bộ y tế thì trong phân tích VEN, các thuốc được phân chia thành 3 hạng mục cụ thể như sau [10]  Thuốc V (Vital drugs) – là thuốc dùng trong các trường hợp cấp cứu hoặc các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện.  Thuốc E (Essential drugs) – là thuốc dùng trong các trường hợp bệnh ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong mô hình bệnh tật của bệnh viện.  Thuốc N (Non – Essential drugs) – là thuốc dùng trong các trường hợp bệnh nhẹ, bệnh có thể tự khỏi, có thể bao gồm các thuốc mà hiệu quả điều trị còn chưa được khẳng định rõ ràng hoặc giá thành cao không tương xứng với lợi ích lâm sàng của thuốc [10]. 7 1.2.2.2 Các bƣớc thực hiện phân tích VEN Phân tích VEN được tiến hành sau khi thành lập một hội đồng đánh giá, bao gồm các bước sau: Bước 1. Từng thành viên Hội đồng sắp xếp các nhóm thuốc theo 3 loại V, E và N. Bước 2. Kết quả phân loại của các thành viên được tập hợp và thống nhất, sau đó, Hội đồng sẽ: Bước 3. Lựa chọn và giới hạn những phương án điều trị trùng lặp. Bước 4. Xem xét những thuốc thuộc nhóm N và hạn chế mua hoặc loại bỏ những thuốc này trong trường hợp không còn nhu cầu điều trị. Bước 5. Xem lại số lượng mua dự kiến, mua các thuốc nhóm V và E trước nhóm N và bảo đảm thuốc nhóm V và E có một lượng dự trữ an toàn. Bước 6. Giám sát đơn đặt hàng và lượng tồn kho của nhóm V và E chặt chẽ hơn nhóm N [10] [50]. 1.2.2.3 Vai trò và ý nghĩa của phân tích VEN Đôi khi ngân sách không đủ để mua tất cả các loại thuốc mong muốn, vì vậy phân tích VEN là một phương pháp đặc biệt giúp nhà quản lý đưa ra ưu tiên trong việc mua sắm và dự trữ thuốc [50]. Việc phân loại các thuốc vào các nhóm “N” khá dễ dàng, trong khi đó rất khó để phân loại thuốc vào các nhóm “V” và “E”. Đôi khi người ta phân loại thành thuốc thiết yếu và thuốc không thiết yếu. Tuy nhiên điều này không quan trọng, miễn là xác định rõ ràng các nhóm điều trị và các thuốc được ưu tiên sử dụng trong các nhóm này [50]. Kết quả của phân tích VEN giúp xây dựng chính sách ưu tiên cho việc lựa chọn, mua thuốc và sử dụng trong quản lý hàng tồn kho. Cụ thể như sau: Về lựa chọn thuốc: Các thuốc V, E nên được ưu tiên lựa chọn, đặc biệt khi ngân sách hạn hẹp. 8 Về mua sắm thuốc: Các thuốc V, E cần phải được kiểm soát thường xuyên khi đặt hàng, nếu ngân sách hạn hẹp thì việc sử dụng phân tích VEN được dùng để đảm bảo số lượng các thuốc V, E phải được mua đầy đủ trước tiên. Sau khi tiến hành phân tích sẽ chỉ chọn những nhà cung cấp đáng tin cậy để mua các thuốc V, E; với những nhà cung cấp mới có thể thử kí hợp đồng các thuốc N. Về sử dụng thuốc: từ kết quả phân tích VEN giúp đưa ra kiến nghị sử dụng các thuốc V, E, xem xét lại vấn đề nếu sử dụng quá nhiều thuốc N. Về dự trữ thuốc: chú ý đặc biệt đối với các thuốc V, E để tránh hết kho. Về phân công lao động: những thuốc V, E nên được giao cho những nhân viên có nhiều kinh nghiệm quản lý [31]. 1.2.3. Phƣơng pháp phân tích ma trận ABC/VEN 1.2.3.1 Khái niệm Khi phân tích VEN đã được thực hiện thì nên kết hợp với phân tích ABC để xác định mối quan hệ giữa các thuốc chi phí cao nhưng có mức độ ưu tiên thấp, đặc biệt là hạn chế hoặc xóa bỏ các thuốc nhóm “N” nhưng lại có chi phí cao ở nhóm “A” trong phân tích ABC [50]. Sự kết hợp phân tích VEN và ABC sẽ tạo thành ma trận ABC/VEN. 1.2.3.2 Phƣơng pháp tiến hành Kết quả phân tích VEN, ABC được đưa vào bảng ma trận ABC/VEN như bảng 1.1. Kết quả phân tích ma trận ABC/VEN cho 3 nhóm như sau:  Nhóm I: gồm AV, BV, CV, AE, AN  Nhóm II: gồm BE, CE, BN  Nhóm III: gồm CN [24] [48] [30, 41]. 9 Bảng 1.1. Kết quả phân tích ma trận ABC/VEN Nhóm A B C V AV BV CV E AE BE CE N AN BN CN *Ghi chú: Chữ cái đầu tiên biểu thị vị trí trong phân nhóm ABC, chữ cái thứ hai biểu thị vị trí trong phân nhóm VEN. 1.2.3.3 Ý nghĩa Từ kết quả phân tích ma trận ABC/VEN đưa ra các nhóm I, II, III với các mức độ giám sát khác nhau. Nhóm I là nhóm cần nhiều ngân sách hoặc cần cho điều trị nên yêu cầu giám sát chặt, nhóm II và nhóm III thì giám sát với mức độ thấp hơn [30]. Đối với những thuốc “N” mà có chi phí lớn, nằm trong nhóm A của phân tích ABC, cần xem xét hạn chế sử dụng hoặc xóa bỏ khỏi danh mục [50]. 1.2.4. Tổng quan các nghiên cứu phân tích DMT 1.2.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới Phân tích ABC được mô tả lần đầu vào năm 1951 bởi H.Ford Dickie [20]. Tuy nhiên, các cơ sở phân tích ABC này được thành lập dựa trên các nguyên tắc Pareto, và đường cong Lorenz [39]. Trước đó, Vilfredo Pareto là người đầu tiên đưa ra học thuyết 80/20, nghĩa là trong nhiều sự kiện, khoảng 80% kết quả là do 20% nguyên nhân gây ra. Pareto phát hiện ra học thuyết này nhờ các quan sát thấy rằng 80% đất ở Ý là thuộc sở hữu của 20% dân số. Đường cong Lorenz là một loại đồ thị biểu diễn mức độ bất bình đẳng trong phân phối [39]. Nhờ học thuyết Pareto và nghiên cứu khởi đầu này đã đưa phân tích ABC dần trở thành công cụ đơn giản, quan trọng trong quản lý doanh nghiệp. Trong ngành Dược phân tích ABC cũng đã được ứng dụng nhiều tại các BV trên khắp thế giới. Một phân tích ABC đã được tiến hành tại một cửa hàng thuốc trong năm 1989 [23]. Kết quả phân tích cho thấy nhóm A gồm 20% số lượng thuốc 10 (90 thuốc) chiếm tới 75,94% giá trị tiêu thụ, nhóm B gồm 30% số lượng thuốc (130 thuốc) chiếm 18,84% giá trị tiêu thụ, nhóm C gồm 50% số lượng thuốc (217 thuốc) chỉ chiếm 5,22% giá trị tiêu thụ. Dựa trên kết quả nghiên cứu họ đã tiến hành các mức độ kiểm soát khác nhau đối với từng nhóm A, B, C như bảng 1.2 Bảng 1.2. Mức độ kiểm soát đối với từng nhóm A, B, C trong nghiên cứu[23] Nhóm A Kiểm soát rất chặt chẽ Không dự trữ an toàn Đặt hàng thường xuyên, giao hàng hàng tuần Báo cáo hàng tuần Nhập nhiều nguồn nhất có thể Vào sổ theo từng thuốc Phải được quản lí bởi nhân viên cấp cao Nhóm B Kiểm soát trung bình Dự trữ an toàn thấp 3 tháng 1 lần đặt hàng -giao hàng Báo cáo hàng tháng 2 hoặc nhiều nguồn đáng tin cậy Vào sổ theo 1 nhóm nhỏ Có thể quản lí bởi nhân viên trung bình Nhóm C Kiểm soát lỏng Dự trữ an toàn cao 6 tháng 1 lần đặt hàng – giao hàng Báo cáo hàng quý 2 nguồn đáng tin cậy cho mỗi hàng hóa Vào sổ theo cả nhóm Có thể quản lí hoàn toàn bởi người được giao phó Nhóm nghiên cứu nhận thấy bằng cách chú trọng quản lí các thuốc trong nhóm A, các nhà quản lí có thể kiểm soát tồn kho và thấy kết quả trong thời gian ngắn [23]. Với phân tích VEN và ABC/VEN, có rất ít các nghiên cứu được công bố. Năm 2010 một phân tích ABC/VEN đã được tiến hành tại một BV ở Indonesia. Về phương pháp nghiên cứu, dữ liệu về số lượng tiêu thụ và đơn giá thuốc trong năm 2010 được thu thập tại mỗi kho chứa riêng, sắp xếp thành một danh sách thuốc sử dụng trong năm đó, tính phần trăm tích lũy giá trị và phân loại A,B,C theo hoạt chất. Với phân tích VEN theo hoạt chất, nhóm nghiên cứu đã sử dụng công cụ là danh sách thuốc thiết yếu của Indonesia với tên gọi DOEN 2008 [32] và tham khảo ý kiến của các chuyên gia. Kết quả phân tích 347 hoạt chất cho thấy chưa tới 10% số 11 lượng hoạt chất có giá trị tiêu thụ khoảng 80% chi phí thuốc. Nhóm phân tích đã đưa ra số liệu phân tích VEN của các hoạt chất trong nhóm A: có 13 hoạt chất nằm trong nhóm N, chiếm tới 39,6% chi phí, có nhiều hoạt chất nằm trong nhóm N nhưng có thứ hạng cao trong nhóm A như paklitaksel (hạng 2), meropenem (hạng 3), cefotaxime (hạng 7), ketorolak (hạng 8), sefoflurane (hạng 9). Cuối cùng nhóm nghiên cứu đã đưa ra khuyến nghị với lãnh đạo bệnh viện nhằm quản lí và sử dụng thuốc có hiệu quả là đối với 13 thuốc thuốc nhóm VN cần thực hiện phân tích sâu hơn, BV cần xây dựng hướng dẫn điều trị chuẩn để phân tích VEN dễ dàng và chính xác hơn [38]. Để phân tích tính sống còn, thiết yếu của các thuốc trong danh mục, chúng tôi tìm thấy phần lớn là phân loại thuốc theo VED, chủ yếu được thực hiện trên danh mục thuốc của nhà thuốc BV. Nhóm các tiêu chí phân loại VED có trong các nghiên cứu là: (1) V là thuốc cần cho sự sống của bệnh nhân và phải có sẵn ở mọi thời điểm, E là thuốc mà mức độ cần thiết ít hơn, tuy nhiên vẫn nên có sẵn trong bệnh viện, còn thuốc D là thuốc mà nếu thiếu thì không ảnh hưởng tới sức khỏe bệnh nhân [48] [24] [21] [37], (2) V là những thuốc phải có sẵn trong vòng 1h để cứu sống bệnh nhân, E là những thuốc thiết yếu để điều trị cho bệnh nhân nhưng sự thiếu hụt trong thời gian ngắn có thể được chấp nhận, D là những thuốc mà tính sẵn có của chúng không ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe bệnh nhân [41]. Dựa trên những tiêu chí trên, để tiến hành phân loại VED các nghiên cứu cũng có nhiều cách thức thực hiện. (1) trong nghiên cứu năm 2003 tại cửa hàng thuốc BV Ấn Độ, danh mục thuốc gồm 325 thuốc đã được gửi tới 10 nhân viên y tế bao gồm bác sĩ, bác sĩ phẫu thuật, bác sĩ phụ khoa, bác sĩ gây mê, nhà bệnh lý học, bác sĩ nhi và 4 cán bộ y tế khác để họ phân loại vào các nhóm V, E, D; nếu có trên 50% thành viên hội đồng đồng thuận thì thuốc đó sẽ được phân hạng [24]. (2) trong nghiên cứu năm 2005 cũng tại Ấn Độ, nhóm nghiên cứu đã gửi danh sách 348 thuốc cho khoa Dược BV và yêu cầu phân loại VED [48]. (3) Như nghiên cứu năm 2006 tại BV Kolaghat 12 Thermal Power, Bengal và nghiên cứu năm 2007 tại BV đại học Kerala, Ấn Độ thì danh mục các thuốc được gửi cho các bác sĩ bệnh viện phân loại [41] [21]. Sau khi đã tiến hành phân tích ABC, VED, các nghiên cứu tiếp tục tiến hành phân tích ma trận ABC/VEN cho các nhóm I, II, III [24] [48] [41] [37] [51] hoặc X, Y, Z [21]. Nhóm I (X) bao gồm các phân nhóm AV, AE, AD, BV, CV. Nhóm II (Y) bao gồm các phân nhóm BE, CE, BD. Nhóm III (Z) bao gồm phân nhóm CD [24] [48] [41] [37] [51] [21]. Kết quả từ những nghiên cứu trên đều chỉ ra nhóm thuốc cần được quản lí chặt chẽ là nhóm I (X), nhóm thuốc yêu cầu quản lí trung bình là nhóm II (Y), nhóm thuốc yêu cầu quản lí thấp là nhóm III (Z) [51] [37] [41] [48] . Nhóm nghiên cứu phân tích ABC/VED năm 2003 tại Ấn Độ còn chỉ ra mức độ phân công quản lí với từng nhóm thuốc như sau: nhóm I cần được quản lí bởi giám đốc, nhóm II cần được quản lí bởi nhân viên phụ trách quầy thuốc, nhóm III quản lí ở mức độ kì vọng [24]. Năm 2013 tại Ấn Độ đã phát triển phần mềm quản lí thuốc dự trữ MedZ sử dụng tích hợp các phân tích ABC, VED, ma trận ABC/VED. Hiệu quả ứng dụng phần mềm này đã được chứng minh: trước khi cài đặt phần mềm chỉ có khoảng 35% số lượng thuốc được dự trù chính xác, 25% số lượng thuốc dự trù vượt ngưỡng và tới 40% số lượng thuốc dự trù thiếu so với lượng tiêu thụ thực tế. Con số này đã thay đổi sau khi cài đặt phần mềm và chạy thử phần mềm trong vòng 1 năm, số lượng thuốc dự trù đủ lên tới 85%, chỉ còn 10% dự trù vượt mức và 5% dự trù thiếu so với lượng tiêu thụ thực tế [46]. Kết quả các nghiên cứu phân tích ABC/VED được mô tả tóm tắt ở bảng 1.3.
- Xem thêm -