Phân tích tài chính tại Công ty TNHH 3-2 Từ Liêm

  • Số trang: 71 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 40 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27372 tài liệu

Mô tả:

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.1. Khái quát phân tích tài chính doanh nghiệp 1.1.1. Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp 1.1.1.1. Khái niệm tài chính doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp khi hoạt động đều mong muốn đạt được mục tiêu tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu. Hoạt động tài chính trong doanh nghiệp là nội dung cơ bản trong hoạt động của doanh nghiệp nhằm thực hiện mục tiêu tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu. Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế. Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu bao gồm: quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước- quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính- quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác- quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp. Từ khái niệm tài chính doanh nghiệp cho thấy hoạt động tài chính trong doanh nghiệp cần giải quyết một số vấn đề mấu chốt sau: - Phân tích thông tin thị trường và trả lời câu hỏi đầu tư vào đâu, đầu tư bao nhiêu để phù hợp với lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, nhằm đạt mục tiêu của doanh nghiệp. - Huy động vốn để phục vụ cho hoạt động của doanh nghiệp như thế nào, vào thời gian nào, và đảm bảo cơ cấu vốn tối ưu và chi phí vốn thấp nhất. - Quản lí vốn và tài sản như thế nào để hiệu quả sử dụng là cao nhất. - Kiểm tra, đánh giá các hoạt động tài chính đảm bảo trạng thái cân bằng về tài chính. - Quản lí các hoạt động tài chính ngắn hạn và dài hạn để đưa ra quyết định tài chính tối ưu. Để đánh giá được những vấn đề trên, nhà quản trị doanh nghiệp cần phân tích tài chính. 1.1.1.2. Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp Phân tích tài chính là quá trình thu thập và xử lý các dữ liệu và sự kiện tài chính thông qua các kỹ thuật và công cụ thích hợp để tạo ra thông tin tài chính có giá trị nhằm rút ra các kết luận hoặc ra các quyết định tài chính. 1 (Nguồn: Lưu Thị Hương,(2008), “Giáo trình Tài chính doanh nghiệp”, Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB Thống kê, Chương 2: Phân tích tài chính doanh nghiệp, trang 29 ) 1.1.2. Sự cần thiết của phân tích tài chính doanh nghiệp Phân tích tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lý tài chính doanh nghiệp, nó giúp doanh nghiệp nắm bắt được tình hình tài chính doanh nghiệp, từ đó đưa ra các quyết định về đầu tư, tài trợ, phân phối lợi nhuận.. kịp thời và đúng đắn. Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp Nhà quản trị phân tích tài chính nhằm đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, xác định điểm mạnh điểm yếu của doanh nghiệp. Đó là cơ sở để định hướng các quyết định của Ban giám đốc, Giám đốc tài chính, dự báo tài chính: kế hoạch đầu tư, ngân quỹ và kiểm soát các hoạt động quản lý. Đối với nhà đầu tƣ Nhà đầu tư cần biết tình hình thu nhập của chủ sở hữu, lợi tức cổ phần và giá trị tăng thêm của vốn đầu tư. Họ quan tâm tới phân tích tài chính để nhận biết khả năng sinh lãi của doanh nghiệp. Đó là một trong những căn cứ giúp họ ra quyết định bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp hay không? Đối với ngƣời cho vay Người cho vay phân tích tài chính để nhận khả năng vay và trả nợ của khách hàng. Chẳng hạn để quyết định cho vay, một trong những vấn đề mà người cho vay cần xem xét là doanh nghiệp thực sự có nhu cầu vay hay không? Khả năng trả nợ của doanh nghiệp như thế nào? Ngoài ra, phân tích tài chính cũng rất cần thiết đối với người hưởng lương trong doanh nghiệp, đối với cán bộ thuế, thanh tra, cảnh sát kinh tế, luật sư… Dù họ công tác ở các lĩnh vực khác nhau, nhưng họ đều muốn hiểu biết về hoạt động của doanh nghiệp để thực hiện tốt hơn công việc của họ. Như vậy, mục tiêu hàng đầu của nhà phân tích tài chính doanh nghiệp là đánh giá khả năng thanh toán, khả năng cân đối vốn, khả năng hoạt động cũng như khả năng sinh lãi của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó các nhà phân tích tiếp tục nghiên cứu và đưa ra dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai, từ đó đưa ra những quyết định phù hợp. (Nguồn: Lưu Thị Hương(2008), “Giáo trình Tài chính doanh nghiệp”, Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB Thống kê, Chương 2: Phân tích tài chính doanh nghiệp, trang 32 ) 2 Thang Long University Library 1.2. Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp 1.2.1 Thu thập thông tin Trong phân tích tài chính, nhà phân tích phải thu thập sử dụng mọi nguồn thông tin: từ những thông tin nội bộ doanh nghiệp đến những thông tin bên ngoài doanh nghiệp, từ thông tin số lượng đến thông tin giá trị. Những thông tin đó đều giúp nhà phân tích có thể đưa ra những nhận xét, kết luận tinh tế và thích đáng. Trong những thông tin bên ngoài, cần lưu ý thu thập những thông tin chung (thông tin liên quan tới trạng thái nền kinh tế, cơ hội kinh doanh, chính sách thuế, lãi suất), thông tin về ngành kinh doanh (thông tin liên quan tới vị trí của ngành trong nền kinh tế, cơ cấu ngành, các sản phẩm của ngành, tình trạng công nghệ, thị phần…) và các thông tin về pháp lí, kinh tế đối với doanh nghiệp (các thông tin mà doanh nghiệp phải báo cáo cho các cơ quan quản lý như: Tình hình quản lí, kiểm toán, kế hoạch sử dụng kết quả kinh doanh của doanh nghiệp…) Tuy nhiên, để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính của doanh nghiệp, có thể sử dụng thông tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp như một phần thông tin quan trọng bậc nhất. Với những đặc trưng hệ thống, đồng nhất và phong phú, kế toán hoạt động như một nhà cung cấp quan trọng các thông tin đánh giá cho phân tích tài chính. Mặt khác, các doanh nghiệp cũng có nghĩa vụ cung cấp các thông tin kế toán cho những đối tác bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Thông tin kế toán được phản ánh khá đầy đủ trong các báo cáo kế toán. Phân tích tài chính được thực hiện trên cơ sở các báo cáo tài chính được hình thành thông qua việc xử lý những báo cáo kế toán chủ yếu: Bảng cân đối kế toán – Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh – Báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Những báo cáo tài chính là nguồn thông tin đặc biệt quan trọng, các phân tích tài chính chủ yếu là phân tích các báo cáo tài chính. (Nguồn: Lưu Thị Hương,2008, Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB Thống kê, trang 32 ) 1.2.1.1 Các báo cáo tài chính Báo cáo tài chính có kết cấu chặt chẽ phản ánh tình hình tài chính doanh nghiệp, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, luồng tiền doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu cho số đông người sử dụng trong việc ra các quyết định kinh tế. Báo cáo tài chính cần cung cấp thông tin đầy đủ chính xác về một doanh nghiệp trên các mặt: Tài sản – Nợ phải trả - Vốn chủ sở hữu – Doanh thu, chi phí, lãi lỗ - Luồng tiền doanh nghiệp. Những thông tin này giúp dự báo tình hình luồng tiền doanh nghiệp trong tương lai, đặc biệt là thời điểm và mức độ chắc chắn của việc tạo ra các luồng tiền. 3 Hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp bao gồm: - Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh - Bảng cân đối kế toán - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ. - Bảng thuyết minh các báo cáo tài chính. Doanh nghiệp cần lập báo cáo tài chính theo đúng quy định của chế độ kế toán doanh nghiệp và chuẩn mực kế toán hiện hành. Bảng cân đối kế toán Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chính của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó. Đây là một báo cáo tài chính có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi đối tượng có quan hệ sở hữu, quan hệ kinh doanh và quan hệ quản lí với doanh nghiệp. Thông thường, Bảng cân đối kế toán được trình bày dưới dạng bảng cân đối số dư các tài khoản kế toán: Một bên phản ánh tài sản, một bên phản ánh nguồn vốn. Bên tài sản của bảng cân đối kế toán phản ánh giá trị của toàn bộ tài sản hiện có đến thời điểm lập báo cáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp: Đó là tài sản cố định, tài sản lưu động. Bên nguồn vốn phản ánh số vốn để hình thành các loại tài sản của doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo: Đó là vốn chủ sở hữu và các khoản nợ. Các khoản mục trên bảng cân đối kế toán được sắp xếp theo thứ tự khả năng chuyển hóa thành tiền giảm dần từ trên xuống. Bên tài sản: Tài sản lưu động (bao gồm: Tiền và chứng khoán ngắn hạn dễ bán, các khoản phải thu, dự trữ), tài sản cố định hữu hình và vô hình. Bên nguồn vốn: Nợ ngắn hạn (bao gồm: Nợ phải trả nhà cung cấp, các khoản phải nộp, phải trả khác, nợ ngắn hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác), nợ dài hạn ( bao gồm: Nợ vay dài hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác, vay bằng cách phát hành trái phiếu), vốn chủ sở hữu ( bao gồm: Vốn góp ban đầu, lợi nhuận không chia, phát hành cổ phiếu mới). Về mặt kinh tế bên tài sản phản ánh quy mô và kết cấu các loại tài sản, bên nguồn vốn phản ánh cơ cấu tài trợ, cơ cấu vốn cũng như khả năng độc lập về tài chính của doanh nghiệp. Bên tài sản và bên nguồn vốn của Bảng cân đối kế toán đều có các cột chỉ tiêu: 4 Thang Long University Library số đầu kỳ, số cuối kỳ. Ngoài các khoản mục trong nội bảng còn có một số khoản mục ngoài Bảng cân đối kế toán như: Một số tài sản thuê ngoài, vật tư, hàng hóa nhận giữ hộ, nhận gia công, hàng hóa nhận bán hộ, ngoại tệ các loại… Nhìn vào Bảng cân đối kế toán, nhà phân tích có thể nhận biết được loại hình doanh nghiệp, quy mô, mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp. Bảng cân đối kế toán là một tư liệu quan trọng bậc nhất giúp cho các nhà phân tích đánh giá được khả năng cân bằng tài chính, khả năng thanh toán và khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp. (Nguồn: Lưu Thị Hương,(2008), “Giáo trình Tài chính doanh nghiệp”, Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB Thống kê, Chương 2: Phân tích tài chính doanh nghiệp, trang 33) Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Một thông tin không kém phần quan trọng được sử dụng trong phân tích tài chính là thông tin được phản ánh trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Không giống như Bảng cân đối kế toán, bản Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cho biết sự dịch chuyển của tiền trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và cho phép dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng cho nhà phân tích so sánh doanh thu với số tiền thực nhập quỹ khi bán hàng hóa dịch vụ, so sánh tổng chi phí phát sinh với số tiền thực xuất quỹ để vận hành doanh nghiệp. Trên cơ sở doanh thu và chi phí có thể xác định được kết quả sản xuất kinh doanh lãi – lỗ trong năm. Như vậy Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong một thời kì nhất định. Nó giúp cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kĩ thuật và trình độ quản lí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Những khoản mục chủ yếu được phản ánh trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh bao gồm: Doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh thu từ hoạt động tài chính, doanh thu từ hoạt động bất thường và chi phí tương ứng với mỗi hoạt động đó. (Nguồn: Lưu Thị Hương(2008), “Giáo trình Tài chính doanh nghiệp”, Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB Thống kê, Chương 2: Phân tích tài chính doanh nghiệp, trang 35) Báo cáo lƣu chuyển tiền tệ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp thông tin giúp người sử dụng đánh giá các thay đổi tài sản thuần, cơ cấu tài chính, khả năng chuyển đổi thành tiền, khả năng thanh toán và khả năng tạo ra các luồng tiền trong quá trình hoạt động của doanh 5 nghiệp. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ dùng để xem xét, dự đoán khả năng về số lượng, thời gian, độ tin cậy của các luông tiền trong tương lai, dùng để kiểm tra lại các đánh giá trước đây về luồng tiền, kiểm tra mối quan hệ giữa khả năng sinh lời với lượng lưu chuyển tiền thuần và những tác động của thay đổi giá cả. Doanh nghiệp phải trình bày các luồng tiền trong kì trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo 3 loại hoạt động: hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính. Luồng tiền từ hoạt động kinh doanh: Là luồng tiền có liên quan tới các hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu của doanh nghiệp. Nó cung cấp thông tin cơ bản về khả năng tạo tiền từ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để trang trải các khoản nợ, duy trì các hoạt động, trả cổ tức và tiến hành đầu tư mới mà không cần đến nguồn tài chính bên ngoài. Thông tin về các luồng tiền từ hoạt động kinh doanh, khi được sử dụng kết hợp với các thông tin khác, sẽ giúp người sử dụng dự báo được luồng tiền từ hoạt động kinh doanh trong tương lai. Luồng tiền từ hoạt động đầu tư: là luồng tiền có liên quan tới việc mua sắm, xây dựng, nhượng bán, thanh lý tài sản dài hạn và các khoản đầu tư khác không thuộc các khoản tương đương tiền. Để đánh giá một doanh nghiệp có đảm bảo được chi trả hay không, cần tìm hiểu tình hình ngân quỹ của doanh nghiệp. Ngân quỹ thường được xác định cho thời hạn ngắn, thông thường là theo từng tháng. Xác định hoặc dự báo dòng tiền thực nhập quỹ bao gồm: Dòng tiền nhập quỹ từ hoạt động kinh doanh , dòng tiền nhập quỹ từ hoạt động đầu tư, tài chính, dòng tiền nhập quỹ từ hoạt động bất thường. Xác định hoặc dự báo dòng tiền thực xuất quỹ bao gồm: Dòng tiền xuất quỹ thực hiện sản xuất kinh doanh, dòng tiền xuất quỹ thực hiện hoạt động đầu tư, tài chính, dòng tiền xuất quỹ thực hiện hoạt động bất thường. Trên cơ sở dòng tiền nhập quỹ và xuất quỹ, nhà phân tích thực hiện cân đối ngân quỹ với số dư ngân quỹ đầu kỳ để xác định số dư ngân quỹ cuối kỳ. Từ đó có thể thiết lập mức ngân quỹ dự phòng tối thiếu cho doanh nghiệp nhằm mục tiêu đảm bảo chi trả. Tóm lại, để phân tích tình hình tài chính của một doanh nghiệp các nhà phân tích cần đọc và hiểu được các báo cáo tài chính, qua đó họ nhận biết được và tập trung vào các chỉ tiêu tài chính liên quan trực tiếp tới mục tiêu phân tích của họ. Thuyết minh báo cáo tài chính Bản thuyết minh báo cáo tài chính bao gồm các phần mô tả mang tính tường thuật hoặc những phân tích chi tiết hơn các số liệu đã được tổng hợp trong bảng cân đối kế toán, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và 6 Thang Long University Library thông tin bổ sung khác. Chúng bao gồm các thông tin được các chuẩn mực kế toán khác yêu cầu trình bày, những thông tin cần thiết cho việc trình bày trung thực, hợp lý. Nhằm giúp cho người sử dụng hiểu được báo cáo tài chính doanh nghiệp và có thể so sánh với báo cáo tài chính doanh nghiệp khác bảng thuyết minh báo cáo tài chính được trình bày theo thứ tự sau: - Tuyên bố về việc tuân thủ các chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam - Giải trình cơ sở đánh giá, chính sách kế toán được áp dụng - Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong mỗi báo cáo tài chính theo thứ tự trình bày mỗi khoản mục hàng dọc và mỗi báo cáo tài chính. - Trình bày những biến động trong nguồn vốn chủ sở hữu - Những thông tin khác gồm: +Những khoản nợ tiềm tàng, những khoản cam kết và thông tin tài chính khác +Những thông tin phi tài chính. (Nguồn: Lưu Thị Hương(2008), “Giáo trình Tài chính doanh nghiệp”, Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB Thống kê, Chương 2: Phân tích tài chính doanh nghiệp, trang 36) 1.2.1.2 Các thông tin khác Ngoài những thông tin quan trọng lấy từ các báo cáo tài chính, doanh nghiệp cần thu thập thêm thông tin khác trong nội bộ doanh nghiệp và thông tin bên ngoài doanh nghiệp như thông tin về môi trường kinh tế, thông tin ngành kinh tế. Những thông tin này tác động không nhỏ tới tình hình tài chính doanh nghiệp. Những thông tin nội bộ doanh nghiệp như: Báo cáo kết quả kinh doanh năm hiện tại, kế hoạch, định hướng phát triển năm sau, các báo cáo thường niên,.. góp phần làm rõ hơn tình hình tài chính doanh nghiệp. Thông tin về môi trƣờng kinh tế: là những thông tin về tình hình kinh tế trong nước và trên thế giới có ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc doanh nghiệp nắm bắt nhanh nhạy các thông tin này đồng nghĩa doanh nghiệp nắm trong tay những cơ hội kinh doanh, làm mạnh thêm tiềm lực tài chính. Để đánh giá khách quan và chính xác về tình hình tài chính doanh nghiệp, ta phải xem xét thông tin từ môi trường kinh tế có liên quan như biến động thị trường, pháp luật… Các thông tin về ngành: Hoạt động của doanh nghiệp luôn gắn kết chặt chẽ với ngành nghề hoạt động của doanh nghiệp. Đặc điểm của ngành liên quan tới tính chất của các sản phẩm, quy trình kĩ thuật áp dụng, cơ cấu sản xuất, nhịp độ phát triển của các chu kì kinh tế, sự thay đổi công nghệ, chiến lược cạnh tranh, xu hướng tiêu dùng 7 tương lai…đặc biệt là hệ thống tiêu chí trung bình ngành là cơ sở tham chiếu để nhà phân tích có thể đánh giá chính xác hơn tình hình tài chính doanh nghiệp. Thông tin về chuẩn trung bình ngành của doanh nghiệp là những tiêu chuẩn được đánh giá là tốt cho những doanh nghiệp cùng loại. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, các chỉ số tài chính trung bình ngành chưa được tính toán, thì khi phân tích, các nhà phân tích tài chính có thể đưa ra những tỷ số tài chính mẫu được đánh giá tốt hoặc doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hiệu quả với tình hình tài chính lành mạnh, từ đó chọn tỷ số tài chính làm thước đo, tiêu chuẩn tiến hành so sánh. Những tỷ số tài chính mẫu có thể tham khảo dựa trên thông tin của những công ty cùng ngành tương tự đang niêm yết. (Nguồn: Lưu Thị Hương(2008), “Giáo trình Tài chính doanh nghiệp”, Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB Thống kê, Chương 2: Phân tích tài chính doanh nghiệp, trang 38) 1.2.2 Quy trình phân tích tài chính Phân tích tài chính doanh nghiệp thông thường phải trải qua các giai đoạn sau: Bước 1: Xác định mục tiêu phân tích Đối với mỗi doanh nghiệp ở từng thời kỳ nhất định, mục tiêu phân tích tài chính được xác định một cách khác nhau, trong mỗi vấn đề của hoạt động tài chính như khả năng cân đối vốn, quản lý hàng tồn kho, kiểm soát chi phí và lợi nhuận thì mỗi vấn đề có mục tiêu riêng như: Về khả năng cân đối vốn sẽ có mục tiêu phân tích cơ cấu vốn khả năng thanh toán và lưu chuyển vốn. Về quản lý hàng tồn kho sẽ có mục tiêu phân tích về doanh số giá cả và cấu trúc tài sản. Về kiểm soát chi phí và lợi nhuận có mục tiêu phân tích là khả năng sinh lãi doanh thu Xác định mục tiêu phân tích là bước rất quan trọng quyết định đến ý nghĩa của công tác phân tích tài chính đối với doanh nghiệp cũng như các đối tượng có liên quan. Bước 2: Lập kế hoạch phân tích Trên cơ sở tuân thủ mục tiêu phân tích đã đề ra, bộ phận phân tích tài chính phải xác định rõ phạm vi phân tích, thời gian tiến hành phân tích, phân công trách nhiệm bố trí nhân sự cho công tác phân tích tài chính. Về phạm vi phân tích, có thể chia ra phân tích theo chuyên đề hay phân tích toàn diện. Về thời gian phân tích, kế hoạch phân tích phải xác định rõ việc phân tích là phân 8 Thang Long University Library tích trước, phân tích hiện hành hay phân tích sau. Phân tích trước là phân tích trước khi tiến hành một kế hoạch kinh doanh nào đó. Phân tích trước thường đưa ra những dự đoán về nhu cầu, cách thức phân bổ các nguồn lực tài chính và lập kế hoạch thu hồi vốn của doanh nghiệp. Phân tích hiện hành là việc phân tích đồng thời với quá trình kinh doanh nhằm xác minh tính hợp lý về mặt tài chính của các dự án, dự đoán kế hoạch phục vụ cho việc điều chỉnh kịp thời các dự án. Phân tích sau là việc phân tích các kết quả trên giác độ tài chính sau khi đã thực hiện toàn bộ công việc. Về nhân sự, công tác phân tích tài chính phải được thực hiện bởi đội ngũ nhân sự có kinh nghiệm và có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc. Bước 3: Thu thập, xử lý thông tin Trong phân tích tài chính, nhà phân tích phải thu thập, sử dụng mọi nguồn thông tin, từ thông tin nội bộ doanh nghiệp đến những thông tin bên ngoài doanh nghiệp, từ thông tin số lượng đến thông tin giá trị. Những thông tin đó đều giúp nhà phân tích có thể đưa ra được những nhận xét, kết luận tinh tế, thích đáng, sát với thực tế doanh nghiệp. Thông tin bên ngoài doanh nghiệp có thể là những thông tin chung (thông tin liên quan đến trạng thái nền kinh tế, cơ hội kinh doanh, chính sách thuế, lãi suất..), thông tin về ngành kinh doanh (thông tin liên quan đến vị trí của ngành trong nền kinh tế, cơ cấu ngành, các sản phẩm của ngành, tình trạng công nghệ, thị phần..) và các thông tin về phương diện pháp lý đối với doanh nghiệp (các thông tin mà doanh nghiệp phải báo cáo cho các cơ quan quản lý như: tình hình quản lý, kiểm toán, kế hoạch sử dụng kết quả kinh doanh của doanh nghiệp..) Tuy nhiên, để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính của doanh nghiệp có thể sử dụng thông tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp như là một nguồn thông tin quan trọng bậc nhất. Thông tin kế toán được phản ánh khá đầy đủ trong các báo cáo kế toán: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính. Nói tóm lại, đó là tất cả các thông tin quan trọng mà nhà phân tích cần thu thập, xử lý nhằm phục vụ công tác phân tích. Bước 4: Tiến hành công tác phân tích tài chính Công tác phân tích tài chính dựa trên cơ sở các yêu cầu về nội dung, phương pháp phân tích đề ra, dựa trên các thông tin và số liệu đã thu thập và xử lý, sau đó được tiến hành như sau: 9 Một là, đánh giá chung tình hình tài chính: sử dụng các phương pháp và các chỉ tiêu đã lựa chọn tính toán để đánh giá theo từng chỉ tiêu cụ thể, từ đó tổng kết khái quát toàn bộ xu hướng phát triển và mối quan hệ qua lại giữa các mặt hoạt động của doanh nghiệp. Hai là, xác định các nhân tổ ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đối với đối tượng phân tích. Tuỳ theo yêu cầu quản lý và điều kiện cung cấp thông tin để xác định số lượng các nhân tố sử dụng trong phân tích, qua các phương pháp phân tích mà xác định chiều hướng mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới đối tượng phân tích. Ba là, tổng hợp kết quả phân tích, rút ra kết luận, nguyên nhân tác động và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bước 5: Lập báo cáo phân tích tài chính Đây là bước cuối cùng trong việc thực hiện công tác phân tích tài chính doanh nghiệp. Kết quả phân tích phải được viết thành báo cáo gửi cho Ban giám đốc doanh nghiệp, những đối tượng có nhu cầu để phục vụ công tác quản lý doanh nghiệp và các nhà đầu tư quan tâm. 1.2.3 Lựa chọn phương pháp phân tích Phương pháp phân tích tài chính truyền thống được áp dụng phổ biến là phương pháp tỷ số. Phương pháp tỷ số là phương pháp trong đó các tỷ số được sử dụng phân tích. Đó là các tỷ số đơn được thiết lập bởi chỉ tiêu này so với chỉ tiêu khác. Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện. Về nguyên tắc với phương pháp tỷ số cần xác định được các ngưỡng, các tỷ số tham chiếu. Để đánh giá tình trạng tài chính của một doanh nghiệp cần so sánh các tỷ số của doanh nghiệp với các tỷ số tham chiếu. Vì lẽ đó phương pháp so sánh luôn được kết hợp với các phương pháp phân tích tài chính khác. Khi phân tích nhà phân tích so sánh theo thời gian (kỳ này so kỳ trước) để nhận biết xu hướng thay đổi tình hình tài chính của doanh nghiệp hay theo không gian (so sánh với mức trung bình ngành) để đánh giá vị thế của doanh nghiệp trong ngành. Những con số tuyệt đối hay thông số dường như sẽ không có ý nghĩa trừ khi chúng được so sánh với những con số hay thông số khác. Chẳng hạn, 60% tổng tài sản đầu tư vào nhà xưởng và thiết bị sẽ là chuyện bình thường đối với một số công ty nhưng với một số khác thì tỷ lệ này có thể không tốt. Chúng ta phải có một hướng dẫn để xác định ý nghĩa của các thông số và các công cụ đo lường khác. Các hoạt động kinh doanh nói chung và các hoạt động tài chính nói riêng diễn ra trong không gian và theo thời gian. Vì vậy, việc phân tích không thể tách rời khỏi không gian và thời gian. 10 Thang Long University Library So sánh theo thời gian So sánh theo thời gian nhằm nghiên cứu bản chất sự thay đổi về điều kiện và hiệu suất tài chính của công ty. Nhà phân tích có thể so sánh thông số hiện tại với thông số quá khứ và thông số kỳ vọng trong tương lai của một công ty. So sánh theo không gian và các nguồn thông số ngành Việc so sánh này thường được thực hiện bằng cách so sánh các chỉ tiêu ở từng thời điểm giữa các doanh nghiệp tương đương hay con số trung bình ngành. Điều này có thể điều chỉnh các điều kiện và hiệu suất tài chính của công ty theo hệ quy chiếu chung, cho phép xác định độ lệch của công ty so với bình quân ngành. Bên cạnh đó, các nhà phân tích tài chính còn sử dụng phương pháp phân tích Dupont. Phương pháp phân tích này giúp các nhà phân tích nhận biết được các nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tốt, xấu trong hoạt động của doanh nghiệp. Bản chất của phương pháp phân tích này là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh mức sinh lợi của doanh nghiệp như thu nhập trên tài sản ( ROA), thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu ( ROE) thành tích số của một chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau. Điều này giúp nhà phân tích phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đó đối với tỷ số tổng hợp. (Nguồn: Lưu Thị Hương (2008), “Giáo trình Tài chính doanh nghiệp”, Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB Thống kê, Chương 2: Phân tích tài chính doanh nghiệp, trang 50) 1.2.4 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp 1.2.4.1 Phân tích bảng cân đối kế toán Phân tích cơ cấu tài sản và cơ cấu vốn của doanh nghiệp Phân tích cơ cấu tài sản và cơ cấu vốn của doanh nghiệp ngoài việc so sánh số cuối kỳ với số đầu kỳ về số tuyệt đối và tỷ trọng, ta còn phải so sánh đánh giá tỷ trọng từng loại tài sản và nguồn vốn cùng xu hướng biến động của chúng. Đầu tiên ta chuyển bảng cân đối kế toán dưới dạng một phía theo hình thức bảng cân đối báo cáo. Trên dòng ta liệt kê toàn bộ tài sản và nguồn vốn đã được chuẩn hóa, trên cột ta xác định số đầu kỳ, số cuối kỳ theo lượng và tỷ trọng của từng loại so với tổng số, có thêm cột so sánh đầu kỳ - cuối kỳ cả về lượng và tỷ lệ phần trăm thay đổi, rồi tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng nguồn vốn, tài sản của doanh nghiệp theo những tiêu thức nhất định của doanh nghiệp và ngành. (Nguồn: Lưu Thị Hương (2008), “Giáo trình Tài chính doanh nghiệp”, Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB Thống kê, Chương 2: Phân tích tài chính doanh nghiệp, trang 55) 11 Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn Nhà phân tích xem xét đánh giá sự thay đổi các chỉ tiêu cuối kì so với đầu kỳ trên bảng cân đối kế toán về nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp. Khi phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn ta trình bày bảng cân đối kế toán dưới dạng bảng cân đối báo cáo từ tài sản đến nguồn vốn, sau đó so sánh số đầu kỳ với số cuối kỳ của từng chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán để xác định tăng giảm vốn trong doanh nghiệp theo nguyên tắc: - Sử dụng vốn là tăng tài sản và giảm nguồn vốn. - Nguồn vốn là giảm tài sản và tăng nguồn vốn. - Nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn phải cân đối với nhau. Cuối cùng tiến hành sắp xếp các chỉ tiêu về nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn theo những trình tự nhất định tùy theo mục tiêu phân tích và phản ánh vào một bảng. Nội dung phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn trong doanh nghiệp cho ta biết sự thay đổi của nguồn vốn trong một kỳ kinh doanh và tình hình sử dụng nguồn vốn như thế nào, nguyên nhân tăng giảm nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp, từ đó có giải pháp khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn vốn doanh nghiệp. Ngoài việc phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn, trên thực tế người ta còn phân tích theo luồng tiền, xác định nguyên nhân làm thay đổi nguồn tiền đầu kỳ và cuối kỳ, dựa vào sự thay đổi của từng chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán. Mỗi sự thay đổi cuối kỳ so với đầu kỳ của từng chỉ tiêu đều dẫn tới sự thay đổi tiền mặt tương ứng theo nguyên tắc: - Tăng tiền mặt là giảm tài sản và tăng nguồn vốn. - Giảm tiền mặt là tăng tài sản và giảm nguồn vốn. Tổng cộng tăng- giảm tiền mặt đến cuối kỳ đúng bằng sự thay đổi trên dòng tiền mặt cuối kỳ so với đầu kỳ của bảng cân đối kế toán. (Nguồn: Lưu Thị Hương (2008), “Giáo trình Tài chính doanh nghiệp”, Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB Thống kê, Chương 2: Phân tích tài chính doanh nghiệp, trang 56) 1.2.4.2 Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Mục tiêu phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là xác định mối liên hệ và đặc điểm các chỉ tiêu trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, đồng thời so sánh chúng qua một số liên độ kế toán liên tiếp và so sánh chúng với trung bình ngành 12 Thang Long University Library để đánh giá xu hướng thay đổi của từng chỉ tiêu và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp so với doanh nghiệp khác cùng ngành. 1.2.4.3 Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ Mục tiêu phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ là giúp nhà phân tích nắm được tiền của doanh nghiệp sinh ra từ đâu và sử dụng vào mục đích gì, xác định ngân quỹ tối ưu nhất, không những đảm bảo khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp mà còn giảm được chi phí cơ hội của lượng tiền ngân quỹ, dự báo luồng tiền trong tương lai của doanh nghiệp.. Việc phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ kết hợp với phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và phân tích bảng cân đối kế toán giúp nhà phân tích nắm được chính xác tình hình thanh toán của khách hàng và tình hình thanh toán của doanh nghiệp cho nhà cung cấp. Khi phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ, nhà phân tích cần so sánh cả về số tuyệt đối và số tương đối giữa kì phân tích với kì gốc trên các chỉ tiêu “ lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh”, “ lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính” và “ lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư” để biết được luồng tiền từ hoạt động kinh doanh, luồng tiền từ hoạt động động tài chính hay luồng tiền từ hoạt động đầu tư của doanh nghiệp biến động như thế nào tại các thời điểm khác nhau. Từ đó bộ phận tài chính lập kế hoạch tài chính để ban giám đốc có những quyết định tài chính chính xác. 1.2.4.4. Phân tích tình hình tạo vốn và sử dụng nguồn vốn Để tiến hành hoạt động kinh doanh, mỗi doanh nghiệp đều phải có tài sản bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Để hình thành hai loại tài sản này phải có nguồn vốn tài trợ là nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn. Nguồn vốn ngắn hạn là nguồn vốn sử dụng để tài trợ cho hoạt động kinh doanh trong khoảng thời gian dưới một năm. Nguồn vốn dài hạn là nguồn vốn bao gồm vốn chủ sở hữu, vốn vay nợ trung, dài hạn.. sử dụng cho hoạt động kinh doanh lâu dài của doanh nghiệp. Nguồn vốn dài hạn sử dụng để hình thành tài sản dài hạn, phần dư nguồn vốn dài hạn và nguồn vốn ngắn hạn được dùng để hình thành tài sản ngắn hạn. Phần chênh lệch giữa nguồn vốn dài hạn và tài sản ngắn hạn hoặc phần chênh giữa tài sản ngắn hạn với nguồn vốn ngắn hạn được gọi là vốn lưu động thường xuyên. 13 Công thức tính: Vốn lưu động thường xuyên = Nguồn vốn dài hạn – Tài sản dài hạn Tài sản Nguồn vốn Nợ ngắn hạn Tài sản ngắn hạn ( Tài sản lưu động) Nguồn vốn ngắn hạn ( Nguồn vốn tạm thời) Vốn lưu động Nợ trung, dài hạn Nguồn vốn dài hạn thường xuyên Tài sản dài hạn (nguồn vốn thường xuyên) (Tài sản cố định) Vốn chủ sở hữu Mức độ an toàn của tài sản ngắn hạn phụ thuộc vào mức độ của vốn lưu động thường xuyên. Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh ta cần tính toán và so sánh giữa nguồn vốn và tài sản. Khi: Nguồn vốn dài hạn < tài sản dài hạn hoặc tài sản ngắn hạn < nguồn vốn ngắn hạn Thì: Vốn lưu động thường xuyên < 0 Tức là: Nguồn vốn dài hạn không đủ để đầu tư cho Tài sản dài hạn, doanh nghiệp phải sử dụng một phần nguồn vốn ngắn hạn tài trợ cho tài sản dài hạn, khi đó tài sản ngắn hạn không đáp ứng đủ nhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn khiến cán cân thanh toán của doanh nghiệp mất cân bằng, doanh nghiệp phải dùng một phần tài sản dài hạn thanh toán nợ ngắn hạn đến hạn trả. Trong trường hợp này, doanh nghiệp cần gấp rút tăng cường vốn ngắn hạn hợp pháp hoặc giảm quy mô đầu tư dài hạn hoặc thực hiện đồng thời cả hai giải pháp. Khi: Nguồn vốn dài hạn > tài sản dài hạn hoặc tài sản ngắn hạn > nguồn vốn ngắn hạn Thì: Vốn lưu động thường xuyên > 0 Tức là: Nguồn vốn dài hạn dư thừa sau khi đầu tư vào tài sản dài hạn. Phần dư đó đầu tư vào tài sản ngắn hạn, đồng thời tài sản ngắn hạn nhiều hơn nguồn vốn ngắn hạn, dẫn tới khả năng thanh toán của doanh nghiệp tốt. Khi: Vốn lưu động thường xuyên = 0 Tức là: nguồn vốn dài hạn tài trợ đủ cho tài sản dài hạn trong khi tài sản ngắn hạn đủ để doanh nghiệp trả các khoản nợ ngắn hạn, tình hình tài chính doanh nghiệp như vậy là lành mạnh. Vốn lưu động thường xuyên là chỉ tiêu tổng hợp rất quan trọng để đánh giá tình 14 Thang Long University Library hình tài chính của doanh nghiệp, chỉ tiêu này giúp trả lời hai câu hỏi quan trọng: - Doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn hay không? - Tài sản dài hạn có được tài trợ bền vững bằng nguồn vốn dài hạn hay không? Ngoài chỉ tiêu Vốn lưu động thường xuyên, nhà phân tích còn sử dụng chỉ tiêu nhu cầu vốn lưu động thường xuyên để phân tích. Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên là lượng vốn ngắn hạn doanh nghiệp cần để tài trợ cho một phần tài sản ngắn hạn đó là hàng tồn kho và các khoản phải thu ( tài sản ngắn hạn không phải là tiền) Công thức tính: Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên = (Tồn kho + các khoản phải thu) – nợ ngắn hạn Nếu nhu cầu vốn lưu động thường xuyên > 0 nghĩa là (Tồn kho + các khoản phải thu) > nợ ngắn hạn. Khi đó các tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp lớn hơn các nguồn vốn ngắn hạn mà doanh nghiệp có được từ bên ngoài, doanh nghiệp phải sử dụng nguồn vốn dài hạn để tài trợ phần thiếu hụt. Lúc này doanh nghiệp cần giải phóng hàng tồn kho và giảm khoản phải thu từ khách hàng. (Nguồn: Lưu Thị Hương (2008), “Giáo trình Tài chính doanh nghiệp”, Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB Thống kê, Chương 2: Phân tích tài chính doanh nghiệp, trang 50) 1.2.4.5 Phân tích các tỷ số tài chính chủ yếu Các tỷ số tài chính chủ yếu được chia làm bốn nhóm chính: - Nhóm tỷ số về khả năng thanh toán. - Nhóm tỷ số về khả năng cân đối vốn. - Nhóm tỷ số về năng lực hoạt động. - Nhóm tỷ số về khả năng sinh lời. Nhóm tỷ số về khả năng thanh toán Khả năng thanh toán hiện thời là thông số chỉ rõ khả năng của công ty trong việc đáp ứng các nghĩa vụ trả nợ ngắn hạn. Thông số này nhấn mạnh đến khả năng chuyển hóa thành tiền mặt của các tài sản lưu động để đối phó với các khoản nợ ngắn hạn. Khả năng thanh toán hiện thời = Tài sản lưu động Nợ ngắn hạn Nếu một công ty đang gặp khó khăn về tài chính, họ buộc phải trả nợ chậm hơn, phải vay thêm từ ngân hàng… Nếu nợ ngắn hạn tăng nhanh hơn tài sản lưu động, thông số khả năng thanh toán hiện thời sẽ giảm và điều này sẽ đưa công ty đến tình trạng khó khăn. Thông số này cung cấp một dấu hiệu đơn giản và tốt nhất về mức độ đảm bảo các khoản nợ ngắn hạn bằng các tài sản dự kiến có thể được chuyển hóa nhanh thành tiền. 15 Khả năng thanh toán hiện thời càng cao cho một cảm giác là khả năng trả nợ càng cao nhưng thông số này chỉ được xem là một công cụ đo lường thô vì nó không tính đến khả năng chuyển nhượng của từng tài sản trong nhóm tài sản lưu động. Một công ty có tài sản lưu động chủ yếu gồm tiền mặt, các khoản phải thu không quá hạn thì công ty đó sẽ khả nhượng hơn so với công ty duy trì chủ yếu tồn kho. Thông thường thì tỷ số này lớn hơn 1 lần là an toàn, dưới 1 lần thì doanh nghiệp có thể đang dùng các khoản vay ngắn hạn để tài trợ cho các tài sản dài hạn, dẫn đến vốn lưu động ròng âm. Khả năng thanh toán nhanh: Thông số này là một công cụ bổ sung cho thông số khả năng thanh toán hiện thời khi phân tích khả năng thanh toán. Thông số này chủ yếu tập trung vào các tài sản có tính chuyển hóa thành tiền cao hơn như tiền mặt, chứng khoản khả nhượng và khoản phải thu. Với nội dung như vậy, khả năng thanh toán nhanh là một công cụ đo lường khả năng thanh toán chặt chẽ hơn so với khả năng thanh toán hiện thời. Khả năng thanh toán nhanh = TSLĐ – Tồn kho – TSLĐ khả nhượng thấp Nợ ngắn hạn Tuy nhiên, các thông số này vẫn không thể cho chúng ta biết các khoản phải thu và tồn kho thực tế có cao quá mức hay không. Nếu cao thì điều này sẽ tác động đến đánh giá ban đầu về khả năng thanh toán của công ty. Hệ số này lớn hơn 0,5 thì được đánh giá là an toàn vì công ty có thể trang trải các khoản nợ ngắn hạn mà không cần đến các nguồn thu hay doanh số bán. Tỷ số thanh toán tức thời = Tiền và các khoản tương đương tiền Nợ đến hạn Trong đó: Nợ đến hạn là các khoản nợ ngắn hạn, trung hạn, dài hạn đến kỳ hạn trả tiền. Tỷ số thanh toán tức thời cho biết khả năng thanh toán ngay bằng nguồn tiền hiện có của doanh nghiệp để trang trải cho các khoản nợ đến hạn thanh toán. Nhóm tỷ số về khả năng cân đối vốn Nhóm tỷ số về khả năng cân đối vốn phản ánh mức độ chủ động về tài chính cũng như khả năng sử dụng nợ của doanh nghiệp. Tỷ số nợ trên tổng tài sản: cho biết phần tài sản của công ty được tài trợ bằng nợ, đo lường mức độ sử dụng nợ của doanh nghiệp so với tài sản. 16 Thang Long University Library Tỷ số nợ trên tổng tài sản Tổng nợ phải trả = Tổng tài sản Trong đó: Tổng nợ phải trả gồm toàn bộ nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Tổng tài sản gồm toàn bộ tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn của doanh nghiệp. Ý nghĩa: Các cổ đông thường muốn có tỷ số nợ cao vì sử dụng đòng bẩy tài chính, gia tăng khả năng sinh lời cho cổ đông song các chủ nợ luôn thích các công ty có tỷ số nợ thấp vì như thế công ty có khả năng trả nợ cao hơn. Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu = Tổng nợ phải trả Vốn chủ sở hữu Ý nghĩa: Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu phản ánh khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp, cho thấy mức độ độc lập hay phụ thuộc của doanh nghiệp đối với chủ nợ. Hệ số này nhỏ hơn 1 là tốt. Nhóm chỉ số về năng lực hoạt động Nhóm chỉ số về năng lực hoạt động phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Vòng quay các khoản phải thu Vòng quay các khoản phải thu dùng để đánh giá hiệu quả quản lý các khoản phải thu bao gồm: phải thu khách hàng, trả trước cho người bán, phải thu khác… Vòng quay các khoản phải thu = Kỳ thu tiền bình quân = Doanh thu thuần Các khoản phải thu bình quân Thời gian của kì phân tích Vòng quay các khoản phải thu Ý nghĩa: Kỳ thu tiền bình quân là một dạng khác của chỉ tiêu Vòng quay các khoản phải thu. Nếu kỳ thu tiền bình quân thấp chứng tỏ doanh nghiệp không bị ứ đọng vốn trong khâu thanh toán, không gặp phải nợ khó đòi. Nếu chỉ số này cao doanh nghiệp cần phải phân tích chính sách bán hàng để tìm ra nguyên nhân của việc tồn đọng nợ. Khi phân tích chỉ số này ngoài việc so sánh giữa các năm, so sánh với các công ty cùng ngành, doanh nghiệp cần rà soát các khoản phải thu để phát hiện các khoản nợ quá hạn để xử lý. Hệ số này càng nhỏ và không được quá hạn hơn 30% số ngày của kỳ hạn thanh toán. Vòng quay hàng tồn kho là một chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng hàng tồn kho của doanh nghiệp. Công thức tính: 17 Vòng quay hàng tồn kho Giá vốn hàng bán = Hàng tồn kho bình quân Ý nghĩa: Vòng quay hàng tồn kho thể hiện số lần mà hàng tồn kho luân chuyển trong kì. Vòng quay hàng tồn kho cao chứng tỏ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiệu quả và cũng thể hiện rằng doanh nghiệp dữ trữ hàng tồn kho vừa đủ phục vụ cho sản xuất và tiêu thụ. Song nếu mức tồn kho quá thấp sẽ không đủ phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, thậm chí không đáp ứng yêu cầu dự trữ hàng tồn kho tránh biến động giá của kỳ sau. Việc đánh giá tùy thuộc vào ngành nghề kinh doanh và chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp. Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, cho biết một đồng tài sản ngắn hạn bỏ ra trong kỳ kinh doanh sẽ thu về bao nhiêu đồng doanh thu. Công thức tính: Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn = Doanh thu thuần Tài sản ngắn hạn bình quân Ý nghĩa: Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn của doanh nghiệp, cho biết một đồng tài sản dài hạn bỏ ra trong kỳ kinh doanh sẽ thu về bao nhiêu đồng doanh thu. Công thức tính: Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn = Doanh thu thuần Tài sản dài hạn bình quân Nhà phân tích sử dụng các số liệu kỳ trước hoặc của các doanh nghiệp cùng ngành để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn. Hiệu suất sử dụng tổng tài sản: Cho biết một đồng tài sản bỏ ra trong kỳ kinh doanh sẽ thu về bao nhiêu đồng doanh thu. Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Tổng tài sản bình quân Nhóm tỷ số về khả năng sinh lời Nhóm tỷ số về khả năng sinh lời phản ánh khả năng tạo thu nhập từ các nhân tố khác nhau tạo ra lợi nhuận như doanh thu, tổng tài sản, tổng tài sản, vốn chủ sở hữu. Doanh thu tiêu thụ của sản phẩm: phản ánh quan hệ giữa lợi nhuận sau thuế và doanh thu thuần, cho biết một đồng doanh thu thuần tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. 18 Thang Long University Library Doanh thu tiêu thụ của sản phẩm = Lợi nhuận sau thuế Doanh thu thuần Ý nghĩa: Doanh thu tiêu thụ của sản phẩm càng cao thì khả năng sinh lãi của doanh nghiệp càng lớn. Chỉ tiêu này càng cao càng tốt. Chỉ tiêu doanh lợi tổng tài sản: phản ánh khả năng sinh lời trên một đồng tài sản của công ty, cho biết với mỗi đồng tài sản đầu tư thì sẽ thu được bao nhiều đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay. Chỉ tiêu này càng cao càng tốt. Lợi nhuận trước thuế và lãi vay Doanh lợi tổng tài sản ( ROA) = Tổng tài sản bình quân Doanh lợi vốn chủ sở hữu: phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu. Lợi nhuận sau thuế Doanh lợi vốn chủ sở hữu ( ROE) = Vốn chủ sở hữu bình quân Ý nghĩa: Doanh lợi vốn chủ sở hữu phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu và được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm. Chỉ tiêu này càng cao càng tốt. 1.3. Hoàn thiện phân tích tài chính doanh nghiệp 1.3.1. Khái niệm hoàn thiện phân tích tài chính Khái niệm hoàn thiện: theo từ điển tiếng Việt thì hoàn thiện là trọn vẹn, đầy đủ, không cần phải làm gì thêm nữa. (theo http://vi.wikipedia.org/) Quan niệm về hoàn thiện công tác phân tích tài chính: là thực hiện đầy đủ, trọn vẹn nội dung của phân tích tài chính. Cụ thể, trong nội dung phân tích tài chính ( mục 1.2) bao gồm các bước như sau: - Tổ chức đội ngũ phân tích tài chính. - Thu thập thông tin phục vụ phân tích tài chính. - Xây dựng quy trình phân tích. - Lựa chọn phương pháp phân tích tài chính. - Phân tích các chỉ tiêu tài chính. 1.3.2. Chỉ tiêu đánh giá hoàn thiện phân tích tài chính Đánh giá mức độ hoàn thiện phân tích tài chính qua việc thực hiện đầy đủ, trọn vẹn nội dung của phân tích tài chính. 19 Bảng 1.1. Bảng đánh giá mức độ hoàn thiện phân tích tài chính TT Nội dung công tác PTTC 1 Thực hiện đầy đủ, trọn vẹn quy trình phân tích tài chính 2 Bƣớc 1: Tổ chức đội ngũ phân tích tài chính 3 Bƣớc 2: Thu thập thông tin phục vụ phân tích tài chính 4 Bảng cân đối kế toán 5 Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh 6 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 7 Thuyết minh tài chính 8 Thông tin nội bộ doanh nghiệp 9 Thông tin môi trường kinh tế 10 Thông tin ngành 11 Bƣớc 3: Xây dựng quy trình phân tích 12 Bƣớc 4: Lựa chọn phƣơng pháp phân tích tài chính 13 Phương pháp tỷ số 14 Phương pháp so sánh 15 Phương pháp Dupont 16 Bƣớc 5: Phân tích các chỉ tiêu tài chính Đầy đủ 20 Thang Long University Library Chƣa đầy đủ
- Xem thêm -