Phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần Siêu Chung Kỳ

  • Số trang: 64 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 59 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27409 tài liệu

Mô tả:

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VÀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.1. Tổng quan phân tích tài chính doanh nghiệp 1.1.1. Khái niệm tài chính doanh nghiệp Tài chính là một bộ phận cấu thành trong các hoạt động kinh tế của doanh nghiêp, có mối liên hệ hữu cơ và tác động qua lại đối với các hoạt động kinh tế khác. Mối quan hệ tác động qua lại này phản ánh và thể hiện sự tác động gắn bó và thường xuyên giữa phân phối sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế. Các quan hệ tài chính chủ yếu bao gồm: - Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước: Đây là mối quan hệ phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nước, khi Nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp. - Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính: Quan hệ này được thể hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ. Trên thị trường tài chính, doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, có thể phát hành cổ phiếu và trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn. Ngược lại, doanh nghiệp phải trả lãi vay và vốn vay, trả lãi cổ phần cho các nhà tài trợ. Doanh nghiệp cũng có thể gửi tiền vào ngân hàng, đầu tư chứng khoán bằng số tiền tạm thời chưa sử dụng. - Quan hệ doanh nghiệp với các thị trường khác: Trong nền kinh tế, doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trên thị trường hàng hóa, dịch vụ, thị trường sức lao động. Đây là những thị trường mà tại đó doanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng, tìm kiếm lao động v.v… Điều quan trọng là thông qua thị trường, doanh nghiệp có thể xác định được nhu cầu hàng hóa, dịch vụ cần thiết cung ứng. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất và tiếp thị nhằm thỏa mãn nhu cầu thị trường. - Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: Đây là quan hệ giữa các bộ phần sản xuất - kinh doanh, giữa cổ đông và người quản lý, giữa cổ đông và chủ nợ, giữa quyền sử dụng vốn và quyền sở hữu vốn. Các mối quan hệ này được thể hiện thông qua hàng loạt chính sách của doanh nghiệp như: chính sách cổ tức (phân phối thu nhập), chính sách đầu tư, chính sách về cơ cấu vốn, chi phí v.v… 1 Tóm lại, tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thái giá trị phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp để phục vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và các nhu cầu chung của xã hội. 1.1.2. Chức năng và vai trò của tài chính doanh nghiệp a. Chức năng - Chức năng huy động vốn: Khi thành lập doanh nghiệp phải có một lượng vốn đầu tư tối thiểu, số vốn này có thể là do ngân sách nhà nước cấp (đối với doanh nghiệp nhà nước) hoặc do các cổ đông đóng góp vốn hay hùn vốn dưới hình thức cổ phần (đối với các Công ty cổ phần, Công ty TNHH). Để tồn tại và phát triển, trong quá trình sản xuất kinh doanh doanh nghiệp vẫn phải tiếp tục đầu tư trung và dài hạn. Doanh nghiệp có thể huy động vốn bên trong doanh nghiệp như vốn tự tài trợ hoặc tìm kiếm vốn từ các nguồn bên ngoài. Với chức năng tổ chức vốn, tài chính doanh nghiệp không chỉ đơn thuần thực hiện huy động vốn mà còn phải tiến hành phân phối sao cho doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn một cách hiệu quả nhất. Để đạt được mục tiêu này, trong từng thời kì kinh doanh doanh nghiệp phải xác định được nhu cầu về vốn là bao nhiêu và cơ cấu như nào là hợp lí. - Chức năng phân phối: Sau khi huy động và sử dụng nguồn vốn để tạo ra kết quả là việc tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, doanh nghiệp phải tiến hành phân phối kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Sau mỗi kì kinh doanh số tiền thu được bao gồm cả giá vốn và chi phí phát sinh do vậy các doanh nghiệp có thể phân phối theo dạng chung như sau: + + Bù đắp chi phí phân bổ cho hàng hóa đã tiêu thụ bao gồm: trị giá vốn hàng hóa, chi phí lưu thông và các chi phí khác mà doanh nghiệp đã bỏ ra như lãi vay ngân hàng, chi phí giao dịch, lợi tức trái phiếu, khấu hao máy móc… Phần còn lại sau khi bù đắp các chi phí gọi là lợi nhuận của doanh nghiệp. Phần lợi nhuận này, một phần phải nộp cho ngân sách nhà nước dưới hình thức thuế, phần còn lại tùy thuộc vào qui định của từng doanh nghiệp mà tiến hành chia lãi liên doanh, trả lãi cổ phần hay trích lập các quỹ doanh nghiệp. 2 Thang Long University Library b. Vai trò Sự phát triển hay suy thoái của sản xuất kinh doanh gắn liền với sự mở rộng hay thu hẹp nguồn lực tài chính. Tài chính doanh nghiệp đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, cụ thể như sau: - Tài chính doanh nghiệp là một công cụ khai thác, thu hút các nguồn tài chính nhằm đảm bảo nhu cầu vốn cho đầu tư kinh doanh. - Tài chính doanh nghiệp có vai trò trong việc sử dụng vốn một cách tiết kiệm và hiệu quả. - Tài chính doanh nghiệp có vai trò đòn bẩy kích thích và điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh. - Tài chính doanh nghiệp là công cụ quan trọng để kiểm tra các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. 1.1.3. Khái niệm , ý nghĩa và nhiệm vụ của phân tích tài chính doanh nghiệp Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp Phân tích tài chính doanh nghiệp là việc xem xét đánh giá kết quả của việc quản lí và điều hành tài chính của doanh nghiệp thông qua các số liệu trên báo cáo tài chính, phân tích những gì đã làm được, những gì chưa làm được và dự đoán những gì sẽ xảy ra đồng thời tìm ra nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp để từ đó đề ra các giải pháp tận dụng những điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu và nâng cao chất lượng quản lí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Phân tích tài chính là việc ứng dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích đối với các báo cáo tài chính tổng hợp và mối liên hệ giữa các dữ liệu để đưa các dự báo và các kết luận hữu ích trong phân tích hoạt động kinh doanh. Phân tích tài chính còn là việc sử dụng báo cáo tài chính để phân tích năng lực và vị thế tài chính của một công ty, và để đánh giá năng lực tài chính trong tương lai. Ý nghĩa phân tích tài chính doanh nghiệp Phân tích báo cáo tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh các số liệu tài chính hiện hành và quá khứ. Qua phân tích tài chính, nhà quản trị mới đánh giá đầy đủ, chính xác tính hình phân phối, sử dụng và quản lí các loại vốn, nguồn vốn, vạch rõ khả năng tiềm tàng về vốn của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó đề ra biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Phân tích tài chính là công cụ quan trọng trong các chức năng quản trị có hiệu quả ở doanh nghiệp. Phân tích là quá trình nhận thức hoạt động kinh doanh, là cơ sở 3 cho ra quyết định đúng đắn trong tổ chức quản lí, nhất là chức năng kiểm tra, đánh giá và điều hành hoạt động kinh doanh để đạt các mục tiêu kinh doanh. Phân tích tài chính là công cụ không thể thiếu phục vụ công tác quản lí của cấp trên, cơ quan tài chính, ngân hàng như: đánh giá tình hình thực hiện các chế độ, chính sách về tài chính của Nhà nước, xem xét việc cho vay vốn… Nhiệm vụ của phân tích tài chính doanh nghiệp Nhiệm vụ của phân tích các báo cáo tài chính ở doanh nghiệp là căn cứ trên những nguyên tắc về tài chính doanh nghiệp để phân tích đánh giá tình hình thực trạng và triển vọng của hoạt động tài chính, chỉ ra được những mặt tích cực và hạn chế của việc thu chi tiền tệ, xác định nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố. Trên cơ sở đó đề ra các biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để đạt được các mục tiêu chủ yếu đó, nhiệm vụ cơ bản của phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp là: 1.2. Phân tích khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp. Phân tích diễn biến sử dụng tài sản và nguồn hình thành tài sản. Phân tích tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Phân tích tình hình dự trữ TSLĐ. Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Phân tích các chỉ số hoạt động. Phân tích các hệ số sinh lời. Các phƣơng pháp sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp 1.2.1. Phương pháp so sánh So sánh là một phương pháp được sử dụng rất rộng rãi trong PTKD. Sử dụng phương pháp so sánh trong phân tích là đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế đã được lượng hoá có cùng một nội dung, một tính chất tương tự để xác định xu hướng và mức độ biến động của các chỉ tiêu đó. Nó cho phép chúng ta tổng hợp được những nét chung, tách ra được những nét riêng của các hiện tượng kinh tế đưa ra so sánh, trên cơ sở đó đánh giá được các mặt phát triển hay các mặt kém phát triển, hiệu quả hay kém hiệu quả để tìm các giải pháp nhằm quản lý tối ưu trong mỗi trường hợp cụ thể. Điều kiện so sánh: Các chỉ tiêu so sánh phải phù hợp về yếu tố không gian, thời gian; cùng nội dung kinh tế, đơn vị đo lường, phương pháp tính toán, quy mô và điều kiện kinh doanh. - So sánh số tuyệt đối là so sánh mức độ đạt được của chỉ tiêu kinh tế ở những khoảng thời gian và không gian khác nhau nhằm đánh giá sự biến động về qui mô, khối lượng của chỉ tiêu kinh tế đó. 4 Thang Long University Library ∆A = A1 – A0 - So sánh bằng số tương đối %∆A = ×100% Trong đó: A1: Giá trị kì phân tích A0: Giá trị năm trước đó 1.2.2. Phương pháp phân tích tỷ số Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ được phân thành các nhóm tỷ lệ đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp. Các nhóm chỉ tiêu đó là: - Tỷ lệ về khả năng thanh toán: Được sử dụng để đánh giá khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. - Tỷ lệ và khả năng cân đối vốn, cơ cấu vốn và nguồn vốn: Qua chỉ tiêu này phản ánh mức độ ổn định và tự chủ tài chính. - Tỷ lệ về khả năng hoạt động kinh doanh: Đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho việc sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp. - Tỷ lệ về khả năng sinh lời: Phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp nhất của doanh nghiệp. Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ, từng bộ phận của hoạt động tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau, tùy theo giác độ phân tích, người phân tích lựa chọn nhóm chỉ tiêu phù hợp để phục vụ mục tiêu phân tích của mình. 1.3. Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp 1.3.1. Phân tích khái quát tình hình tài chính Trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, có nhiều nghiệp vụ làm tăng giảm tài sản và nguồn vốn. Việc phân tích tình hình biến động tài sản và nguồn vốn giúp người sử dụng thông tin có cái nhìn tổng quát về tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó thấy được hiệu quả sử dụng nguồn vốn trong doanh nghiệp. Việc phân tích chủ yếu dựa trên bảng cân đối kế toán trong thời gian gần đây của doanh nghiệp. a. Phân tích kết cấu và biến động tài sản Phân tích khái quát về tài sản hướng đến đánh giá cơ sở vật chất, tiềm lực kinh tế trong quá khứ và hiện tại, và những ảnh hưởng đến tương lai của doanh nghiệp. Phân tích sự biến động các khoản mục TSNH và tài sản dài hạn nhằm giúp người phân tích tìm hiểu sự thay đổi về giá trị và tỷ trọng của từng khoản mục tài sản trên tổng tài sản qua từng thời kỳ như thế nào, sự thay đổi này bắt nguồn từ những dấu hiệu tích cực 5 hay thụ động trong quá trình sản xuất kinh doanh, có phù hợp với việc nâng cao năng lực kinh tế để phục vụ cho chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hay không. Thứ nhất, xem xét biến động của tổng tài sản cũng như từng loại tài sản thông qua việc so sánh giữa đầu kỳ với cuối kỳ cả về số tuyệt đối lẫn tương đối của tổng tài sản cũng như chi tiết từng loại tài sản. Qua đó thấy được sự biến động về quy mô kinh doanh, năng lực kinh doanh của doanh nghiệp. Cụ thể là sự biến động của tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn, sự biến động của hàng tồn kho, các khaonr phải thu, TSCD,… Thứ hai, xem xát việc phân bổ tài sản có hợp lý hay không và điều đó tác động như thế nào đến quá trình sản xuất kinh doanh. Để xem xét việc phân bổ tài sản cần xác định tỷ trọng của từng loại tài sản so với tổng tài sản đồng thời so sánh tỷ trọng từng loại giữa cuối kỳ và đầu kỳ. Các tỷ trọng tăng hay giảm giữa đầu kỳ và cuối kỳ có hợp lý hay không tùy thuộc vào từng ngành nghề kinh doanh cụ thể, sự phù hợp của doanh nghiệp với sự biến động của thị trường và sự biến động của sản xuất trong một kỳ. Nếu là doanh nghiệp sản xuất thì tỷ trọng lượng vật liệu dự trữ so với tổng tài sản tăng đủ cho nhu cầu sản xuất là hợp lý. b. Phân tích kết cấu và biến động nguồn vốn Để đánh giá khái quát tình hình huy động vốn của doanh nghiệp ta có thể sử dụng các chỉ tiêu như tổng nguồn vốn, tổng số nợ phải trả và tổng vốn chủ sở hữu. Thông qua thông số biểu hiện giá trị của các chỉ tiêu ấy, ta có thể xem xét tỷ trọng cảu từng khoản mục nguồn vốn chiếm trong tổng nguồn vốn ở từng thời điểm cuối kỳ. Dựa trên các chỉ tiêu đó cùng với sử dụng phương pháp so sánh: so sánh sự biến động của cơ cấu nguồn vốn và so sánh sự biến động của tổng nguồn vốn theo thời gian cả về số tuyệt đối và tương đối để có thể thấy được tình hình tạo lập và huy động vốn về quy mô. Ta có thể thấy được mức độ biến động về số tuyệt đối của từng chỉ tiêu và các nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi trong tỷ trọng của từng bộ phận trong tổng nguồn vốn thông qua chênh lệch về mặt tuyệt đối của từng chỉ tiêu. Qua phân tích tỷ lệ gia tăng, có thể thấy được biến động về mặt tương và tỷ trọng đối theo thời gian của các chỉ tiêu. Bên cạnh đó, biến động của cơ cấu vốn theo thời gian các nhà phân tích có thể đánh giá được tính hợp lý trong cơ cấu huy động vốn, chính sách huy động cũng như xu hướng biến động của cơ cấu nguồn vốn huy động. Việc tăng số vốn chủ sở hữu trong kỳ về quy mô sẽ tăng cường mức độ độc lập, tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp và ngược lại. Còn sự tăng lên về quy mô của nợ phải trả trong kỳ đồng nghĩa với việc giảm tính tự chủ trong tài chính của doanh nghiệp và ngược lại. 6 Thang Long University Library c. Thực trạng quản lý tài sản – nguồn vốn của doanh nghiệp thông qua các bảng báo cáo tài chính Việc đưa ra các chính sách quản lý tài sản – nguồn vốn cho doanh nghiệp nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến việc tìm nguồn vốn cần thiết mua sắm tài sản và hoạt động của doanh nghiệp, phân bổ có giới hạn nguồn vốn cho những mục đích sử dụng khác nhau đồng thời đảm bảo cho các nguồn vốn được sử dụng một cách hữu hiệu để đạt được mục tiêu đề ra. Có ba chính sách quản lý tài sản – nguồn vốn là: - Chính sách mạo hiểm - Chính sách thận trọng - Chính sách dung hòa Chính sách mạo hiểm Chính sách này thường duy trì TSNH ở mức thấp và nợ ngắn hạn ở mức cao. Công ty sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để tập trung tài trợ cho tài sản dài hạn nhằm mục đích tối thiểu hóa chi phí lãi vay phải trả. Công ty chỉ giữ mức tối thiểu tiền và chứng khoán khả thị, dựa vào sự quản lý có hiệu quả và khả năng vay ngắn hạn để đáp ứng các nhu cầu không dự báo trước. Tương tự như vậy thì khoản hàng lưu kho và phải thu khách hàng của công ty cũng mang giá trị thấp hơn. Với nợ ngắn hạn gồm phải trả người bán, vay ngắn hạn, nhiều loại chi phí nợ đọng và phần nợ dài hạn đến hạn. Cách tiếp cận chính sách mạo hiểm tăng lệ thuộc của doanh nghiệp vào nợ ngắn hạn. Chi phí thấp hơn dẫn đến thu nhập trước thuế và lãi (EBIT) cao hơn: Do khoản phải thu khách hàng ở mức thấp nên chi phí quản lý dành cho công nợ cũng như tổng giá trị các khoản nợ không thể thu hồi được sẽ giảm đi. Thêm vào đó, việc doanh nghiệp dự trữ ít hàng tồn kho hơn cũng sẽ tiết kiệm được chi phí lưu kho và tránh khả năng tổn thất do lỗi thời, mất cắp… Hơn nữa, chính sách mạo hiểm cũng cho phép vay vốn với mức lãi suất thấp hơn so với doanh nghiệp phải trả cho tài trợ dài hạn. Nhờ tiết kiệm được chi phí nên EBIT của doanh nghiệp cũng sẽ tăng. Vì rủi ro cao hơn nên thu nhập theo yêu cầu cũng sẽ cao hơn: Theo đuổi chiến lược này doanh nghiệp có thể gặp những rủi ro như cạn kiệt tiền hay không đủ tiền có được chính sách quản lý hiệu quả, mất doanh thu khi dự trữ thiếu hụt hàng tồn kho, khi sử dụng chính sách tín dụng chặt chẽ để duy trì khoản phải thu khách hàng thấp. Những rủi ro này đánh đổi bởi chi phí thấp hơn nên lợi nhuận kỳ vọng tăng lên. Chính sách thận trọng Chính sách này ngược lại với chính sách mạo hiểm, chính sách thận trọng duy trì TSNH ở mức cao còn nợ ngắn hạn ở mực thấp, tức là công ty sử dụng nợ dài hạn để đầu tư cho tài sản ngắn hạn.Với cách tiếp cận này, doanh nghiệp không bị lệ thuộc vào 7 nợ ngắn hạn. Bên cạnh đó, việc dự trữ TSNH nhiều và giảm nợ ngắn hạn làm cho khả năng thanh toán ngắn hạn và khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp tăng cao. Nếu doanh nghiệp có tỷ trọng nợ ngắn hạn thấp thì doanh nghiệp sẽ có sự linh hoạt do nợ ngắn hạ dễ dàng huy động. Cũng tương tự như vậy, doanh nghiệp có thể đẩy giá khoản phải trả cho người bán tăng cao mà không dễ dàng bị rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Mức linh hoạt của doanh nghiệp sẽ giảm đi khi tỷ trọng nợ ngắn hạn tăng lên. Chi phí cao hơn dẫn đến thu nhập trước thuế và lãi vay (EBIT) thấp hơn: Do khoản phải thu khách hàng ở mức cao nên chi phí quản lý dành cho công nợ cũng như tổng giá trị các khoản nợ không thể thu hồi được sẽ tăng lên. Thêm vào đó, việc doanh nghiệp dự trữ nhiều hàng tồn kho cũng sẽ tăng chi phí lưu kho. Và chi phí cũng cao nên EBIT của doanh nghiệp sẽ giảm. Bởi chính sách thân trọng có rủi ro thấp hơn nên thu nhập yêu cầu cũng sẽ thấp hơn. Chính sách dung hòa Sử dụng vốn dài hạn tài trợ cho tài sản dài hạn là làm cân bằng luồng tiền tạo ra từ tài sản với kỳ hạn của nguồn tài trợ. Tăng tâ thời vào TSNH nên được tài trợ bằng nguồn vốn ngắn hạn mà có thể được thanh toán khi TSNH giảm. Sở dĩ có điều này là vì TSNH có khả năng quay vòng nhanh nên được tài trợ bằng nguồn vốn ngắn hạn để tiết kiệm chi phí lãi vay. Còn TSDH mà cần nhiều thời gian để quy đổi ra thành tiên thì nên được tài trợ bằng vốn dài hạn để đảm bảo khả năng tự chủ tài chính, khả năng thanh toán. Đa số các doanh nghiệp sử dụng chiến lược quản lý vốn thận trọng. Tuy nhiên phải tủy thuộc vào giai đoạn phát triển, những thông tin kinh tế trong và ngoài nước mới có thể quyết định sử dụng chính sách nào cho hợp lý nhằm tối đa hóa lợi nhuận. 1.3.2. Phân tích các chỉ tiêu chủ yếu về tình hình tài chính Phân tích khả năng thanh toán là đánh giá tình hợp lý về sự biến động các khoản phải thu, phải trả, tìm ra những nguyên nhân dẫn đến sự trì trệ trong thanh toán nhằm giúp công ty làm chủ tình hình tài chính đảm bảo sự phát triển trong tương lai. a. Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán  Phân tích các khoản phải thu – Các khoản phải trả Phân tích các khoản phải thu: là quá trình so sánh, tổng hợp các khoản nợ phải thu với tổng nguồn vốn của công ty, sau đó so sánh các khoản mục cuối kỳ và đầu năm, từ đó thấy được sự tiến bộ trong thu hồi công nợ. 8 Thang Long University Library Tỷ lệ giữa các khoản phải thu và tổng vốn Các khoản phải thu = × 100 Tổng nguồn vốn Phân tích các khoản phải trả : là quá trình so sánh tổng số các khoản phải trả với tổng nguồn vốn của công ty, sau đó so sánh các khoản mục cuối kỳ và đầu kỳ. Tỷ số này phản ánh mật độ nợ trong tổng tài sản của doanh nghiệp từ đó cho thấy tài sản sở hữu thực chất của doanh nghiệp là bao nhiêu. Tỷ số này tăng lên thì mật độ cần thanh toán tăng, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Tỷ số nợ = Tổng nợ phải trả Tổng nguồn vốn × 100  Hệ số vốn luân chuyển Để có cái nhìn tổng quát về khả năng thanh toán của công ty, ta đi xem xét hệ số vốn luân chuyển. Vốn luân chuyển là toàn bộ tài sản lưu động bao gồm: tiền mặt, các khoản phải thu, chứng khoán chuyển nhượng, hàng tồn kho và chi phí trả trước. Vốn luân chuyển ròng = =Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ tài chính giữa các khoản phải trả có khả năng thanh toán trong kỳ và các khoản phải thanh toán trong ký. Việc phân tích các tỷ lệ về khả năng thanh toán không những giúp cho các chủ nợ giảm được rủi ro trong quan hệ tín dụng và đảm bảo được vốn của mình mà còn giúp cho bản thân doanh nghiệp thấy được khả năng chi trả thực tế để từ đó có biện pháp kịp thời trong việc điều chỉnh các khoản mục tài sản cho hợp lý nhằm nâng cao khả năng thanh toán.  Khả năng thanh toán nhanh bằng tiền [6, tr.271] Hệ số thanh toán nhanh bằng tiền = Tiền Các khoản tƣơng đƣơng tiền Nợ phải trả ngắn hạn Tỷ số thanh toán nhanh bằng tiền là tỷ số đo lường số tiền hiện có tại công ty có đủ thanh toán các khoản nợ ngắn hạn phải trả hay không. Tỷ số này chỉ ra lượng tiền dự trữ so với khoản nợ hiện hành. Tỷ số thanh toán nhanh bằng tiền cho biết ngay sự khủng hoảng về tài chính của công ty, bởi vì tỷ số này rất nhạy cảm với bất kì một hoạt động nhỏ nào trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Chắc chắn rằng, đối với bất kì công ty nào đều mong muốn có tỷ số thanh toán nhanh bằng tiền hợp lý, nghĩa là có lượng tiền đầy đủ để trang trải cho các hoạt động của công ty. Tuy nhiên, nếu tỷ số thanh toán nhanh bằng tiền quá cao, thì quyết định đầu tư cần được xem xét hơn là dự trữ tiền. 9  Khả năng thanh toán hiện thời [6, tr.272] Khả năng thanh toán hiện thời = Nợ ngắn hạn Tỷ số thanh toán hiện thời thể hiện mối quan hệ tương đối giữa TSNH và nợ ngắn hạn, được xác định bằng giá trị TSNH chia cho giá trị nợ ngắn hạn phải trả. Giá trị TSNH bao gồm tiền, chứng khoán ngắn hạn, khoản phải thu và hàng tồn kho. Nợ ngắn hạn bao gồm khoản phải trả người bán, nợ ngắn hạn ngân hàng, nợ dài hạn đến hạn trả, phải trả thuế và các khoản chi phí phải trả ngắn hạn khác. Khả năng thanh toán hiện thời cho biết mỗi đồng nợ ngắn hạn phỉa trả của công ty thì có bao nhiêu đồng TSNH có thể sử dụng để thanh toán. Khi tỷ số giảm cho thấy khả năng thanh toán giảm và cũng là dấu hiệu báo trước về những khó khăn tài chính có thể xảy ra. Nếu tỷ số này tăng nghĩa là công ty luôn sẵn sàng thanh toán các khoản nợ. Tuy nhiên nếu tỷ số này quá cao sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn.  Khả năng thanh toán nhanh [6, tr.274] Khả năng thanh toán nhanh = - Hàng tồn kho Nợ ngắn hạn Khả năng thanh toán nhanh tính bằng giá trị tài sản lưu động trừ đi giá trị hàng tồn kho sau đó chia cho giá trị nợ ngắn hạn. Tỷ số này được tính toán dựa trên những TSNH có khả năng chuyển đổi nhanh thành tiền, không bao gồm khoản mục hàng tồn kho, vì hàng tồn kho là tài sản khó hoán chuyển thành tiền, nhất là hàng tồn kho ứ đọng kém phẩm chất. Nếu tỷ số này lớn hơn 0.5 thì tình hình thanh toán của công ty tốt, có nhiều thuận lợi trong thanh toán. Nếu tỷ lệ này nhỏ hơn 0.5 thì tình hình thanh toán của công ty gặp khó khăn. Xong nếu tỷ lệ này cao quá lại không tốt vì nó thể hiện việc quay vòng vốn chậm, hiệu quả sử dụng vốn không cao. b. Nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng quản lí tài tản  Vòng quay hàng tồn kho [6, tr.292- 293] Giá vốn hàng bán Vòng quay hàng tồn kho = Bình quân giá trị hàng tồn kho Số ngày hàng tồn kho = Số ngày trong năm Số vòng quay hàng tồn kho Số vòng quay hàng tốn kho được xác định bằng công thức lấy doanh thu chia cho bình quân giá trị hàng tồn kho. Bình quân giá trị hàng tồn kho bằng giá trị hàng tồn kho đầu kỳ cộng giá trị hàng tồn kho cuối kỳ chia đôi. 10 Thang Long University Library Vòng quay hàng tồn kho cho biết bình quân hàng tồn quay được bao nhiêu vòng trong kỳ để tạo ra doanh thu. Chỉ số này đo lường khả năng thanh khoản của hàng tồn kho. Chỉ tiêu số ngày hàng tồn kho cho biết bình quân hàng tồn kho mất bao nhiêu ngày. Nếu tỉ số này quá cao, doanh thu bán hàng sẽ bị giảm do không có hàng để bán. Còn nếu chỉ số này quá thấp, chi phí phát sinh lien quan đến hàng tồn kho tăng. Tuy nhiên, số vòng quay hàng tồn kho khác nhau một cách đáng kể giữa các ngành kinh doanh. Những công ty kinh doanh mặt hàng dễ hỏng hay dễ giảm giá thì vòng quay hàng tồn kho cao. Còn những công ty kinh doanh hàng khó hư hỏng thì vòng quay hàng tồn kho sẽ thấp hơn.  Vòng quay khoản phải thu [6, tr.295-296] Vòng quay khoản phải thu = Doanh thu thuần Khoản phải thu bình quân Vòng quay các khoản phải thu dùng để đo lường tính thanh khoản ngắn hạn cũng như hiệu quả hoạt động của công ty. Tỷ lệ này dùng để đo lường hiệu quả và chất lượng quản lý khoản phải thu. Vòng quay khoản phải thu cao cho biết khả năng thu hồi nợ tốt, nhưng cũng cho biết chính sách bán chịu nghiêm ngặt hơn sẽ làm mất doanh thu và lợi nhuận . Vòng quay khoản phải thu thấp cho biết chính sách bán chịu không hiệu quả có nhiều rủi ro. Hệ số này trên nguyên tắc càng thấp càng tốt.Tuy nhiên, còn phải xem xét lại các mục tiêu và chính sách của doanh nghiệp như: mục tiêu mở rộng thị trường, chính sách tín dụng... Kỳ thu tiền bình quân được tính bằng công thức sau: Kỳ thu tiền bình quân = Số ngày trong năm Số vòng quay khoản phải thu Chỉ tiêu này dùng để đánh giá khả năng thu hồi vốn trong thanh toán của doanh nghiệp. Kỳ thu tiền bình quân cho biết bình quân doanh nghiệp mất bao nhiêu ngày cho một khoản phải thu. Vòng quay khoản phải thu càng cao thì kì thu tiền càng thấp và ngược lại.  Vòng quay TSNH [6, tr.298] Vòng quay TSNH = Doanh thu Bình quân giá trị 11 Vòng quay TSNH được tính bằng công thức lấy doanh thu chia cho bihf quân giá trị TSNH tức là giá trị TSNH đầu kì cộng với cuối kỳ rồi chia đôi. TSNH bao gồm cả tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn, các khoản phải thu, chi phí trả trước ngắn hạn và hàng tồn kho. Tỷ số vòng quay TSNH phản ánh hiệu quả sử dụng TSNH của công ty, cho biết mỗi đồng tái sản ngắn hạn tạo ra được bao nhiêu động doanh thu hay cứ 100 đồng TSNH tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận nếu như lấy doanh thu chia cho bình quân TSNH rồi nhân với 100.  Vòng quay tài sản dài hạn [6, tr.300] Vòng quay tài sản dài hạn = Doanh thu Bình quân giá trị tài sản dài hạn ròng Tỷ số này đo lường hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn, chủ yếu quan tâm đến TSCD như máy mó, thiết bị, nhà xưởng và các khoản đầu tư tài chính dài hạn. Tỷ số này được tính bằng cách lấy doanh thu chia cho bình quân giá trị tài sản dài hạn ròng, tức là giá trị tài sản dài hạn sau khi đã trừ khấu hao. Tỷ số vòng quay tài sản dài hạn phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn của công ty, tức là 1 đồng tài sản dài hạn của công ty thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu.  Vòng quay vốn lưu động [6, tr.305] Vòng quay vốn lưu động = Doanh thu Bình quân vốn lƣu động Vòng quay vốn lưu động được tính bằng cách lấy doanh thu chia cho bình quân vốn lưu động, tức là lấy giá trị vốn lưu động đầu kì công với cuổi kỳ rồi chia đôi. Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động bình quân tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao. Muốn làm như vậy, thì cần phải rút ngắn chu kỳ sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ hàng hoá.  Hiệu quả sử dụng tổng tài sản (Vòng quay tổng tài sản) [1, tr.49] Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Doanh thu Tổng tài sản Hiệu suất sử dụng tài sản đo lường hiệu quả sử dụng tài sản nói chung của doanh nghiệp nói chung không phân biệt TSCĐ hay TSLĐ nhằm giúp chủ doanh nghiệp thấy được hiệu quả đầu tư và hiệu quả sử dụng tài sản trong sản xuất kinh doanh. Tỷ lệ này cho biết một đồng tài sản đem lại bao nhiêu đồng doanh thu. Nó cũng thể hiện số vòng quay trung bình của toàn bộ vốn doanh nghiệp trong kỳ báo cáo. Hệ số này làm rõ khả năng tần dụng vốn triệt để vào sản xuất kinh doanh của doanh 12 Thang Long University Library nghiệp. Việc tăng vòng quay vốn kinh doanh này là yếu tố quan trọng làm tăng lợi nhuận chi doanh nghiệp đồng thời làm tăng khả năng cạnh tranh, tăng uy tín của doanh nghiệp trên thị trường. c. Nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng quản lí nợ Trong tài chính công ty, mức độ sử dụng nợ để tài trợ cho hoạt động của công ty gọi là đòn bẩy tài chính. Đòn bẩy tài chính có hai mặt, một mặt nó giúp gia tăng lợi nhuận cho cổ đông, mặt khác nó làm gia tăng rủi ro. Do đó, quản lý nợ cũng quan trọng như quản lý tài sản. Các chỉ tiêu phản ánh khả năng quản lý nợ bao gồm:  Tỷ số nợ trên tổng tài sản [6, tr.312] Tỷ số nợ trên tổng tài sản = Tổng nợ Tổng tài sản Tỷ số nợ trên tổng tài sản đo lường mức độ sử dụng nợ của công ty so với tổng tài sản. Tổng nợ trong công thức này bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn phải trả. Chủ nợ thường thích công ty có tỷ số nợ thấp vì như thế công ty có khả năng trả nợ cao hơn. Ngược lại, cổ đông thích có tỷ số nợ cao vì sử dụng đòn bẩy tài chính nói chung gia tăng khả năng sình lời cho cổ đông. Tuy nhiên muốn biết tỷ số nợ cao hay thấp phải so sánh với tỷ số nợ bình quân. Tỷ số nợ cao có nghĩa là công ty chỉ cần góp phần một nhỏ trên tổng số vốn thì sự rủi ro trong kinh doanh chủ yếu do các chủ nợ gánh chịu. Công ty chỉ đưa ra một lượng vốn nhỏ nhưng được sử dụng lượng tài sản lớn và công ty tạo ra lợi nhuận trên số tiền vay nhiều hơn số lãi phải trả. Nhưng tỷ số nợ càng cao thì mức độ rủi ro càng lớn vì chỉ một khoản nợ đến hạn không trả được sẽ làm cho cán cân thanh toán mất cân bằng, xuất hiện nguy cơ phá sản.  Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu [6, tr.313] Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu = Tổng nợ Vốn chủ sở hữu Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu phản ánh mức độ sử dụng nợ của doanh nghiệp so với mức độ sử dụng vốn chủ sở hữu. Về ý nghĩa, tỷ số này cho biết mối quan hệ giữa mức độ sử dụng nợ và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp và mối quan hệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp.  Tỷ số khả năng trả lãi [6, tr.317] Tỷ số khả năng trả lãi = Lợi nhuận trƣớc thuế và lãi vay EBIT Chi phí lãi vay Tỷ số khả năng trả lãi cho biết mối quan hệ giữa chi phí lãi vay và lợi nhuận của công ty, qua đó giúp đánh giá xem công ty có khả năng trả lãi vay hay không. Tỷ số 13 này lớn hơn 1 thì công ty mới có khả năng sử dụng lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh để chi trả lãi vay. Nếu tỷ số này nhỏ hơn 1 thì có 2 khả năng: (1) công ty nợ quá nhiều và sử dụng nợ vay kém hiệu quả khiến cho lợi nhuận làm ra không đủ chi trả lãi vay, (2) khả năng sinh lợi của công ty quá thấp khiến lợi nhuận làm ra quá thấp không đủ trả lãi vay.  Phân tích đòn bẩy tài chính (DFL) [6, tr.318] DFL = EBIT EBIT- lãi vay Hệ số đòn bẩy tài chính càng lớn sẽ càng làm gia tăng suất sinh lời của vốn chủ sở hữu khi hoạt động có hiệu quả (EBIT > Lãi vay). Ngược lại, khi hoạt động không hiệu quả, mọi rủi ro sẽ dồn lên vai chủ sở hữu (do ưu tiên thanh lí vốn cho chủ sở hữu nằm ở trật tự sau cùng) d. Nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời Khả năng sinh lời là kết quat tổng hợp chịu tác động của nhiều nhân tố, vì vạy, tỷ lệ này phản ánh tổng quát nhất hiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng quản lý của doanh nghiệp. Mục đích chung của các doanh nghiệp là làm sao để bỏ vốn ra mà thu được lợi nhuận lớn nhất có thể.  Tỷ suất sinh lời trên doanh thu [6, tr.337-338] ROS = Lợi nhuận ròng Doanh thu ầ x 100 Tỷ số này cho biết lợi nhuận bằng bao nhiêu phần trăm doanh thu hay cứ 100 đồng doanh thu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này có thể tăng hay giảm giữa các kỳ tùy theo sự thay đổi của doanh thu và chi phí. Nếu doanh thu giảm hay tăng không đáng kể trong khi đó chi phí tăng lên với tốc độ lớn hơn dẫn đến lợi nhuận sau thuế giảm và kết quả là tỷ suất sinh lời trên doanh thu thấp. Khi đó doanh nghiệp cần xác định rõ nguyên nhân của tình hình để tìm ra giải pháp phù hợp.  Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) [6, tr.340] ROA= Lợi nhuận ròng Bình quân tổng tài sản x 100 ROA cho biết bình quân mỗi 100 đồng tài sản của công ty tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tùy vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp được phân tích và phạm vi so sánh mà người ta lựa chọn lợi nhuận trước thuế và lãi vay hay lợi nhuận sau thuế để so sánh với tổng tài sản. 14 Thang Long University Library  Tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE) [6, tr.342] ROE= Lợi nhuận ròng dành cho cổ đông Bình quân giá trị vốn cổ phần phổ thông x 100 Dưới góc độ của chủ doanh nghiệp hay các cổ đông thì chỉ tiêu này quan trọng nhất vì nó phản ánh khả năng sinh lời trên phần vốn mà họ đóng góp vào. ROE cho biết bình quân mỗi 100 đồng vốn chủ sở hữu của công ty tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận dành cho cổ đông. Tăng mức sinh lời vốn chủ sở hữu cũng là mục tiêu của hoạt động quản lý tài chính doanh nghiệp. Kết hợp phương pháp phân tích Dupon trong phân tích tỷ số ROE Dưới góc độ của nhà đầu tư, một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất là tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE). Do vốn chủ sở hữu là một phần của tổng vốn hình thành nên tài sản nên ROE sẽ phụ thuộc vào hệ số lợi nhuận trên tổng tài sản. Mối quan hệ này được thể hiện qua mô hình Dupont như sau: ROE = Lợi nhuận ròng Doanh thu ầ × Doanh thu Tổ ầ ài sản × Tổ ài sản Vốn chủ sở hữu Theo phương trình trên, ROE chịu tác động của ba nhân tố ROS, hiệu suất sử dụng tổng tài sản và hệ số sử dụng vốn chủ sở hữu. Từ đó đưa ra các biện pháp nâng cao hiêu quả của từng nhân tố đẩy nhanh tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu. Nếu ROE của doanh nghiệp thấp hơn giá trị của các doanh nghiệp cùng ngành thì chủ doanh nghiệp có thể sử dụng phương trình Dupont để tìm ra nguyên nhân chính xác. Ngoài ra, các chỉ số trên còn dùng để định hướng phát triển doanh nghiệp trong một thời kỳ, từ đó phát hiện ra những khó khăn mà doanh nghiệp có thêt gặp phải trong tương lai. Nhà phân tích có thể kết hợp phương pháp Dupon với phân tích tỷ lệ để đưa ra kết quả phân tích chính xác nhất. e. Hệ số Zscore – Hệ số nguy cơ phá sản Z = 6.56X1 + 3.26 X2 + 6.72X3 + 1.05X4 Trong đó X1 = Tỷ số Vốn Lưu Động trên Tổng Tài Sản X2 = Tỷ số Lợi Nhuận Giữ Lại trên Tổng Tài Sản X3 = Tỷ Số Lợi Nhuận Trước Lãi Vay và Thuế trên Tổng Tài sản X4 = Giá Trị Thị Trường của Vốn Chủ Sỡ Hữu trên Giá trị sổ sách của Tổng Nợ Điểm ngưỡng cho mô hình này như sau: Nếu Z > 2.6 Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản Nếu 1.2 < Z< 2.6 Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản 15 Nếu Z <1.1 Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao Dùng chỉ số Z để ước tính hệ số Tín Nhiệm Ngoài tác dụng cảnh báo dấu hiệu phá sản, Giáo Sư Esward I. Altman, tác giả của chỉ số này đã phát mình tiếp hệ số Z’’ điều chỉnh. Chỉ số này bằng với chỉ số Z’’+3.25 (các vùng cảnh báo phá sản vì thế cũng được tăng lên 3.25). Ông đã nghiên cứu trên 700 công ty và tìm ra sự tương đồng giữa chỉ số Z’’ điều chỉnh này với hệ số tín nhiệm S&P. Công thức Z điều chỉnh được xác định như sau: Z” điều chỉnh = 3,25 + 6,56X1 + 3,26X2 + 6,72X3 + 1,05X4 Z’’ điều chỉnh Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chƣa có nguy cơ phá sản Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao. Định Mức Tín Nhiệm Z’’ điều chỉnh > 8,15 AAA 7,60 – 8,15 AA+ 7,30 – 7,60 AA 7,00 – 7,30 AA- 6,85 – 7,00 A+ 6,65 – 6,85 A 6,40 – 6,65 A- 6,25 – 6,40 BBB+ 5,85 – 6,25 BBB 5,65 – 5,85 BBB- 5,25 – 5,65 BB+ 4,95 – 5,25 BB 4,75 – 4,95 BB- 4,50 – 4,75 B+ 4,15 – 4,50 B 3,75 – 4,15 B- 3,20 – 3,75 CCC+ 2,50 – 3,20 CCC 1,75 – 2,50 CCC- 0 – 1,75 D 16 Thang Long University Library CHƢƠNG 2. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SIÊU CHUNG KỲ 2.1. Giới thiệu chung về Công ty Cổ phần Siêu Chung Kỳ 2.1.1. Lịch sử hình thành của công ty Cổ phần Siêu Chung Kỳ Công ty Cổ phần Siêu Chung Kỳ, tên giao dịch quốc tế là Sieu Chung Ky Joint Stock company, được thành lập năm 1997, với tổng vốn điều là 8.280.000.000 đồng (tám tỷ hai trăm tám mươi triệu đồng). Trụ sở công ty nằm ở Số 9 Tuệ Tĩnh, Hai Bà Trưng, Hà Nội. Công ty TNHH Siêu Chung Kỳ là công ty chuyên nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tư vấn thiết kế, quản lý dự án và thi công nội thất, đã từng thực hiện những dự án lớn như: chung cư cao cấp khu du lịch thương mại và dịch vụ Văn Giang – Ecopark, cụm công trình bảo tàng – thư viện Quảng Ninh, Nhà quốc hội, khách sạn Samotel, tàu du lịch 5 sao Thuyền Vàng 9999, bệnh viện Khắc Hiếu, bệnh viện Hồng Ngọc, Nội thất sân golf Đại Lại, trung tâm Thông Tấn Việt Nam, … Năm 2005, sau khi chuyển đổi mô hình thành Công ty cổ phần Siêu Chung Kỳ, Ban lãnh đạo công ty đã tiến hành đổi mới toàn diện. Đúc kết từ nguồn nhân lực và kinh nghiệm đã có, Công ty mạnh dạn đầu tư đổi mới hệ thống quản lý và phương pháp làm việc, nâng cấp mua sắm thêm các trang thiết bị phục vụ cho sản xuất và thi công. Kể từ đó đến nay, Siêu Chung Kỳ đã liên tục nhận được những hợp đồng có giá trị, thi công những dự án có qui mô lớn, yêu cầu chất lượng cao. Trải qua hơn 18 năm phát triển vững vàng, Siêu Chung Kỳ đã trở thành một trong những công ty hàng đầu trong lĩnh vực tư vấn thiết kế, thi công nội thất và quản lý dự án. Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam và thế giới đang phát triển mạnh, các dự án Bất động sản ngày càng được đầu tư nhiều, Siêu Chung Kỳ sẽ là sự lựa chọn tin cậy cho các chủ đầu tư, vì tiêu chí hoạt động của Siêu Chung Kỳ luôn luôn là: “nỗ lực mang lại cho khách hàng những công trình đẹp nhất và chất lượng nhất.” 17 2.1.2. Cơ cấu bộ máy tổ chức Sơ đồ 2.1. Sơ đồ bộ máy tổ chức của công ty Cổ phần Siêu Chung Kỳ HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ BAN KIỂM SOÁT PHÒNG KẾ TOÁN PHÒNG THIẾT KẾ PHÒNG KỸ THUẬT THI CÔNG PHÒNG KINH DOANH TỔNG HỢP CÁC ĐỘI THI CÔNG Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban - Phòng kế toán Là đơn vị thực hiện công tác hạch toán kế toán các hoạt động liên quan tới tài sản, vốn và các nguồn lực của Công ty theo các quy định của Nhà nước; tiếp nhận và phân phối các nguồn tài chính, thanh toán, quyết toán với nhà cung câp và khách hàng; thực hiện chế độ báo cáo tài chính kế toán, tính và nộp đủ các nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp và tổ chức lưu trữ, bảo quản chứng từ, sổ sách kế toán, bảo mật số liệu kế toán tài chính theo quy định và điều lệ của Công ty. - Phòng thiết kế Tổ chức thực hiện sản xuất theo tiến độ và kế hoạch của Công ty giao, gồm: Thiết kế, tư vấn đấu thầu, thẩm định, giám sát kỹ thuật và dịch vụ tư vấn khác nếu có; nghiên cứu tài liệu và các chương trình thiết kế, quy hoạch, tính toán kết cấu cũng như các chương trình liên quan phục vụ cho việc thiết kế; đề xuất và bảo vệ các phương án thiết kế trước Chủ nhiệm Đồ án. - Phòng kỹ thuật thi công Là đơn vị thuộc bộ máy quản lý của công ty, có chức năng tham mưu cho HĐQT và Tổng giám đốc về công tác kỹ thuật, công nghệ, định mức và chất lượng sản phẩm; thiết kế, triển khai giám sát về kỹ thuật các sản phẩm làm cơ sở để hạch toán, đấu thầu và ký kết các hợp đồng kinh tế; kết hợp với phòng Kế hoạch Vật tu theo dõi, kiểm tra chất lượng, số lượng hàng hoá, vật tư khi mua vào hoặc xuất ra. 18 Thang Long University Library - Phòng kinh doanh – tổng hợp Có chức năng quan hệ khách hàng, thực hiện các nhiệm vụ trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, dịch vụ của doanh nghiệp như: sản xuất, buôn bán vật liệu xây dựng… - Các đội thi công Trực thuộc Công ty trực tiếp thực hiện xây dựng các công trình do Công ty đã kí kết dưới sự chỉ đạo và giám sát của đội trưởng thi công cũng như Ban giám đốc. Nhận xét chung về cơ cấu tổ chức: Sự đơn giản gọn nhẹ của bộ máy tổ chức là ưu thế của công ty. Ta thấy được sự đơn giản, linh hoạt, có sự phân quyền của bộ máy tổ chức. Các nhân viên thuộc các bộ phận của công ty dễ dàng nắm bắt được mệnh lệnh của ban lãnh đạo trong thời gian ngắn và ngược lại ban lãnh đạo có thể tiếp thu những thông tin phản hồi từ cấp dưới không khó khăn và không tốn nhiều thời gian. Vậy dòng thông tin quản lý và phản hồi trong công ty có sự nhanh chóng và chính xác. Cơ cấu tổ chức gọn nhẹ cũng góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty thông qua mức chi phí giành cho quản lý thấp. Đồng thời bộ máy đó cũng đáp ứng yêu cầu của công ty là phải có chiến lược, chiến thuật đúng đắn để nâng cao hiệu quả kinh doanh. 2.2. Thực trạng tình hình tài chính tại công ty Cổ phần Siêu Chung Kỳ Trong phân tích tài chính, các báo cáo tài chính là nguồn thông tin hữu ích giúp người phân tích đánh giá được một cách cụ thể về tình hình tài chính của doanh nghiệp. Hệ thống báo cáo tài chính của công ty Cổ phần Siêu Chung Kỳ bao gồm: Bản báo cáo kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toán, bản thuyết minh báo cáo tài chính. Hiện tại, công ty chưa tiến hành lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Vì vậy, trong khóa luận này, tác giả chỉ sử dụng hai báo cáo quan trọng nhất là bản báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán. Điều này khiên cho việc phân tích tình hình tài chính của công ty chưa được toàn diện. 2.2.1. Phân tích khái quát tình hình tài chính a. Phân tích kết cấu và biến động tài sản 19 Bảng 2.1. Tình hình tài sản của công ty CP Siêu Chung Kỳ giai đoạn 2012 – 2014. Đơn vị tính: triệu đồng Chỉ tiêu A Tài sản ngắn hạn Chênh lệch 2012 - 2013 Số tuyệt Tỷ lệ đối (%) 22.342,99 67,28 B Tài sản dài hạn 3.863,72 Tổng tài sản 26.206,71 43,99 Chênh lệch 2013 - 2014 Số tuyệt Tỷ lệ đối (%) 72.737,32 130,93 Tỷ trọng 2012 2013 2014 79,09 81,46 74,73 30.731,98 243,0 20,91 18,54 25,27 62,41 103.469,30 151,7 100,00 100,00 100,00 (Nguồn: Bảng cân đồi kế toán) Biểu đồ 2.1. Tỷ trọng tài sản của Công ty giai đoạn 2012 - 2014 100% 20,91 18,54 25,27 80% 60% 40% Tài sản dài hạn 79,09 81,46 74,73 2012 2013 2014 Tài sản ngắn hạn 20% 0% Thông qua các số liệu đã tính toán ở trên, có thể đưa ra những nhân xét đánh giá về tình hình tài sản của công ty như sau: Nhìn tổng quát có thể thấy rằng quy mô tài sản của công ty Cổ phần Siêu Chung Kỳ có xu hướng tăng lên trong 3 năm trở lại đây. Trong giai đoạn 2012 – 2013, tổng tài sản tăng 26.206,71 triệu đồng tương đương với 62,41%. Giai đoạn 2013 – 2014, quy mô tổng tài sản tăng 103.469,30 triệu đồng, tương đương với mức tăng 151,71%. Tài sản ngắn hạn: Giai đoạn 2012 – 2014, tài sản ngắn hạn của công ty tăng liên tục. Trong năm 2013, tài sản ngắn hạn tăng 22.342,99 triệu đồng tương đương 67,28% so với năm 2012. Sang đến năm 2014, tài sản ngắn hạn của công ty tăng mạnh 72.737,32 triệu đồng, tương ứng tăng 130,93% so với năm 2013. Nguyên nhân là: Tài sản dài hạn: Theo bảng số liệu đã tính ở trên, có thể nhận thấy trong 3 năm TSDH của công ty tăng lên một cách đáng kể, năm 2013 tăng 3.863,72 triệu đồng 20 Thang Long University Library
- Xem thêm -