Phân tích môi trường kinh doanh (bên trong, bên ngoài) và chiến lược của ngân hàng vietinbank

  • Số trang: 51 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 718 |
  • Lượt tải: 2
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

MỤC LỤC PHẦN 1 GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM -VIETINBANK 1.1 Giới thiệu về ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam 1.2. Ngành nghề kinh doanh của Vietinbank 1.2.1 Hoạt động chính là dịch vụ tài chính 1.2.2 Dịch vụ phi tài chính 1.3. Các hoạt động kinh doanh chiến lược (SBU) của Vietinbank 1.3.1 Huy động vốn 1.3.2 Hoạt động tín dụng 1.3.3 Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ 1.3.4 Các hoạt động khác 1.4. Tầm nhìn và sứ mạng kinh doanh của Vietinbank 1.4.1 Tầm nhìn chiến lược 1.4.2 Sứ mạng kinh doanh của Vietinbank 1.5 Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản PHẦN 2 PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI 2.1. Ngành kinh doanh của doanh nghiệp 2.1.1 Tăng trưởng của ngành 2.1.2 Giai đoạn trong chu kỳ phát triển của ngành 2.2. Đánh giá tác động của môi trường vĩ mô 2.2.1 Nhân tố chính trị-pháp luật 2.2.2 Nhân tố văn hóa - xã hội 2.2.3 Nhân tố công nghệ 2.2.4 Nhân tố kinh tế 2.3. Đánh giá cường độ cạnh tranh 2.3.1 Tồn tại các rào cản ra nhập ngành 2.3.2 Quyền lực thương lượng từ phía các nhà cung cấp 2.3.3 Quyền lực thương lượng từ phía khách hàng 2.3.4 Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành 2.3.5 Đe dọa từ sản phẩm thay thế 2.3.6 Quyền lực thương lượng của các bên liên quan khác 2.4 Các nhân tố thành công chủ yếu trong ngành 2.4.1 Năng lực kiểm soát rủi ro 2.4.2 Uy tín của NH 2.4.3 Tỷ lệ lãi xuất tiền gửi và tiền vay 2.4.4 Dịch vụ chăm sóc khách hàng 2.4.5 Sự thuận tiện trong giao dịch 2.4.6 Công nghệ 2.5 Xây dựng mô thức EFAS PHẦN 3 PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN TRONG 3.1. Sản phẩm và thị trường 3.1.1 Sản phẩm chủ yếu 3.1.2 Thị trường 3.2. Đánh giá các nguồn lực, năng lực dựa trên chuỗi giá trị của doanh nghiệp 3.2.1 Hoạt động cơ bản 3.2.2 Hoạt động bổ trợ 3.3. Xác định các năng lực cạnh tranh 3.3.1 Năng lực tài chính 3.3.2 Năng lực thị phần 3.3.3 Năng lực nhân lực 3.3.4 Năng lực công nghệ 3.3.5 Năng lực cạnh tranh về hệ thống kênh phân phối 3.3.6 Năng lực cạnh tranh về mở rộng và phát triển dịch vụ 3.3.7 Năng lực cạnh tranh về thương hiệu 3.4. Vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp 3.5. Xây dựng môt thức IFAS 3.6. Thiết lập mô thức TOWS 3.6.1 Các điểm mạnh (Strengths) 3.6.2 Các điểm yếu (Weaknesses) 3.6.3 Các thách thức (Threats) 3.6.4 Các cơ hội (Opportunities) PHẦN 4 CHIẾN LƯỢC CỦA VIETINBANK 4.1. Chiến lược cạnh tranh và các chính sách triển khai 4.1.1 Chiến lược dẫn đầu về chi phí 4.1.2 Chiến lược khác biệt hóa 4.1.3 Chiến lược tập trung 4.2. Chiến lược tăng trưởng và các chính sách triển khai 4.2.1 Chiến lược chuyên môn hóa 4.2.2 Chiến lược đa dạng hóa 4.2.3 Chiến lược tích hợp 4.2.4 Chiến lược cường độ 4.2.5 Chiến lược liên minh, hợp tác 4.2.6 Chiến lược khác PHẦN 5 ĐÁNH GIÁ TỔ CHỨC CỦA VIETINBANK 5.1. Loại hình cấu trúc tổ chức 5.2. Phong cách lãnh đạo chiến lược 5.3. Nhận xét về văn hóa doanh nghiệp A. LỜI MỞ ĐẦU Với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay ngành ngân hàng là một trong những ngành chịu ảnh hưởng mạnh mẽ và rõ rệt nhất. Hội nhập có thể đem đến nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng đem lại lại không ít những nguy cơ, đe dọa và thách thức cho ngành ngân hàng. Hiện nay hệ thông Ngân hàng trung ương Việt Nam có mạng lưới chi nhánh rộng khắp các tỉnh thành trong cả nước. Hơn nữa ngày càng có nhiều ngân hàng ra đời làm cho cường độ cạnh tranh trong ngành ngân hàng khốc liệt hơn bao giờ hết. Để vượt qua những thách thức và tận dụng tốt những cơ hội qua đó nâng cao vị thế cạnh tranh của mình trên thị trường, các ngân hang phải đưa ra chiến lược kinh doanh phù hợp cho từng thời kỳ, từng giai đoạn của sự phát triển ; phù hợp với xu thế toàn cầu trên nguyên tắc đảm bảo cân bằng lợi ích quốc gia và lợi ích của Ngân hàng. Với chiến lược kinh doanh sáng suốt của mình ngân hàng, Ngân hàng Thương mại cổ phẩn Công thương Việt Nam đã giữ vững vị trí dẫn đầu của mình và được đánh giá là ngân hàng có vai trò đầu tầu và có tầm ảnh hưởng quan trọng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam với các lợi thế cạnh tranh, thị phần huy động vốn, các dịch vụ thanh toán, dịch vụ thẻ…;được ghi nhận đã góp phần quan trọng cho sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước trong thời kỳ đổi mới. B. NỘI DUNG PHẦN 1 GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM -VIETINBANK 1.1 Giới thiệu về ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam Tên đầy đủ bằng Tiếng Việt: Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương VIệt Nam Tên viết tắt bằng Tiếng Việt: Ngân hàng Công thương Việt Nam Tên đầy đủ bằng Tiếng Anh: Vietnam Joint Stock Commercial Bank For Industry And Trade Tên viết tắt Tiếng Anh: Vietinbank Tên giao dịch: Vietinbank Logo : Trụ sở chính: 108 Trần Hưng Đạo, phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm,thành phố Hà Nội Điện thoại: (84-4) 39421030 Fax: (84-4)39421032 Website: www.vietinbank.vn Slogan : Nâng giá trị cuộc sống Đăng ký kinh doanh: Giấy phép thành lập và hoạt động Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam số 142/GP-NHNN của NHNN cấp ngày 03 thánh 07 năm 2009 1.2 Ngành nghề kinh doanh của Vietinbank( Theo Giấy chứng nhận đăng ký Kinh doanh lần đầu số 0100111948 do Sở Kế hoạch và Đầu Tư TP Hà Nội cấp thay đổi lần 1 ngày 30/06/2010) 1.2.1 Hoạt động chính là dịch vụ tài chính  Hoạt động ngân hàng thương mại - Huy động vốn - Hoạt động tín dụng - Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ - Các hoạt động kinh doanh và dịch vụ ngân hàng khác - Các hoạt động theo quy định của pháp luật  Hoạt động ngân hàng đầu tư - Đầu tư tài chính - Các dịch vụ về chứng khoán - Quản lý quỹ đầu tư, quản lý danh mục đầu tư, ủy thác đầu tư, nhận ủy thác đầu tư - Tư vấn việc mua bán, sáp nhập, tái cơ cấu doanh nghiệp; mua bán nợ theo quy định của pháp luật - Các hoạt động ngân hàng đầu tư khác theo quy định của pháp luật  Hoạt động bảo hiểm - Bảo hiếm nhân thọ - Bảo hiểm phi nhân thọ - Tái bảo hiểm - Các dịch vụ bảo hiểm khác  Các hoạt động khác - Các sản phẩm dịch vụ tài chính phái sinh sau khi được NHNN chấp thuận - Các dịch vụ khác về tài chính, ngân hàng, đầu tư - Được cho thuê các tài sản thuộc quyền sở hữu, quản lý và sử dụng cảu Vietinbank theo quy định tại Nghị định số 146/2005/NĐ-CP ngày 23/11/2005 của Chính phủ eve chế độ tài chính đối với các tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật, bảo đảm có hiệu quả, an toàn và phát triển vốn - Vietinbank thực hiện các hoạt động khác phù hợp với quy định của pháp luật. 1.2.2 Hoạt động phi tài chính 1.3 Các hoạt động kinh doanh chiến lược( SBU) 1.3.1 Huy động vốn + Nhận tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn bằng VNĐ và ngoại tệ của các tổ chức kinh tế và dân cư. + Nhận tiền gửi tiết kiệm với nhiều hình thức phong phú và hấp dẫn: Tiết kiệm không kỳ hạn và có kỳ hạn bằng VNĐ và ngoại tệ, Tiết kiệm dự thưởng,Tiết kiệm tích luỹ... + Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu... 1.3.2 Hoạt động tín dụng Tín dụng là một trong những hoạt động kinh doanh chính của Vietinbank. Các hoạt động tín dụng của Vietinbank bao gồm + Cho vay ngắn hạn bằng VNĐ và ngoại tệ + Cho vay trung, dài hạn bằng VNĐ và ngoại tệ + Tài trợ xuất, nhập khẩu; chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất. + Đồng tài trợ và cho vay hợp vốn đối với những dự án lớn, thời gian hoàn vốn dài + Cho vay tài trợ, uỷ thác theo chương trình: Đài Loan (SMEDF); Việt Đức (DEG, KFW) và các hiệp định tín dụng khung + Thấu chi, cho vay tiêu dùng. + Bảo lãnh, tái bảo lãnh (trong nước và quốc tế): Bảo lãnh dự thầu; Bảo lãnh thực hiện hợp đồng; Bảo lãnh thanh toán, chiết khấu, cho thuê tài chính, và các hình thức cấp tín dụng khác theo quy định của NHNN 1.3.3. Hoạt động đầu tư Các hoạt động đầu tư của Vietinbank được thực hiện thông qua việc tịch cực tham gia vào thị trường liên ngân hàng và thị trường vốn. + Tài sản đầu tư bao gồm Trái phiếu Chính phủ, Tín phiếu kho bạc, Tín phiếu NHNN,Công trái xây dựng Tổ quốc,Trái phiếu giáo dục,Trái phiếu Chính quyền địa phương, Trái phiếu ngân NHTM, Trái phiếu doanh nghiệp,… o o o o o o o o o o + Ngoài ra Vietinbank còn góp vốn mua cổ phẩn của các doanh nghiệp trong và ngoài nước và góp vốn liên doanh với các tổ chức nước ngoài. 1.3.4 Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ Vietinbank tập trung cung cấp dịch vụ thanh toán và ngân quỹ cho khách hàng,bao gồm + Thanh toán trong nước và quốc tế Mua, bán ngoại tệ (Spot, Forward, Swap…) + Mua, bán các chứng từ có giá (trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc, thương phiếu…) + Thu chi hộ khách hàng tiền mặt VNĐ và ngoại tệ..., thu chi bằng tiến mặt và séc 1.3.5 Các hoạt động khác Bên cạnh các dịch vụ kinh doanh chính, Vietinbank cung cấp một số dịch vụ bổ sung cho khách hàng bao gồm các hoạt động trên thị trường tiền tệ, kinh doanh giấy tờ có giá bằng VND và ngoại tệ, chuyển tiền trong nước và quốc tế,chuyển tiền kiều hối, kinh doanh vàng và ngoại hối,các hoạt động đại lý và ủy thác, bảo hiểm, các hoạt động chứng khoán thông qua các công ty con, dịch vụ tư vấn tài chính, dịch vụ quản lý vốn, dịch vụ thẻ, gửi và giữ tài sản, cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán, dịch vụ ngân hàng qua điện thoại, dịch vụ ngân hàng điện tử,… 1.4 Tầm nhìn và sứ mạng kinh doanh của ngân hàng Vietinbank Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) được thành lập từ năm 1988 sau khi tách ra từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Là Ngân hàng thương mại lớn, giữ vai trò quan trọng, trụ cột của ngành Ngân hàng Việt Nam. 1.4.1 Tầm nhìn chiến lược Trở thành Tập đoàn tài chính ngân hàng hiện đại, hiệu quả hàng đầu trong nước và Quốc tế. Vietinbank xác định chiến lược phát triển tập trung vào các nội dung: + Gia tăng giá trị cho cổ đông, người lao động + Mang lại lợi ích cho cộng đồng + Nâng giá trị cuộc sống 1.4.2 Sứ mạng kinh doanh Là Tập đoàn tài chính ngân hàng hàng đầu của Việt Nam, hoạt động đa năng, cung cấp sản phẩm và dịch vụ theo chuẩn mực quốc tế, nhằm nâng giá trị cuộc sống. 1.5 Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản Năm 2010 của Vietinbank Tổng doanh thu: 14.819.402 triệu đồng Doanh thu thuần: 12.089.002 triệu đồng Lợi nhuận trước thuế: 4.598.038 triệu đồng Lợi nhuận sau thuế: 3.414.347 triệu đồng Tổng tài sản: 367.712 tỷ đồng Vốn điều lệ: 15.173 tỷ đồng Vốn chủ sở hữu: 18.372 tỷ đồng Tổng nguồn vốn huy động: 339.699 tỷ đồng Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA): 1,50% Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE): 22,1% o o o o Tăng trưởng dư nợ tín dụng: 43,5% Tăng trưởng huy động vốn: 54% Tỷ lệ nợ xấu: 0,66% Mức chi trả cổ tức: 17% (Nguồn: Báo cáo thường niên 2010 của ngân hàng Vietinbankhttp://www.vietinbank.vn) PHẦN 2 PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI 2.1 Ngành kinh doanh của doanh nghiệp Vietinbank hoạt động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng 2.1.1 Tăng trưởng của ngành Tốc độ tăng trưởng của ngành ngân hàng liên tục tăng trong những năm gần đây Tăng trưởng tín dụng và huy động luôn ở mức cao trên 20%. Với đặc trưng của một nền kinh tế mới nổi, tốc độ tăng trưởng tín dụng và huy động cảu Việt Nam luôn ở mức cao trên 20% trong suốt giai đoạn 2000-2010. Mức tăng trung bình cho tín dụng và huy động trong giai đoạn này lần lượt là 31,55% và 28,91%, trong đó điển hình là năm 2007 với 53,89% và 47,64%. Tốc độ cung tiền trong giai đoạn 2005-2010 cũng đạt trung bình 29,19% So với các nước trong khu vực, tăng trưởng tín dụng và M2 của Việt Nam cao hơn nhiều so với Indonesia (14,5% và 12,4%) và Thái Lan (7% và 4%). Đây là một trong những nhân tố đóng góp vào sự phát triển nhanh của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn này, thể hiện qua tốc độ tăng GDP trung bình là 7,15%, đạt đỉnh 8,5% vào năm 2007. Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng nóng cũng chính là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng bong bóng tài sản mà nhiều nước mới nổi như Việt Nam mắc phải khi nguồn vốn chảy vào các lĩnh vực có rủi ro cao như bất động sản Tổng tài sản ngành ngân hàng tăng gấp đôi trong giai đoạn 2007 – 2010. Quy mô ngành ngân hàng Việt Nam đã mở rộng đáng kể trong những năm gần đây. Theo quy mô số liệu của IMF, tổng tài sản của ngành đã tăng gấp 2 lần trong giai đoạn 20072010, từ 1.097 nghìn tỷ đồng (52,4 tỷ USD) lên 2.690 nghìn tỷ đồng (128,7 tỷ USD). Con số này được dự báo sẽ tăng lên 3.667 nghỉn tỷ đồng (175,4 tỷ USD) vào thời điểm cuối năm 2012. Việt Nam cũng nằm trong danh sách 10 quốc gia có tốc độ tăng trưởng tài sản ngành NH nhanh nhất trên thế giới theo thống kê của The Banker, đứng vị trí thứ 2 (chỉ sau Trung Quốc) 2.1.2 Giai đoạn trong chu kỳ phát triển của ngành  Về số lượng ngân hàng: Ngành ngân hàng đã có sự tăng trưởng nhanh chóng cả về số lượng và quy mô.Nếu như năm 1991 số lượng ngân hàng chỉ là 9 ngân hàng thì đến năm 2007 con số này đã tăng lên thành 80 ngân hàng. Số lượng ngân hàng tập trung vào 2 khối ngân hàng thương mại cổ phần và chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho thấy mức hấp dẫn của ngành ngân hàng Việt Nam đối vớicác nhà đầu tư trong nước cũng như các tổ chức tài chính quốc tế. Bảng : Số lượng ngân hàng giai đoạn 1991 – 2009 Năm Ngân hàng TMQD Ngân hàng TMCP 344444555C hi nhánh NHNN Tổng số ngân hàng1 Ngân hàng liên doanh 1991 4 1993 4 1995 4 1997 5 1999 5 2001 5 2005 5 2006 2007 2009 5 5 5 4 41 48 51 48 39 37 37 37 39 0 8 18 24 26 26 29 31 33 40 9 56 74 84 83 74 75 78 80 89 (Nguồn: SBV) (Nguồn: Nhóm thực hiện vẽ dựa vào số liệu thu thập được)  Về quy mô hoạt động: với 2 mảng hoạt động chính là tn dụng và huy động vốốn cũng tăng trưởng mạnh mẽẽ, thể hiện qua tốốc độ tăng tr ưởng tn d ụng và tềền g ửi cao h ơn nhiềều so v ới tốốc độ tăng GDP thực tềố. Năm Tăng trưởng tín dụng 7.347.798.448.238.4 6 6.235.2Tăng 2002 22 2003 28 2004 42 2005 32 2006 25 2007 54 2008 22 2009 38 19 26 32 32 37 50 26 29 trưởng tiền gửi Top of Form 7.08 Tăng trưởng GDP (Nguồn: IMF, NHNN) (Nguồn: Nhóm thực hiện vẽ dựa vào số liệu thu thập được)  Dù quy mô hoạt động tăng trưởng mạnh mẽ nhưng theo một số kết quả thống kê, các chỉ tiêu tín dụng/GDP, huy động/GDP của Việt Nam vẫn thấp hơn các nước trong khu vực, điều này cho thấy khả năng còn tiếp tục tăng trưởng trong tương lai.  Ngoài 2 mảng hoạt động truyền thống là tín dụng và huy động vốn, mảng hoạt động dịch vụ cũng có sự phát triển mạnh mẽ. Cùng với việc đầu tư mạnh vào công nghệ, cơ sở vật chất và đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ, những năm vừa qua thu nhập từ các mảng hoạt động này cũng tăng mạnh. 2.2 Đánh giá tác động của môi trường vĩ mô 2.2.1 Nhân tố chính trị - pháp luật Chính trị: Nền chính trị ở Việt Nam được đánh giá thuộc vào dạng ổn định trên thế giới. Đây là một yếu tố rất thuận lợi cho sự phát triển ngành ngân hàng và nền kinh tế Việt Nam nói chung  Khi các doanh nghiệp phát triển và các doanh nghiệp nước ngoài yên tâm đầu tư vốn vào các ngành kinh doanh trong nước sẽ thúc đẩy ngành ngân hàng phát triển  Các tập đoàn tài chính nước ngoài đầu tư vốn vào ngành ngân hàng tại Việt Nam dẫn đến cường độ cạnh tranh trong ngành ngân hàng tăng lên, tạo điều kiện thúc đẩy ngành Ngân hàng phát triển  Nền chính trị ổn định sẽ làm giảm các nguy cơ về khủng bố, đình công, bãi công,…Từ đó giúp cho quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp tránh được những rủi ro. Và thông qua đó,sẽ thu hút đầu tư vào các ngành nghề,trong đó có ngành Ngân hàng Pháp luật: Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng chịu sự tác động mạnh mẽ của pháp luật đặc biệt là đối với doanh nghiệp kinh doanh trong ngành ngân hàng, một ngành có tác động tới toàn bộ nền kinh tế. Các hoạt động của ngành Ngân hàng được điều chỉnh một cách chặt chẽ bởi các quy định cảu pháp luật, hơn nữa các ngân hàng thương mại còn chịu sự chi phối của Ngân hàng Nhà nước. Một số cơ chế chính sách của ngân hang nhà nước đưa ra: - Cơ chế thực thi chính sách lãi suất(1989-1992) - Cơ chế điều hành khung lãi suất(1992-1995) - Cơ chế điều hành lãi trần(1996-2000) - Cơ chế điều hành lãi suất cơ bản(2000-2002) - Cơ chế lãi suất thoả thuận(2002_2006) Việt Nam đang dần hoàn thiện Bộ luật doanh nghiệp, luật đầu tư và các chính sách kinh tế nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nghành Ngân hàng được hướng dẫn cụ thể và có điều kiện kinh doanh minh bạch. 2.2.2 Nhân tố văn hóa - xã hội Cùng với việ phát triển kinh tế ổn định, dân trí phát triển cao đời sống người dân ngày càng được cải thiện,.. nhu cầu người dân liên quan tới việc thanh toán qua ngân hàng, và các sản phẩm dịch vụ tiện ích đó do ngân hàng cung cấp ngày càng tăng. Tâm lý của người Việt Nam luôn biến động không ngừng do sự biến động trên thị trường mang lại. Ví dụ như khi tình hình kinh tế lạm phát thì người dân chuển gửi tiền mặt sang gửi tiết kiệm vàng… Tốc độ đô thị hóa cao ( sự gia tăng các khu công nghiệp, khu đô thị mới) cùng với cơ cấu dân số trẻ khiến cho nhu cầu sử dụng các dịch vụ tiện ích do Ngân hàng mang lại gia tăng. Số lượng doanh nghiệp gia tăng mạnh mẽ dẫn đến nhu cầu vốn, tài chính tăng 2.2.3 Nhân tố công nghệ Việt Nam ngày càng phát triển dần bắt kịp với các nước phát triển trên thế giới do đó hệ thống kỹ thuật - công nghệ của ngành ngân hàng ngày càng được nâng cấp và trang bị hiện đại để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Ngân hàng nào có công nghệ tốt hơn Ngân hàng đó sẽ dành được lợi thế cạnh tranh so với Ngân hàng khác. Với xu thế hội nhập thế giới, ngày càng có nhiều nhà đầu tư nhảy vào Việt Nam. Các Ngân hàng nước ngoài vẫn có nhiều ưu thế hơn các ngân hàng trong nước về công nghệ do đó để có thể cạnh trạnh các ngân hàng trong nước phải không ngừng cải tiến công nghệ của mình. Khoa học công nghệ ngày càng phát triển và hiện đại, đặt ra những cơ hội và thách thức cho các ngân hàng về chiến lược phát triển và ững dụng các công nghệ một cách nhanh chóng, hiệu quả. Sự chuyển giao công nghệ và tự động hóa giữa các ngân hàng tăng dẫn đến sựu liên doanh, liên kết giữa các ngân hàng để bổ sung cho nhau những công nghệ mới Sự thay đổi công nghệ đã, đang và sẽ tiếp tục tác động mạnh mẽ tới hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Khi công nghệ càng cao thì cho phép Ngân hàng đổi mới và hoàn thiện các quy trình nghiệp vụ, các cách thức phân phối, và đặc biệt là phát triển sản phẩm dịch vụ mới. Điển hình khi Internet và Thương mại điện tử phát triển , nhu cầu sử dụng các dịch vụ trực tuyến ngày càng tăng , vì vậy việc áp dụng và phát triển công nghệ thông tin như chữu ký số, thanh toán điện tử liên ngân hàng, hệ thống thanh toán bù trừ điện tử… để đưa ra các dịch vụ mới như: hệ thống ATM, Home Banking, Mobile Banking, Internet Banking… sẽ giúp cho các ngân hàng giảm được chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng thêm sự trung thành ở các khách hàng của mình. Hiện nay ngân hàng này đang xây dựng cơ sở tai nhiều nhước trên thế giớingân hàng sẽ tiếp tục mở rộng chi nhánh tại Berlin (Đức), Nhật Bản, Trung Quốc và nhiều nước trên thế giới. 2.2.4 Nhân tố kinh tế Các nhân tố trong nhóm nhân tố kinh tế ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng Vịeinbank: Tín dụng và vấn đề thanh khoản của hệ thống ngân hàng Trước những dấu hiệu gia tăng lạm phát xuất hiện từ cuối năm 2007,ngay đầu năm 2008, ngân hàng nhà nước đã theo đuổi chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm hạnh chế ảnh hưởng tiêu cực của nó tới ngành ngân hàng cũng như nền kinh tế. Trong bối cảnh đó, chính sách tiền tệ luôn được sử dụng làm công cụ chủ yếu (và có thời kỳ được sử dụng quá độ) trong khi tài khóa lại chưa được chú trọng, phối hợp nhịp nhàng. Một ví dụ là tăng trưởng tín dụng và cung tiền 2011 chỉ là 12% và 12,5%, giảm mạnh so với mục tiêu 20% và 16%. Nhưng thâm hụt ngân sách chỉ giảm từ 5,3% mục tiêu xuống 4,9% Sự sụt giảm cảu thị trường chứng khoán cũng phản ứng khá tiêu cực của thị trường tín dụng Việt Nam như: khan hiếm nguồn tín dụng, lạm phát gia tăng cũng ảnh hưởng đến hoạt động của Vietinbank. Đồng thời là sự biến động eve tỷ giá giũa đồng Đô la Mỹ và Việt Nam đồng Biến động tỷ giá Việt Nam đồng so với Đô La quốc tế tính theo sức mua tương đương, giai đoạn 1980-2014(Nguồn : http://vi.wikipedia.org) Hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng bảo đảm an toàn, ổn định, duy trì được khả năng thanh khoản. Vốn chủ sở hữu của toàn hệ thống các tổ chức tín dụng tăng 31,9% so với cuối năm 2008; tổng tài sản tăng 26,49%, chênh lệch thu - chi tăng 53,09%, nợ xấu chiếm 2,2% tổng dư nợ. Cũng theo NHNN, mức lãi suất sau khi được hỗ trợ tương đương lãi suất cho vay bằng USD và thấp hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn đã tác động làm tăng trưởng tín dụng ở mức cao, gây sức ép tăng lãi suất và tỷ giá. Điều này cũng có thể phát sinh các hiện tượng khách hàng vay lợi dụng cơ chế để trục lợi, vay ngân hàng này gửi lại ngân hàng khác nhằm thu chênh lệch lãi suất mà không đưa vốn vay vào sản xuất - kinh doanh. Đầu cơ và biến động giá cả Bối cảnh kinh tế thế giớ nhiều biến dộng như diễn biến phức tạp của giá dầu mỏ, giá vàng lên xuống thất thường, “cơn sốt” giá lương thực...đã tạo môi trường cho các hoạt động đầu cơ quốc tế. Một số nhà đầu cwo và tập đoàn tài chính da quốc gia với tài sản hàng nghìn tủy USD đang thao túng thị trường giao dịch hàng hóa thiết yếu và đầu vào sản xuất quan trọng lần lượt là dầu thô, lương thực và vàng, tiếp đến là tiền tệ và các tài sản tài chính của quốc gia đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của ngành ngân hàng nói chung và Vietinbank nói riêng Lạm phát và tăng trưởng Việt Nam là nước có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất châu Á sau Trung Quốc, với tiềm năng tăng trưởng to lớn trong các năm tiếp theo; GDP bình quân đầu người của Việt Nam cũng tăng khoảng 10%/năm trong vòng 5 năm qua. Những con số này phản ánh cơ hội tăng trưởng to lướn đối với các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài tại Việt Nam. Năm 2009, tín dụng tại các ngân hàng Việt Nam tăng trưởng nóng, mức tăng trưởng tín dụng lên tới 38% trong khi con số này năm 2008 chỉ là 25%, dù vậy tăng trưởng tín dụng năm 2009 vẫn trong xu thế đi lên so với tăng trưởng tín dụng các năm 2002 2004. Tăng trưởng tín dụng chững lại trong tháng 1/2010, mức tăng trưởng chỉ đạt 1% trong khi đó tăng trưởng huy động tiền gửi là 0,3%. Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế của Việt Nam Nguồn: http://vi.wikipedia.org Tháng 8/2008, tỷ lệ lạm phát lên vượt mức 28%. Chính phủ buộc phải thắt chặt chính sách tiền tệ và hạn chế tăng trưởng tín dụng ở mức 30% trong năm 2008. Chính phủ có kế hoạch đảm bảo tỷ lệ lạm phát hàng năm dưới mức 10% (tỷ lệ lạm phát tháng 6/2009 là 4%), áp lực lạm phát đang tăng trở lại, tăng trưởng tín dụng được hạn chế ở mức từ 25% đến 27% (17% trong khoảng thời gian 6 tháng tính đến hết tháng 6/2009). Lạm phát của Việt Nam so với một số nước năm 2010(Nguồn: http://vi.wikipedia.org) Tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng đến cuối năm 2008 là 3,5%, cao hơn so với mức 2% của 1 năm trước. Tỷ lệ nợ xấu tính theo IFRS còn cao hơn so với tỷ lệ nợ xấu tính theo Tiêu chuẩn kế toán Việt Nam (VAS). Tỷ lệ nợ xấu tính theo IFRS có thể cao gấp 3 tỷ lệ nợ xấu theo cách tính quy định trong VAS. Ngoài ra, nên chú ý đến việc xử lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại nhà nước đang che giấu quy mô các khoản nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Đầu tư nước ngoài Tăng trưởng về đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI) và xuất khẩu là các nhân tố chủ chốt thúc đẩy sự tăng trưởng vượt bậc của Việt Nam trong những năm qua. FDI vào Việt Nam năm 2010 đang có những động thái tích cực mới, với sự cải thiện khá rõ về quy mô vốn đăng ký/dự án, cơ cấu vốn đăng ký và mức giải ngân thực tế... Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, giải ngân vốn FDI đạt khoảng 900 triệu USD trong tháng 4, nâng tổng số vốn FDI giải ngân trong 4 tháng đầu năm 2010 lên 3,4 tỷ USD, tăng tới 36% so với cùng kỳ năm 2009. Trung bình, giải ngân vốn FDI đạt khoảng 850 triệu USD/tháng. Đây là mức khá cao và tương đương giải ngân vốn FDI giai đoạn trước suy thoái kinh tế (năm 2009 Việt Nam thu hút FDI đạt 21,48 tỷ USD, bằng 24,6% so với năm 2008, nhưng trong 2 năm 2008-2009, vốn FDI đăng ký và tăng thêm khoảng 85,5 tỷ USD, vượt mức 83,1 tỷ USD của cả 20 năm trước đó. Sụt giảm trên thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán quốc tế đang bất ổn trước mối lo về khủng hoảng nợ công tại châu Âu và đã có những báo cáo về dòng vốn rút ra khỏi nhiều thị trường. Tại Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài đã có chuỗi ngày bán ròng mạnh chưa từng có trên thị trường cổ phiếu trong 3 năm gần đây. Thống kê theo tháng, nếu không có những biến động khác thường về mua vào trong 3 phiên tới, tháng 9/2011 sẽ là tháng dòng vốn ngoại bán ròng mạnh nhất kể từ tháng 9/2009. Kỷ lục gần nhất là quy mô bán ròng 2.080,2 tỷ đồng trong tháng 9/2009 và là một trong những giai đoạn khó khăn nhất của thị trường chứng khoán Việt Nam chỉ sau đợt tháo chạy ồ ạt khỏi thị trường trái phiếu năm 2008. Trong tháng 8/2011, nhà đầu tư nước ngoài cũng đã bán ròng khoảng 224,5 tỷ đồng. Hoạt động bán ra đã có những tín hiệu từ tháng trước nhưng chỉ thực sự trở nên rõ rệt trong tháng 9 với cao điểm là tuần từ 12-16/9, đạt giá trị bán ròng 695,4 tỷ đồng. Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, thị trường trong nước có nhiều lo ngại trước nguy cơ thâm nhập của những “cá mập “quốc tế. → Kết luận: Môi trường vĩ mô ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự tăng trưởng và phát triển của ngân hàng Vietinbank ở mọi khía cạnh và mọi góc độ. 2.3 Đánh giá cường độ cạnh tranh 2.3.1Tồn tại các rào cản gia nhập ngành. Sau khi Chính Phủ tạm ngừng cấp phép thành lập ngân hàng mới từ tháng 8/2008 thì rào cản cho sự xuất hiện của các ngân hàng có nguồn gốc nội địa đang được nâng cao lên . Ngoài quy định về vốn điều lệ , quãng thời gian phải liên tục có lãi, các ngân hàng mới thành lập còn được giám sát chặt bởi ngân hàng nhà nước. Rào cản ra nhập còn được thể hiện qua các phân khúc thị trường , thị trường mục tiêu mà các ngân hàng hiện tại đang nhắm đến, giá trị thương hiệu cũng như cơ sở khách hàng, lòng trung thành và các ngân hàng đã xây dựng được. Đó đều là những ngân hàng có thâm niên và tiềm lực vốn tương đối lớn, lượng khách hàng truyền thống và thị phần nhất định nên không dễ cho các ngân hàng mới trong cuộc chiến dành thị phần.Những điều này là đặc biệt quan trọng bởi nó quyết định khả năng tồn tại của một ngân hàng đang muốn ra nhập thị trường Việt Nam. Ngân hàng là một ngành khá nhạy cảm. Một ngân hàng lớn sụp đổ có thể kéo theo sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống và nền kinh tế cũng chịu ảnh hưởng. Do vậy ngân hàng Nhà Nước thường cân nhắc kỹ trước những yêu cầu xin thành lập ngân hàng. Ví dụ: Yêu cầu về vốn điều lệ đối với các ngân hàng tương đối lớn: Theo quy định của ngân hàng Nhà Nước, vốn điều lệ tối thiểu của các ngân hàng thương mại tính đến 31/12/2008 là 1000 tỷ VNĐ và từ 01/01/2009 là 3000 tỷ VNĐ. Tuy nhiên, dự kiến yêu cầu vốn tối thiểu để lập ngân hàng trong năm 2012 là 5000 tỷ đồng, yêu cầu này sẽ được nâng lên 10000 tỷ đồng. Đây là con số không nhỏ và là rào cản ra nhập ngành lớn. 2.3.2 Quyền lực thương lượng từ phía các nhà cung ứng. Khái niệm nhà cung cấp trong ngành ngân hàng khá đa dạng. Họ có thể là những cổ đông cung cấp vốn cho ngân hàng hoạt động, hoặc là những công ty chịu trách nhiệm về hệ thống hoặc bảo trì máy ATM. Hiện tại ở việt Nam các ngân hàng đều tự đầu tư trang thiết bị và chọn cho mình những nhà cung cấp riêng tùy theo điều kiện. Điều này góp phần giảm quyền lực của nhà cung cấp thiết bị khi họ không thể cung cấp cho cả một thị trường lớn mà phải cạnh tranh với các nhà cung cấp khác. Tuy nhiên khi đã tốn một khoản chi phí khá lớn vào đầu tư hệ thống ngân hàng sẽ không muốn thay đổi nhà cung cấp vì quá tốn kém, điều này càng làm tăng quyền lực của nhà cung cấp đã thắng thầu. 2.3.3 Quyền lực thương lượng từ phía khách hàng. Một đặc điểm khác biệt của ngân hàng so với các ngành khác là khách hàng của doanh nghiệp vùa là người mua (người đi vay), vừa là người bán (người gửi tiết kiệm). Mối quan hệ này là mối quan hệ hai chiều, tạo điều kiện cùng nhau tồn tại và phát triển. Hiện nay ngân hàng nào cạnh tranh được nhiều tiền gửi của khách hàng thì ngân hàng đó tồn tại. Vì vậy mà các ngân hàng cần có các dịch vụ chăm sóc, dịch vị tư vấn, coi khách hàng là điều kiện để ngân hàng tồn tại, vầ phải gây được ấn tượng đối với khách hàng. Sự kiện nổi bật gần đây nhất liên quan đến qquyền lực của khách hàng có lẽ là việc các ngân hàng thu phí sử dụng ATM trong khi người tiêu dùng không đồng thuận. Trong vụ việc này ngân hàng và khách hàng ai cũng có lý lẽ của mình nhưng rõ ràng nó đã ảnh hưởng không ít đến mức độ hài lòng và lòng tin của khách hàng. Nhưng không vì thế mà ta có thể đánh giá thấp quyền lực của khách hàng trong ngành ngân hàng Việt Nam. Điều quan trọng nhất là việc sống còn của ngân hàng dựa trên đồng vốn huy động được của khách hàng. Nếu không còn thu hút được dòng vốn của khách thì ngân hàng tất nhiên sẽ bi đào thải. 2.3.4 Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành . Trong năm 2008, McKinsey dự báo doanh số của lĩnh vực ngân hàng bán lẻ ở Việt Nam có thể tăng trưởng đến 25% trong vòng 5-10 năm tới, đưa Việt Nam trở thành một trong những thị trường ngân hàng bán lẻ có tốc độ cao nhất châu Á. Tuy khủng hoảng kinh tế làm cho tốc độ tăng trưởng chậm lại, tác động xấu tới ngành ngân hàng nhưng thị trường Việt Nam chưa được khai phá hết, tiềm năng còn rất lớn. Ảnh hưởng tạm thời của cuộc khủng hoảng kinh tế sẽ khiến cho các ngân hàng gặp khó khăn trong việc tìm kiếm khách hàng mới, dẫn đến việc cường độ cạnh tranh sẽ tăng lên. Nhưng khi khủng hoảng kinh tế qua đi, với một thị trường tiềm năng còn lớn như Việt Nam, các ngân hàng sẽ tập trung khai phá thị trường, tìm kiếm khách hàng mới, dẫn đến cường độ cạnh tranh có thể giảm đi. Cường độ cạnh tranh của các ngân hàng tăng cao khi có sự xuất hiện của nhóm ngân hàng 100% vốn nước ngoài. Ngân hàng nước ngoài thường có một phân khúc khách hàng riêng mà đa số doanh nghiệp từ nước họ. Họ đã phục phụ những khách hàng này từ rất lâu ở thị trường khác và khi khách hàng mở rộng thị trường sang Việt Nam thì ngân hàng cũng mở văn phòng đại diện theo. Ngân hàng ngoại cũng không vướng phải những rào cản mà nhiều ngân hàng trong nước đang mắc phải, điển hình là hạn mức cho vay chứng khoán, nợ xấu trong cho vay bất động sản. Họ có lơi thế làm từ đầu và có nhiều chon lựa trong khi với không ít ngân hàng trong nước thì điều nay là không thể. Ngoài ra ngân hàng ngoại còn có không ít lợi thế như là hạ tầng dịch vụ hơn hẳn, dịch vụ khách hàng chuyên nghiệp, công nghệ tốt hơn (điển hình là hệ thống internet banking…) Quan trọng hơn nữa đó là khả năng kết nối với mạng lưới rộng khắp trên nhiiều nước của ngân hàng ngoại. Để cạnh tranh với nhóm ngân hàng này , các ngân hàng trong nước đã trang bị hệ thống hạ tầng công nghệ sản phẩm dịch vụ, nhân sự …khá quy mô. Lợi thế của các ngân hàng trong nước là mối quan hệ mật thiết với các khách hàng có sẵn. Ngân hàng trong nước sẵn sàng linh hoạt cho vay với mức ưu đãi đối với những khách hàng quan trọng của mình. 2.3.5 Đe dọa từ sản phẩm thay thế. Cơ bản mà nói, các sản phẩm và dịch vụ của ngành ngân hàng Việt Nam có thể xếp vào 5 loại: • Là nơi nhận các khoản tiền (lương, trợ cấp, cấp dưỡng…) • Là nơi giữ tiền (tiết kiệm…) • Là nơi thực hiện các chức năng thanh toán • Là nơi cho vay tiền • Là nơi hoạt động kiều hối Đối với khách hàng là doanh nghiệp, nguy cơ ngân hàng bị thay thế là không cao lắm do đối tượng khách hàng này cần sự rõ ràng cũng như các chứng từ, hóa đơn trong các gói sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng. Nếu có phiền hà xảy ra trong quá trình sử dụng sản phẩm, dịch vụ thì đối tượng khách hàng này thường chuyển sang sử dụng một ngân hàng khác vì những lý do trên thay vì sử dụng dịch vụ ngoài ngân hàng . Đối với khách hàng tiêu dùng thì lại khác, thói quen sử dụng tiền mặt khiến cho người tiêu dùng Việt Nam thường giữ tiền mặt tại nhà hoặc nếu có tài khoản thì khi có tiền lại rút hết ra để sử dụng . Các cơ quan Chính Phủ và doanh nghiệp trả lương qua tài khoản ngân hàng nhằm thúc đẩy các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt góp phần làm minh bạch tài chính cho mỗi người dân. Nhưng các địa điểm chấp nhân thanh toán bằng thẻ lại đa số là các nhà hàng, khu mua sắm sang trọng, những nơi không phải người dân nào cũng tới mua sắm. Ngoài hình thức gửi tiết kiệm ở ngân hàng, người tiêu dùng Việt Nam còn có khá nhiều lựa chọn như: Giữ ngoại tệ, đầu tư chứng khoán, các hình thức bảo hiểm, đầu tư vào kim loại quý hoặc đầu tư vào nhà đất. Đó còn chưa kể tới những hình thức tiết kiệm không hợp pháp. Không phải lúc nào lãi suất ngân hàng cũng hấp dẫn người tiêu dùng. Chẳng hạn trong thời gian qua, giá vàng tăng giảm đột biến trong ngày, trong khi dolla Mỹ ở thị trường tự do cũng biến động thì lãi suất tiết kiệm ở đa số các ngân hàng chỉ ỏ mức 7 - 8%/năm. Ví dụ: Đối với các doanh nghiệp, thay thế cho kênh huy động vốn có thể kể đến việc phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu ra thị trường nhưng kênh này chỉ có thể tiếp cận bởi một số các doanh nghiệp có quy mô và uy tín. Thay thế cho kênh đầu tư thì tương đối đa dạng hơn song đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi các kênh đầu tư khác như - - - vàng, ngoại tệ, chứng khoán, bất động sản…chưa thực sự thể hiện rõ sức hút đối với dòng tiền thì các sản phẩm tiền gửi của hệ thống ngân hàng là một lựa chọn khá hợp lý. Tham chí khi các sản phẩm thay thế kể trên phát triển thì vai trò của ngân hàng vẫn khó có thể giảm sút bởi ngay cả khi sử dụng các sản phẩm này để huy động hay đầu tư thì vẫn cần sử dụng dịch vụ của ngân hàng hoặc dùng ngân hàng như một đơn vị trung gian. Như vậy có thể thấy đối với doanh nghiệp hầu như không có sản phẩm nào thực sự thay thế được dịch vụ ngân hàng. 2.3.6 Quyền lực thương lượng của các bên liên quan. Đối với quyền lực của các cổ đông đầu tư trong ngành ngân hàng: Không nhắc đến những cổ đông đầu tư nhỏ lẻ thông qua thị trường chứng khoán mà chỉ nói đến những đại cổ đông có thể có tác động trực tiếp đến chiến lược kinh doanh của một ngân hàng. Giá cổ tức cũng như lợi tức cổ phần có thể sẽ ảnh hưởng đến quyết định có tiếp tục góp vốn hay không của cổ đông. Chính vì vậy quyền lực của những nhà cổ đông trong ngành ngân hàng cũng không phải là nhỏ. Các quy định pháp lý của Chỉnh Phủ đối với ngành ngân hàng ngày càng chặt chẽ, tuy nhiên nói đến quyền lực của Chỉnh Phủ thường không có nhiều tác động lớn. Đối với các tổ chức công đoàn, các hiệp hội thương mại hay nhóm dân chúng sẽ có tác động tới các điều kiện làm việc, uy tín của ngân hàng hay nâng cao sự hiểu biết đối với những người chưa biết về ngân hàng. Vì vậy mà mỗi ngân hàng thường khá đắn đo trong việc tham gia vào các tổ chức kinh tế - xã hội này. Đối với các tổ chức tín dụng sẽ là những ảnh hưởng quan trọng đến vần đề về vốn và cho vay, do đó các ngân hàng sẽ vô cùng thận trọng trong mối quan hệ với các tổ chức tín dụng, vì vậy càng nâng cao quyền lực của bên liên quan này. Gia nhập tiếm năng Các tập đoàn tài chính quốc tế Các doanh nghiệp trong nước muốn đầu tư vào ngành ngân hàng Các bên liên quan khác Chính phủ Cổ đông Người cung ứng: Ngân hàng nhà nước Các tổ chức và dân cư gửi tiền ở ngân hàng Vietinbank Các đối thủ cạnh tranh trong ngành: Khách hàng mục tiêu: Cạnh tranh trực tiếp: ACB,HSCB,VCB Doanh nghệp xuất nhập khẩu Cạnh tranh gián tiếp: các ngân hàng không cùng một nhóm chiến lược với Vietinbank như Techcombank, Agribank,... Các doanh nghiệp kinh doanh khác Cá nhân người tiêu dùng Sự thay thế: Vàng, bạc, đá quý Bất động sản Chứng khoán Đầu tư khác... Mô hình 5 lực lượng điều tiết cạnh tranh trong ngành ngân hàng  Đánh giá chung về ngành  Cường độ cạnh tranh: Mạnh Theo cam kết của WTO, kể từ ngày 01/04/2007, các ngân hàng con 100% vốn nước ngoài bắt đầu được hoạt động tại Việt Nam . Không những vậy ngân hàng còn phải chịu sự cạnh tranh của các của Chính Phủ như: Bảo hiểm, trái phiếu chính phủ, quỹ
- Xem thêm -