Phân tích kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành dịch vụ vận tải tại công ty cổ phần vận tải và dịch vụ

  • Số trang: 88 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 15 |
  • Lượt tải: 0
tranphuong5053

Đã đăng 6896 tài liệu

Mô tả:

LUẬN VĂN: Phân tích kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành dịch vụ vận tải tại Công ty Cổ phần vận tải và dịch vụ Lời mở đầu Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, làm thế nào để tồn tại và phát triển đang và vẫn là một vấn đề thời sự nóng bỏng của các doanh nghiệp. Một doanh nghiệp muốn đứng vững trong quy luật cạnh tranh khắc nghiệt của nền kinh tế thị trường thì hoạt động sản xuất kinh doanh của họ phải mang lại hiệu quả, có lợi nhuận và tích luỹ. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải quan tâm đến rất nhiều vấn đề cả trong sản xuất cũng như trong tiêu thụ sản phẩm, trong đó vấn đề chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai chỉ tiêu hết sức quan trọng và có quan hệ chặt chẽ với nhau. Việc tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm có ý nghĩa to lớn đối với việc tăng tích luỹ, tìm kiếm lợi nhuận. Vì vậy, tổ chức tốt công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm có vai trò quan trọng trong nội dung công tác kế toán của doanh nghiệp. Xuất phát từ tầm quan trọng đó, qua quá trình tìm hiểu thực tế tại Công ty Cổ phần vận tải và dịch vụ, em đã chọn đề tài cho đồ án tốt nghiệp là: “ Phân tích kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành dịch vụ vận tải tại Công ty Cổ phần vận tải và dịch vụ”. Nội dung của đồ án ngoài phần mở đầu và kết luận sẽ dược kết cấu thành 3 chương: Chương I: Lý luận chung về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Chương II: Thực tế công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành dịch vụ vận tải tại Công ty Cổ phần vận tải và dịch vụ Chương III: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành dịch vụ vận tải tại Công ty Cổ phần vận tải và dịch vụ. Chương I: Lý luận chung về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 1.1. Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp Khái niệm: Trong quá trình hoạt động doanh nghiệp luôn phát sinh chi phí sản xuất. Chi phí sản xuất là nhân tố thể hiện sự phát triển và tồn tại của doanh nghiệp. Doanh nghiệp còn tồn tại, còn hoạt động tức là phải phát sinh chi phí. Vậy chi phí sản xuất là toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, tiêu thụ và hoạt động khác của doanh nghiệp Chi phí sản xuất: Là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá của doanh nghiệp phát sinh trong một kỳ nhất định cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Chi phí sản xuất của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại có nội dung kinh tế khác nhau, mục đích và công dụng của chúng trong quá trình sản xuất cũng khác nhau, để phục vụ trong công tác quản lý chi phí sản xuất và kế toán quá trình sản xuất, có thể phân loại chi phí sản xuất trong giá thành sản phẩm theo các tiêu thức khác nhau. Các chi phí phát sinh có tính chất thường xuyên và gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm. 1.1.1. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất Là phạm vi giới hạn mà các chi phí sản xuất được phát sinh tập hợp theo giới hạn đó. Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất thực chất là xác định nơi gây ra chi phí và đối tượng chịu chi phí. Khi tiến hành phải căn cứ vào: - Tính chất sản xuất và quy trình công nghệ sản xuất: Quy trình sản xuất giản đơn hay phức tạp, quá trình sản xuất liên tục hay song song. - Loại hình sản xuất đơn chiếc hay hàng loạt. - Đặc điểm tổ chức sản xuất có phân xưởng hay không có phân xưởng, bộ phận sản xuất hay tổ đội sản xuất. - Căn cứ vào yêu cầu quản lý của doanh nghiệp và yêu cầu tính giá thành, trình độ quản lý yêu cầu hạch toán kinh tế của doanh nghiệp. 1.1.2. Phân loại chi phí sản xuất 1.1.2.1. Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế của chi phí ( theo yếu tố) Theo quy định hiện nay thì chi phí sản xuất được chia thành 5 yếu tố: - Chi phí nguyên vật liệu: Là biểu hiện bằng tiền của các loại nguyên nhiên vật liệu; các loại công cụ dụng cụ dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong một kỳ nhất định. - Chi phí nhân công: Là chi phí mà doanh nghiệp phải chi trả cho việc sử dụng lực lượng lao động của doanh nghiệp trong kỳ bao gồm 2 thành phần: tiền lương, các khoản khác phải trả cho người lao động, các khoản trích theo lương như: BHXH, BHYT, KPCĐ. - Chi phí khấu hao TSCĐ: Là sự ghi nhận của kế toán về việc chuyển một phần nguyên giá của TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ nhằm thu hồi dần vốn đầu tư ban đầu vào TSCĐ. - Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là các khoản tiền phải trả cho việc sử dụng dịch vụ mua ngoài như điện nước, điện thoại, chi phí thuê máy móc phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Chi phí bằng tiền: Gồm các khoản thuế phải nộp, công tác phí, tiếp khách… Cách phân loại này cho biết với kỳ sản xuất kinh doanh đã qua, doanh nghiệp đã tiêu hao boa nhiêu nguồn lực các loại để có được kết quả. Trên cơ sở đó lập dự toán cho kỳ sản xuất kinh doanh tiếp theo. 1.1.2.2. Phân loại chi phí sản xuất theo công dụng và địa điểm phát sinh của chi phí (theo khoản mục). Toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh được chia làm 5 khoản mục: - Chi phí NVL trực tiếp: Là toàn bộ chi phí về nguyên, nhiên, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế suất dùng trực tiếp sản xuất sản phẩm. - Chi phí nhân công trực tiếp: Là các chi phí về tiền lương, tiền công phải trả, các khoản trích theo tiền lương, tiền công của công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm như: BHXH, BHYT, KPCĐ. - Chi phí sản xuất chung: Là các chi phí dùng trong quản lý và phục vụ liên quan đến việc tổ chức sản xuất và quản lý sản xuất chung trong phạm vi một phân xưởng. - Chi phí quản lý doanh nghiệp: Bao gồm yếu tố chi phí cho quản lý doanh nghiệp và được phân bổ cho số lượng sản phẩm hoàn thành. - Chi phí bán hàng: Là toàn bộ các chi phí phát sinh trong lĩnh vực lưu thông phục vụ cho hoạt động tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp. Cách phân loại này có tác dụng phục vụ cho yêu cầu quản lý chi phí theo định mức, cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm. 1.1.2.3. Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa tổng chi phí với khối lượng sản phẩm sản xuất. Theo cách này, chi phí sản xuất chia thành hai loại: - Chi phí cố định (FC): Là chi phí có tổng số không thay đổi hoặc thay đổi không đáng kể khi có sự thay đổi về khối lượng sản phẩm sản xuất. Nhưng tính cho một đơn vị sản phẩm thì nó sẽ biến động tỷ lệ nghịch với sản lượng. - Chi phí biến đổi (VC): Là chi phí thay đổi biến thiên theo tỷ lệ thuận với sự thay đổi về khối lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ. Tổng chi phí TC = FC + VC 1.1.2.4. Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ chi phí và các đối tượng chịu chi phí. Chia thành hai loại: - Chi phí trực tiếp: Là chi phí sản xuất chỉ liên quan đến một đối tượng chịu chi phí, những chi phí này kế toán có thể căn cứ vào số liệu chứng từ gốc để hạch toán thẳng cho đối tượng chịu chi phí. - Chi phí gián tiếp: Là chi phí sản xuất có liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí, vì vậy kế toán phải tính toán chi phí cho từng đối tượng bằng cách phân bổ theo một tiêu thức thích hợp. Qua các cách phân loại trên, tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý và đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà áp dụng phương pháp phân loại chi phí thích hợp. 1.1.3. Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất. 1.1.3.1. Kế toán chi phí NVL trực tiếp a) Tài khoản sử dụng: TK621- Chi phí NVL trực tiếp Tài khoản này phản ánh toàn bộ hao phí về NVL trực tiếp dùng cho sản xuất sản phẩm trong doanh nghiệp. TK621 được mở chi tiết, tổng hợp tuỳ theo yêu cầu quản lý. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất có thể mở chi tiết các loại chi phí vật liệu phát sinh cho từng đối tượng sử dụng (chi tiết theo phân xưởng, theo sản phẩm, theo từng thứ vật liệu phát sinh). Kế toán sử dụng phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp cho những loại vật liệu mà chứng từ gốc phản ánh rõ đối tượng chịu chi phí. Các trường hợp khác sử dụng phương pháp phân bổ. b) Phương pháp kế toán. Chi phí NVL trực tiếp là những chi phí về NVL chính, nửa thành phẩm mua ngoài, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng trực tiếp cho việc sản xuất và chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện gia công chế biến vật liệu…của các doanh nghiệp sản xuất. Chi phí NVL liên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập hợp chi phí khác nhau phải phân bổ gián tiếp. Tiêu chuẩn phân bổ cần lựa chọn thích hợp như: phân bổ theo định mức tiêu hao vật tư, khối lượng sản phẩm hoàn thành. Sơ đồ 1: Sơ đồ hạch toán chi phí NVL trực tiếp 1.1.3.2. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp. a) Tài khoản sử dụng: TK622- chi phí nhân công trực tiếp Tài khoản này phản ánh toàn bộ chi phí về tiền lương và các khoản phải trả cho công nhân viên trực tiếp sản xuất như: BHXH, BHYT, KPCĐ. Kế toán sử dụng tài khoản 622, mở chi tiết cho từng phân xưởng, từng sản phẩm. b) Phương pháp kế toán Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải trả, phải thanh toán cho công nhân viên trực tiếp sản xuất sản phẩm, trực tiếp thực hiện các lao vụ dịch vụ bao gồm: Tiền lương chính, lương phụ, các khoản phụ cấp, tiền trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo thời gian phải trả cho công nhân viên trực tiếp sản xuất. Sơ đồ 2: Sơ đồ hạch toán chi phí nhân công trực tiếp 1.1.3.3. Kế toán chi phí sản xuất chung a) Tài khoản sử dụng: TK627 – chi phí sản xuất chung Tài khoản này phản ánh những chi phí phục vụ sản xuất sản phẩm tiến hành sản xuất ở các bộ phận, phân xưởng, tổ đội sản xuất như: chi phí về nguyên vật liệu, chi phí công cụ dụng cụ, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí nhân viên phân xưởng,dịch vụ mua ngoài, chi phí khác. Chi phí sản xuất chung thường được hạch toán gián tiếp cho các đối tượng có liên quan. Chi phí sản xuất chung chỉ được mở chi tiết theo từng phân xưởng, từng bộ phận sản xuất và được mở đồng thời tại các tài khoản cấp 2 để theo dõi chi phí sản xuất chung theo từng yếu tố chi phí sản xuất trong đó. b) Phương pháp kế toán Sơ đồ 3: Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất chung 1.1.3.4. Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất a) Tài khoản sử dụng: TK154 – chi phí sản xuất kinh doanh dở dang Tài khoản này được dùng để tập hợp chi phí sản xuất và cung cấp số liệu để tính giá thành sản phẩm sản xuất ra. Tài khoản này được mở chi tiết theo từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất như: phân xưởng sản xuất, từng sản phẩm, nhóm sản phẩm, từng chi tiết sản phẩm hoặc từng dơn đặt hàng. b) Phương pháp kế toán. Trong quá trình hoạt động sản xuất, chi phí sản xuất thực tế phát sinh được tập hợp theo từng khoản mục chi phí. Cuối kỳ kế toán phải tổng hợp toàn bộ chi phí sản xuất phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm. Sơ đồ 4: Sơ đồ kế toán tổng hợp chi phí sản xuất 1.2. Giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp Khái niệm: Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của tất cả những chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để sản xuất và tiêu thụ một khối lượng sản phẩm hoàn thành nhất định. Như vậy, giá thành sản phẩm là một đại lượng xác định, biểu hiện mối liên hệ tương quan giữa 2 đại lượng: Chi phí sản xuất đã bỏ ra và kết quả sản xuất đã đạt được, giá thành là chi phí sản xuất đã kết tinh trong một kết quả sản xuất được xác định theo những tiêu chuẩn nhất định. 1.2.1. Đối tượng tính giá thành sản phẩm. Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm, công việc hoặc lao vụ do doanh nghiệp sản xuất ra và cần phải tính tổng giá thành, giá thành đơn vị. Trong doanh nghiệp sản xuất căn cứ để xác định đối tượng tính giá thành là: - Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất sản phẩm: + Nếu đó là quá trình sản xuất giản đơn đối tượng tính giá thành là thành phẩm ở cuối quy trình công nghệ + Nếu đó là quy trình công nghệ phức tạp, thành phẩm qua nhiều giai đoạn thì thành phẩm ở khâu cuối cùng là đối tượng tính giá thành và có thể bao gồm cả nửa thành phẩm ở giai đoạn trước đó. - Căn cứ vào yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp đòi hỏi chi tiết, hạch toán kinh tế đến từng giai đoạn, từg bộ phận tính giá thành sản phẩm của cả nửa thành phẩm của giai đoạn trước đó. - Trình độ của cán bộ kế toán cho phép tính giá thành ở mức độ nào - Căn cứ vào đơn vị tính quy định 1.2.2. Phân loại giá thành sản phẩm 1.2.2.1. Phân loại giá thành theo thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành a) Giá thành kế hoạch Giá thành kế hoạch là biểu hiện bằng tiền của tổng số các chi phí cần thiết tính theo định mức và dự toán để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm trong kỳ kế hoạch Giá thành kế hoạch là giá thành tính trước khi bắt đầu sản xuất kinh doanh của kỳ kế hoạch Giá thành kế hoạch là một chỉ tiêu quan trọng trong hệ thống chỉ tiêu kinh tế tài chính của doanh nghiệp, là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp để tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. b) Giá thành định mức Là giá thành tính trước khi bắt đầu sản xuất kinh doanh được xây dựng trên cơ sở các định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi các định mức chi phí trong quá trình thực hiện kế hoạch Giá thành định mức là thước đo việc sử dụng hợp lý hay tiết kiệm mọi nguồn lực của doanh nghiệp trong từng kỳ nhất định. c) Giá thành thực tế Là giá thành được xây dựng sau khi đã hoàn thành việc sản xuất sản phẩm căn cứ vào thực tế phát sinh. - Nghĩa là được tính dựa trên hai cơ sở: Khối lượng sản phẩm sản xuất thực tế đã hoàn thành và tổng số chi phí thực tế phát sinh trong từng thời kỳ. - Giá thành thực tế là chỉ tiêu phản ánh tổng hợp kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Là cơ sở xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu quản lý và đảm bảo chỉ đạo sản xuất kịp thời đòi hỏi kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm phải có kế hoạch giá thành. 1.2.2.2. Phân loại giá thành căn cứ vào nội dung chi phí tập hợp trong giá thành Chia làm hai loại: Giá thành sản xuất và giá thành toàn bộ - Giá thành sản xuất (ZSX): Bao gồm những chi phí sản xuất sau: + Chi phí NVL trực tiếp + Chi phí nhân công trực tiếp + Chi phí sản xuất chung - Giá thành toàn bộ (Ztoàn bộ) Giá thành toàn bộ của sản phẩm bao gồm tất cả các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Giá thành toàn bộ là căn cứ để tính toán, xác định lãi trước thuế của doanh nghiệp. Ztoàn bộ = ZSX + Chi phí bán hàng + Chi phí quản lý doanh nghiệp 1.2.3. Phương pháp tính giá thành sản phẩm 1.2.3.1. Phương pháp tính giá thành giản đơn - Điều kiện sử dụng: Phù hợp với công nghệ sản xuất giản đơn, khép kín, tổ chức sản xuất nhiều, chu kỳ sản xuất ngắn và xen kẽ liên tục, chủng loại sản phẩm ít, đối tượng tính giá thành tương ứng với đối tượng tập hợp chi phí sản xuất. Kỳ tính giá thành định kỳ hàng tháng (quý) phù hợp với kỳ báo cáo. - Nếu doanh nghiệp không có sản phẩm dở dang hoặc ít và ổn định giữa các kỳ: Ta có: Z = C Trong đó: Z : Tổng giá thành của sản phẩm hoàn thành C : Tổng chi phí sản xuất tập hợp trong kỳ cho đối tượng tính giá - Nếu doanh nghiệp mà cuối kỳ có nhiều sản phẩm dở dang, không cố định và cần tổ chức đánh giá sản phẩm dở dang. Khi đó công thức là: Z = DĐK + C - DCK Trong đó: Z : Tổng giá thành DĐK: Chi phí sản phẩm dở dang đầu kỳ DCK: Chi phí sản phẩm dở dang cuố Tổng giá thành Giá thành đơn vị = Khối lượng sản phẩm hoàn thành 1.2.3.2. Phương pháp tính giá thành theo định mức - Phương pháp này được áp dụng khi doanh nghiệp có hệ thống định mức kinh tế , kỹ thuật hoàn chỉnh, phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh đồng thời có hệ thống hạch toán được thiết kế tương ứng có khả năng cung cấp và phân tích thông tin nhanh nhạy, đảm bảo được độ tị cậy cần thiết. - Công thức tính giá thành sản phẩm: Phương pháp tính giá thành theo định mức có tác dụng kiểm tra thường xuyên, kịp thời việc thực hiện các định mức kinh tế, kỹ thuật, phát hiện kịp thời và thông tin nhanh chóng về các khoản chi phí vượt định mức để có biện pháp phát huy khả năng tiềm tàng, phấn đấu tiết kiệm chi phí và giảm giá thành sản phẩm. 1.2.3.3. Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng - Phương pháp này được áp dụng cho những doanh nghiệp sản xuất sản phẩm, lao vụ theo đơn đặt hàng của khách hàng. Từng đơn đặt hàng là đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và cũng là đối tượng tính giá thành; kỳ tính giá thành được xác định khi đơn đặt hàng đã sản xuất hoàn thành. - Phương pháp tính: Khi đưa đơn đặt hàng vào sản xuất, kế toán phải mở ngay cho đơn đặt hàng đó một bảng tính giá thành, những chi phí phát sinh trực tiếp cần được quy nạp thẳng vào đơn đặt hàng. * Với mỗi phương pháp tính giá thành như vậy, kế toán đều phải lập bảng tính giá thành: Bảng 1: Bảng tính giá thành giản đơn Khoản mục CPSX dở CPSX phát CPSXDD Tổng giá Giá giá thành chi phí dang đầu kỳ sinh trong kỳ Cuối kỳ Chi phí NVL tr tiếp thành đơn vị Chi phí NC trực tiếp Chi phí SXC Tổng Bảng 2: Bảng tính giá thành theo định mức Khoản mục Giá thành Thay đổi Chênh lệch đ Giá thành Giá thành chi phí định mức mức định mức định mức đơn vị 1.Chi phí NVLTT 2.Chi phí NCTT 3.Chi phí SXC Cộng 1.3. Mối quan hệ giữa giá thành và chi phí sản xuất Chi phí sản xuất và giá thành là hai khái niện riêng biệt có nhưng mặt giống nhau và khác nhau - Giống nhau: Đều là biểu hiện bằng tiền của những hao phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra cho hoạt động sản xuất. Chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ là căn cứ để tính giá thành sản phẩm, công việc lao vụ đã hoàn thành. Vì vậy, muốn tính giá thành sản phẩm cho một đơn vị, một khối lượng phải căn cứ vào toàn bộ chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. - Khác nhau: Chi phí sản xuất Giá thành sản phẩm - Thể hiện lượng chi phí mà - Thể hiện lượng chi phí để hoàn doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ thành việc sản xuất và tiêu thụ một sản phẩm trong một thời kỳ nhất định đơn vị hay một khối lượng sản phẩm - Luôn gắn với từng thời kỳ đã phát nhất định sinh chi phí - Gắn với khối lượng sản phẩm, công - Bao gồm cả những chi phí sản xuất việc lao vụ đã sản xuất hoàn thành đã trả trước trong kỳ nhưng chưa phân bổ cho kỳ - Chỉ liên quan đến chi phí phải trả này và những chi phí phải trả kỳ trước trong kỳ và chi phí phải trả trước nhưng kỳ này mới phát sinh thực tế, không bao gồm được phân bổ trong kỳ chi phí trả trước của kỳ trước phân bổ cho kỳ này-và Không liên quan đến chi phí sản những chi phí trả kỳ này xuất của sản phẩm dở dang cuối kỳ nhưng thực tế chưa phát sinh… và sản phẩm hỏng, nhưng lại liên quan đến - Không chỉ liên quan đến sản phẩm đã chi phí sản xuất sản phẩm dở dang kỳ hoàn thành mà còn liên quan đến cả sản trước chuyển sang. phẩm dở dang, sản phẩm hỏng. 1.4. Nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Căn cứ vào đặc điểm quy trình công nghệ, đặc điểm tổ chức sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp để xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm. - Tổ chức tập hợp và phân bổ từng loại chi phí sản xuất theo đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và bằng phương pháp thích hợp đã lựa chọn, cung cấp kịp thời những số liệu, thông tin tổng hợp về các khoản mục chi phí, yếu tố chi phí quy định, xác định đúng đắn chi phí của sản phẩm dở dang cuối kỳ. - Vận dụng phương pháp tính giá thành thích hợp để tính giá thành và giá thành đơn vị của đối tượng tính giá thành theo đúng khoản mục quy định và đúng kỳ tính giá thành đã xác định. - Định kỳ cung cấp các báo cáo về chi phí sản xuất và giá thành cho lãnh đạo doanh nghiệp, tiến hành phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và kế hoạch hạ giá thành sản phẩm- phát hiện khả năng tiềm tàng, đề xuất biện phapó thích hợp để phấn đấu không ngừng tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. 1.5 Các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ 1.5.1. Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí NVL trực tiếp Theo phương pháp này, sản phẩm dở dang cuối kỳ chỉ được tính toán theo chi phí NVL trực tiếp, còn các chi phí khác tính hết cho sản phẩm hoàn thành. Phương pháp này áp dụng trong trường hợp chi phí NVL chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm (thông thường > 70%). Công thức tính: Dck = Ddk  C xQd Qht  Qd Trong đó: Dck , Ddk : chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ, đầu kỳ C : chi phí NVL trực tiếp phát sinh trong kỳ Qht : số lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳ Qd : số lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ Đánh giá sản phẩm dở dang theo phương pháp này có ưu điểm là tính toán đơn giản, nhanh chóng. Nhưng nhược điểm là thiếu chính xác và bỏ qua các chi phí khác nên chỉ áp dụng khi chi phí NVL chiếm tỷ trọng lớn. 1.5.2. Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo khối lượng sản phẩm hoàn thành tương tương Theo phương pháp này, trước hết phải tính đổi sản phẩm dở dang thành sản phẩm hoàn thành tương đương căn cứ vào mức độ hoàn thành của sản phẩm dở dang. Phương pháp này áp dụng trong trường hợp sản phẩm có tỷ trọng chi phí NVL trực tiếp trong tổng chi phí không lớn lắm, các chi phí khác chiếm tỷ trọng tương đối đồng đều và đáng kể trong giá thành, khối lượng sản phẩm dở dang lớn và không đều trong kỳ. Quy đổi sản phẩm dở dang ra thành tương đương theo công thức: Q’d = Qd x H Q’d - Số lượng sản phẩm làm dở tương đương Qd - Số lượng sản phẩm làm dở cuối kỳ H - Tỷ lệ % hoàn thành Từ đó ta xác định chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang cuối kỳ theo công thức: Dck = Ddk  C xQ' d Qht  Q ' d Trong đó : Dck , Ddk : chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang cuối kỳ, đầu kỳ C : chi phí phát sinh trong kỳ Qht : số lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳ Qd’ : số lượng sản phẩm làm dở tương đương Ưu điểm của phương pháp này là cho kết quả tương đối chính xác vì tất cả các chi phí đều được xác định theo mức độ hoàn thành. Nhưng nhược điểm của phương pháp này là rất phức tạp, tốn nhiều thời gian, khi kiểm kê sản phẩm dở dang phải xác định mức độ hoàn thành của sản phẩm dở dang từng bước. 1.5.3. Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí sản xuất định mức Phương pháp này áp dụng thích hợp với những sản phẩm đã xác định được mức chi phí sản xuất hợp lý hoặc đã thực hiện phương pháp tính giá thành theo định mức. Nội dung: Đối với sản phẩm làm dở chỉ tính theo chi phí định mức. Căn cứ vào khối lượng sản phẩm dở dang của từng công đoạn tổng hợp lại cho toàn bộ sản phẩm làm dở. Doanh nghiệp sản xuất không chỉ có những sản phẩm dở dang giữa các tháng mà trong quá trình sản xuất không thể không có những thiệt hại sản phẩm hỏng. sản phẩm hỏng có thể ở giai đoạn đầu, giai đoạn sau và giai đoạn cuối cùng quy trình công nghệ. Nhưng cho dù ở giai đoạn nào thì doanh nghiệp cũng phải bỏ một phần hoặc toàn bộ chi phí sản xuất vào đó. Vậy sản phẩm hỏng là những sản phẩm doanh nghiệp sản xuất ra không đảm bảo đúng quy cách, phẩm chất và những tiêu chuẩn kỹ thuật đã quy định và không sử dụng đúng công dụng quy định hoặc muốn sửa chữa thì phải bỏ thêm chi phí để sửa chữa. Người ta căn cứ vào tính chất mức độ hỏng của sản phẩm hỏng chia làm hai loại: - Sản phẩm hỏng có thể sửa chữa được - Sản phẩm hỏng không thể sửa chữa được 1.6. Đặc điểm của hoạt động dịch vụ vận tải Vận tải là ngành sản xuất đặc biệt, sản phẩm vận tải là quá trình di chuyển hàng hoá, hành khách từ nơi này đến nơi khác và được đo bằng các chỉ tiêu như tấn, km, hàng hoá vận chuyển và người. Tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ vận tải có những đặc điểm cơ bản sau: - Doanh nghiệp vận tải quản lý quá trình sản xuất theo nhiều khâu khác nhau như giao dịch, hợp đồng vận chuyển hàng hoá hoặc vận chuyển hành khách, thanh toán các hợp đồng, lập kế hoạch điều vận và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch điều vận. - Kế hoạch tác nghiệp cần phải cụ thể hoá cho từng ngày, tuần, định kỳ ngắn… Do lái xe và phương tiện làm việc chủ yếu ở bên ngoài doanh nghiệp nên quá trình quản lý phải rất cụ thể, phải xây dựng được chế độ vật chất rõ ràng, vận dụng cơ chế khoán hợp lý. - Phương tiện vận tải là TSCĐ chủ yếu và không thể thiếu trong quá trình thực hiện dịch vụ vận tải. Các phương tiện này bao gồm nhiều loại có tính năng, tác dụng, hiệu suất và mức độ tiêu hao nhiên liệu, năng lượng khác nhau. Điều này ảnh hưởng lớn đến chi phí và doanh thu dịch vụ. - Việc khai thác vận chuyển phụ thuộc khá lớn vào cơ sở hạ tầng, đường sá, cầu phà và điều kiện địa lý, khí hậu. Ngành vận tải bao gồm nhiều loại hình hoạt động như vận tải ô tô, vận tải đường sắt, vận tải đường biển, đường sông, vận tải hàng không, vận tải thô sơ… Mỗi loại hình vận tải nói trên đều có những đặc điểm, đặc thù chi phối đến công tác kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm. Vì vậy các nhà quản lý trong ngành vận tải nói chung và các doanh nghiệp vận tải nói riêng cần phải chú ý đến những đặc điểm, đặc thù đó để vận dụng vào công tác quản lý có hiệu quả. 1.6.1.Chi phí dịch vụ vận tải Trong quá trình thực hiện dịch vụ vận tải, các doanh nghiệp vận tải cũng phải kết hợp 3 yếu tố cơ bản để hoàn thành dịch vụ vận tải, đó là sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động
- Xem thêm -