Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty TNHH công nghiệp hóa chất Inchemco

  • Số trang: 81 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 19 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27670 tài liệu

Mô tả:

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1. Tổng quan về Ngân hàng thƣơng mại 1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của Ngân hàng thương mại a) Khái niệm Ngân hàng thương mại Ở Việt Nam, theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là loại hình Ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác theo qui định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Trong đó, hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh và cung ứng thường xuyên một hoặc một số nhiệm vụ như: nhận tiền gửi, cung cấp dịch vụ tín dụng, dịch vụ thanh toán”. Có thể hiểu ngân hàng thương mại là một tổ chức tín dụng thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác có liên quan, được thành lập theo quy định của pháp luật và hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. Ngoài ra, ngân hàng thương mại còn có thể coi như vừa là trung gian luân chuyển tài sản từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, vừa là trung gian cung cấp các dịch vụ thanh toán, môi giới và tư vấn. Trong đó, huy động vốn và cho vay là chức năng cơ bản của ngân hàng. b) Đặc điểm của Ngân hàng thương mại  Thứ nhất, ngân hàng thương mại là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ vì mục tiêu lợi nhuận.  Thứ hai, hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại là hoạt động kinh doanh chứa đựng nhiều rủi ro.  Thứ ba, ngân hàng thương mại kinh doanh mang tính hệ thống cao và chịu sự quản lý nghiêm ngặt của Nhà nước.  Thứ tư, sự tồn tại của ngân hàng thương mại phụ thuộc nhiều vào sự tin tưởng của khách hàng. Nhìn chung, ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế đặc biệt, có vai trò quan trọng không chỉ với riêng doanh nghiệp mà còn đối với sự phát triển nền kinh tế của đất nước. 1.1.2. Những hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại a) Hoạt động huy động vốn: Ngân hàng thương mại tiến hành huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế dưới các hình thức khác nhau như:  Nguồn tiền gửi: tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn...  Nguồn đi vay: vay Ngân hàng Nhà nước, vay các tổ chức tín dụng khác, vay trên thị trường... 1 b) Hoạt động tín dụng  Cho vay là một trong số các hình thức cấp tín dụng của ngân hàng, cho vay được phân thành nhiều loại theo các tiêu chí khác nhau như: cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, cho vay tài trợ dự án; cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn...  Bên cạnh đó còn có các hình thức khác như chiết khấu, bao thanh toán, bảo lãnh, cho thuê tài chính... c) Hoạt động trung gian: Các hoạt động trung gian bao gồm: thanh toán hộ, chuyển tiền, đổi tiền, thu hộ, mở L/C, cung cấp thông tin về kinh doanh, đầu tư và quản trị doanh nghiệp, quản lý hộ tài sản… d) Hoạt động khác Ngoài ra trong ngân hàng thương mại còn có các hoạt động khác liên quan đến việc quản lý và thực hiện trong ngân hàng như: hoạt động ngân quỹ, quản lý ngoại tệ, đầu tư và mua cổ phần, hoạt động quản trị rủi ro, hoạt động giám sát và điều hành ... 1.1.3. Hoạt động quản trị rủi ro trong ngân hàng thương mại Từ những năm trước đây, vấn đề quản trị rủi ro đã được các chuyên gia trong nước và quốc tế nhắc đến. Thậm chí, đã có nhiều dự án hỗ trợ kỹ thuật để cải thiện hệ thống quản trị rủi ro tại các ngân hàng nhưng kết quả chưa cao. Một trong những nguyên nhân là hầu hết các ngân hàng chỉ chủ yếu chú trọng rủi ro tín dụng mà xem nhẹ công tác quản trị các loại rủi ro khác. Mà trên thực tế, rủi ro ngân hàng khá đa dạng: rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản, rủi ro danh tiếng, rủi ro chiến lược, rủi ro hoạt động, rủi ro tập trung... Do vậy, các ngân hàng thương mại cần phải chú trọng hơn trong việc quản trị các loại rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải. Mỗi ngân hàng đều phải tuân thủ quy định, quy trình và ý thức được trách nhiệm đánh giá, phát hiện sớm rủi ro và tìm cách ngăn ngừa các rủi ro phát sinh. Hoạt động quản trị rủi ro nên thức hiện một cách chặt chẽ, chính xác, liên tục và trải dài trên toàn bộ hệ thống trong ngân hàng. Quản trị rủi ro cần được thực hiện bởi cả hệ thống, chứ không phải là trách nhiệm riêng của khối quản trị rủi ro trong ngân hàng. 1.2. Tổng quan về rủi ro và rủi ro lãi suất của Ngân hàng thương mại 1.2.1. Tổng quan về rủi ro của Ngân hàng thương mại a) Khái niệm rủi ro của Ngân hàng thương mại Rủi ro là một yếu tố khách quan, con người không thể loại trừ hay kiểm soát được hết mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện cũng như mức độ thiệt hại do chúng gây ra. Nó có thể xuất hiện trong mọi ngành, mọi lĩnh vực và mang đến những tổn thất vô cùng to lớn. Cho đến nay, trên thế giới vẫn chưa có được định nghĩa thống nhất về rủi 2 Thang Long University Library ro. Có rất nhiều những định nghĩa về nó, nhưng tập trung lại có thể chia thành hai quan điểm sau:  Theo quan điểm truyền thống: rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người.  Theo quan điểm hiện đại: rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực. Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội. Nếu chúng ta tích cực phân tích, tìm hiểu rủi ro thì ngoài việc tránh được những tổn thất không đáng có còn mang lại được những thời cơ tốt đẹp đến từ tương lai. Từ những quan điểm trên, ta thấy tuy mang cả tính tích cực lẫn tiêu cực nhưng rủi ro lại khó kiểm soát và luôn song hành với mọi hoạt động kinh doanh. Vì vậy đối với ngân hàng thương mại, trong những hoạt động của nó sẽ luôn tồn tại và ẩn chứa những rủi ro đe dọa. Theo dự thảo thông tư quy định về hệ thống quản lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng: “Rủi ro trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là khả năng xảy ra tổn thất là giảm thu nhập, vốn chủ sở hữu hoặc hạn chế khả năng đạt được mục tiêu kinh doanh của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài...” Ngoài ra, theo tài liệu SSC (State Security Commission of Viet Nam) cung cấp sử dụng trong hội thảo “Quản trị rủi ro đối với Ngân hàng thương mại” tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 4-5/8/2006 thì định nghĩa: “Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là khả năng một hành động hoặc một sự kiện nào đó có thể đem lại những kết quả bất lợi ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu nhập hay nguồn vốn của tổ chức hoặc tạo ra các trở ngại ngăn cản tổ chức tiếp tục kinh doanh và tận dụng cơ hội tạo ra lợi nhuận”. Rủi ro của Ngân hàng thương mại không khác quá nhiều so với rủi ro của các loại hình tổ chức kinh doanh khác nhưng vẫn mang những đặc điểm riêng biệt xuất phát từ tính đặc thù trong hoạt động ngân hàng. Những rủi ro trong Ngân hàng thương mại được phân ra làm nhiều loại khác nhau. b) Phân loại rủi ro của Ngân hàng thương mại Những rủi ro chủ yếu mà Ngân hàng thương mại có thể gặp phải bao gồm: Rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản, rủi ro danh tiếng, rủi ro chiến lược, rủi ro hoạt động và rủi ro tập trung.  Rủi ro tín dụng: là rủi ro do bên được cấp tín dụng, bên có nghĩa vụ hoặc đối tác không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết với bên cấp tín dụng. 3  Rủi ro thị trường: là rủi ro do biến động bất lợi của lãi suất, tỷ giá, giá chứng khoán và giá hàng hóa trên thị trường gây ra. Rủi ro thị trường bao gồm: rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá và rủi ro giá.  Rủi ro hoạt động: là rủi ro do các quy trình nội bộ quy định không đầy đủ hoặc có sai xót; do con người; do các hệ thống hoặc các yếu tố bên ngoài.  Rủi ro danh tiếng: là rủi ro do khách hàng, đối tác, cổ đông, nhà đầu tư hoặc công chúng có phản ứng tiêu cực về mức độ tín nhiệm của ngân hàng.  Rủi ro chiến lược: là rủi ro do ngân hàng không ứng phó kịp thời trước các thay đổi của môi trường kinh doanh; do các chiến lược, chính sách kinh doanh sai lầm hoặc do thực hiện không đúng các chiến lược, chính sách kinh doanh của ngân hàng.  Rủi ro thanh khoản: là rủi ro do ngân hàng không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ tại thời điểm phát sinh nghĩa vụ tài chính hoặc ngân hàng có khả năng thực hiện nghĩa vụ khi đến hạn những phải chịu tổn thất lớn để thực hiện nghĩa vụ đó.  Rủi ro tập trung: là rủi ro do ngân hàng tập trung tín dụng hoặc hoạt động kinh doanh khác vào một hoặc một số đối tác, khách hàng, lĩnh vực kinh doanh, địa bàn ở mức độ có thể ảnh hưởng đến an toàn hoặt động hoặc làm giảm khả năng duy trì các hoạt động kinh doanh chính của ngân hàng. Do đặc điểm đặc thù của hoạt động ngân hàng cho nên hoạt động kinh doanh của ngân hàng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Khi rủi ro xảy ra có thể gây ra tổn thất to lớn, gây ảnh hưởng không nhỏ đến lợi nhuận của ngân hàng và thậm chí làm tê liệt toàn bộ hoạt động của ngân hàng. Cũng chính vì vậy mà hoạt động quản trị rủi ro đóng một vai trò rất quan trọng trong hoạt động quản trị ngân hàng hiện đại. Một trong các loại rủi ro quan trọng cần đặc biệt để ý của ngân hàng là rủi ro lãi suất. Ở đây ta sẽ đi vào tìm hiểu về rủi ro lãi suất để phục vụ cho công tác quản trị rủi ro lãi suất trong ngân hàng. 1.2.2. Rủi ro lãi suất Trong hoạt động kinh doanh, các Ngân hàng thương mại luôn phải đối mặt với rất nhiều rủi ro và một trong những rủi ro đặc thù của ngân hàng thương mại là rủi ro lãi suất. Rủi ro lãi suất là rủi ro về mặt tài chính của ngân hàng đối với những biến động bất lợi về lãi suất. Rủi ro lãi suất tại các Ngân hàng thương mại là rủi ro thua lỗ/lợi nhuận do sự thay đổi của lãi suất trong các khoảng thời kỳ mà tại các thời kỳ đó các tài sản và nguồn vốn được định giá khác nhau. Rủi ro về lãi suất thường xảy ra khi có sự biến động lớn về lãi suất đầu vào và đầu ra, sự chênh lệch giữa các mức lãi suất huy động lớn cũng như chênh lệch giữa các kỳ hạn huy động và kỳ hạn đầu tư, cho vay ra thị trường. Theo Timothy W.Koch: “Rủi ro lãi suất là sự thay đổi tiềm tàng về thu nhập lãi ròng và giá thị trường của vốn ngân hàng xuất phát từ sự thay đổi của mức lãi suất”. 4 Thang Long University Library Khái niệm này chỉ rõ bản chất của rủi ro lãi suất hơn. Quá trình chuyển hoá tài sản được coi như một chức năng đặc biệt cơ bản của hệ thống ngân hàng. Quá trình này bao gồm việc huy động vốn và sử dụng vốn. Kỳ hạn, mức độ thanh khoản và giá trị của các khoản trong danh mục đầu tư thuộc tài sản có thường không cân xứng với các khoản mục thuộc nợ phải trả. Chính sự không cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản có và nợ phải trả này làm cho ngân hàng phải chịu rủi ro giảm lợi nhuận khi lãi suất trên thị truờng biến động. Như vậy, nếu ngân hàng duy trì cơ cấu tài sản có và nợ phải trả với những kỳ hạn không cân xứng với nhau, thì phải chịu những rủi ro lãi suất trong việc tái tài trợ tài sản có và nợ phải trả; hoặc rủi ro lãi suất do giá trị của tài sản thay đổi khi lãi suất thị trường biến động. Rủi ro lãi suất là một loại rủi ro cơ bản, luôn tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại nên việc xây dựng một chương trình quản lý rủi ro lãi suất là công việc rất quan trọng trong công tác quản lý rủi ro của các ngân hàng thương mại hiện nay. Nếu không có sự quan tâm thích đáng đến việc quản lý rủi ro lãi suất, không dự báo được xu hướng biến động của lãi suất thì các ngân hàng thương mại có thể bị thiệt hại nặng nề từ loại rủi ro này. 1.2.3. Các loại rủi ro lãi suất a) Rủi ro thu nhập Khi lãi suất trên thị trường có sự biến động sẽ gây ra rủi ro làm giảm thu nhập lãi ròng của ngân hàng. Đây là sự rủi ro mà sự thay đổi của lãi suất sẽ khiến các chi phí về huy động vốn và các khoản lãi thu được từ các khoản cho vay thay đổi những lượng khác nhau. Điều này khiến cho thu nhập của ngân hàng bị thay đổi theo. Trong đó, thời hạn của nguồn vốn mà ngân hàng huy động được và thời hạn của các khoản cho vay, đầu tư của ngân hàng sẽ quyết định tính chất rủi ro mà ngân hàng phải đương đầu. Dựa vào tính chất rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt, ta có thể phân làm 2 loại rủi ro sau:  Rủi ro tái tài trợ (Refinancing risk): Khi kỳ hạn của tài sản cho vay, đầu tư của ngân hàng dài hơn kỳ hạn của vốn huy động, nếu lãi suất thị trường tăng sẽ làm cho chi phí tái huy động vốn cao hơn khoản tiền lãi thu được. Điều này gây ra rủi ro làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.  Rủi ro tái đầu tư (Reinvestement Risk): Khi kỳ hạn của tài sản cho vay, đầu tư của ngân hàng ngắn hơn kỳ hạn của vốn huy động, nếu lãi suất thị trường giảm sẽ làm cho thu nhập từ lãi của các tài sản đầu tư thấp hơn chi phí tái huy động vốn. Điều này dẫn đến rủi ro làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. b) Rủi ro giảm giá trị tài sản Là rủi ro mà giá trị ròng của ngân hàng (Giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu) giảm do biến động bất lợi trong giá trị thị trường của tài sản và nợ. Trên thị trường, giá 5 trị của tài sản có hay nợ phải trả của ngân hàng đều dựa trên giá trị hiện tại của tiền tệ để xác định. Do đó, khi lãi suất thị trường tăng lên thì mức chiết khấu giá trị tài sản cũng tăng lên làm cho giá trị tài sản có và nợ phải trả giảm xuống. Và ngược lại, khi lãi suất thị trường giảm thì giá trị tài sản có và nợ phải trả tăng lên. Sự biến đổi của lãi suất khiến cho giá trị của tài sản có và nợ phải trả của ngân hàng thay đổi theo những lượng khác nhau làm cho giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu thay đổi. Giá trị ròng của ngân hàng luôn thay đổi không ngừng và phụ thuộc vào tình hình lãi suất trên thị trường. 1.2.4. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro lãi suất a) Sự biến động của lãi suất trên thị trường Quan hệ cung – cầu về tín dụng trên thị trường thường xuyên thay đổi cùng với nhiều yếu tố tác động qua lại làm cho lãi suất thị trường thường xuyên thay đổi và rất khó để dự báo và kiểm soát một cách chính xác. Đối với những thay đổi dù nhỏ của lãi suất trên thị trường cũng sẽ gây ảnh hưởng và mang đến rủi ro cho ngân hàng:  Nếu ngân hàng duy trì khe hở lãi suất dương (tức là khi giá trị tài sản có nhạy cảm với lãi suất > giá trị nợ phải trả nhạy cảm với lãi suất): thì khi lãi suất giảm sẽ làm cho thu nhập từ lãi trên tài sản giảm nhiều hơn chi phí trả lãi trên nợ phải trả, có nghĩa là doanh thu giảm nhiều hơn chi phí, tương ứng NIM (hệ số thu nhập lãi cận biên) giảm. Điều này dẫn đến rủi ro làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.  Nếu ngân hàng duy trì khe hở lãi suất âm (tức là khi giá trị tài sản có nhạy cảm với lãi suất < giá trị nợ phải trả nhạy cảm với lãi suất): Cũng tương tự như trên, ta có khi lãi suất tăng sẽ làm cho thu nhập từ lãi trên tài sản tăng ít hơn chi phí trả lãi trên nợ phải trả, có nghĩa là doanh thu tăng ít hơn chi phí, tương ứng NIM (hệ số thu nhập lãi cận biên) giảm. Điều này dẫn đến rủi ro làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Tuy nhiên, ngân hàng có thể tiến hành dự báo với một độ tin cậy nhất định và đưa ra các phương pháp điều chỉnh hành động phù hợp với từng trường hợp lãi suất trong tương lai để có thể đạt được hiệu quả kinh doanh cao nhất. b) Sự không phù hợp về kỳ hạn giữa nguồn và tài sản Trong môi trường kinh doanh cạnh tranh cao và đầy biến động như hiện nay, các ngân hàng không có nhiều sự lựa chọn về kỳ hạn, quy mô... của các khoản đầu tư và huy động theo đúng như mong muốn của mình. Chính vì vậy, luôn xuất hiện sự không phù hợp giữa về kỳ hạn giữa nguồn và tài sản. Điều này làm cho khi có sự biến động lãi suất sẽ gây ra rủi ro ảnh hưởng tới ngân hàng. Đối với ngân hàng thương mại, các tài sản và nguồn vốn luôn luôn có những kỳ hạn khác nhau. Ngân hàng sẽ dựa vào kỳ hạn mà đưa ra lãi suất phù hợp. Để có thể giảm thiểu được rủi ro lãi suất thay đổi quá lớn mà vẫn đưa ra được nhiều dạng kỳ hạn, ngân hàng đã đưa ra kỳ hạn đặt lại lãi suất. Đây là kỳ hạn mà khi kết thúc, lãi suất sẽ 6 Thang Long University Library thay đổi theo lãi suất thị trường. Từ đó, ngân hàng có thể chia tài sản và nguồn vốn làm hai dạng: nhạy cảm với lãi suất và kém nhạy cảm với lãi suất:  Tài sản và nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất là loại mà số dư sẽ nhanh chóng chuyển sang lãi suất mới khi lãi suất thị trường thay đổi. Ví dụ: tài sản, nguồn ngắn hạn, các khoản có kỳ hạn đặt lại lãi ≤ 12 tháng, tài sản và nguồn trung, dài hạn có thời gian đáo hạn ≤ 12 tháng...  Tài sản và nguồn vốn kém nhạy cảm với lãi suất là loại mà lãi suất của số dư sẽ ít có sự biến động khi lãi suất thị trường thay đổi, thường có thời gian dài, trung hoặc dài hạn với lãi suất cố định. Sự không phù hợp về kỳ hạn giữa nguồn và tài sản được đo bằng khe hở lãi suất: Khe hở lãi suất = Tài sản nhạy cảm lãi suất – Nguồn vốn nhạy cảm lãi suất Khe hở lãi suất của một ngân hàng có thể khác 0 hoặc bằng 0. Nếu khe hở lãi suất khác 0, tùy thuộc vào khe hở lãi suất dương hay âm thì ngân hàng sẽ gặp những rủi ro khác nhau đối với sự biến động của lãi suất thị trường. Ngược lại, nếu khe hở lãi suất bằng 0 thì dù lãi suất có thay đổi thì cũng không gây ảnh hưởng đến ngân hàng. Bên cạnh đó, nếu xét thời hạn của khoản cho vay với thời hạn của nguồn mà ngân hàng huy động được để tài trợ nó, ta sẽ xác định được tính chất rủi ro mà nó đương đầu:  Nếu thời hạn cho vay > thời hạn nguồn vốn tài trợ nó, thì ngân hàng ở vị thế tái tài trợ.  Nếu thời hạn cho vay < thời hạn nguồn vốn tài trợ nó, thì ngân hàng ở vị thế tái đầu tư. c) Ngân hàng sử dụng lãi suất cố định Trong một khoảng thời gian dài trước đây, các ngân hàng thương mại luôn sử dụng chế độ lãi suất cố định theo quy định của Ngân hàng Nhà Nước. Chiếm phần lớn trong cơ cấu cho vay của các ngân hàng vẫn là các dự án cho vay trung và dài hạn. Các dự án này thường được xác định một mức lãi suất cố định để chủ đầu tư có thể xác định trước chi phí, doanh thu và hiệu quả của dự án trong tương lai. Không những thế các khoản tiết kiệm nhỏ lẻ của người dân cũng được người gửi yêu cầu mức lãi suất cố định để tránh gặp rủi ro. Chính những hợp đồng này trong tương lai sẽ mang đến rủi ro cho không chỉ ngân hàng mà cả khách hàng khi lãi suất thị trường biến đổi. d) Các nguyên nhân khách quan khác  Do sự thay đổi chính sách của Chính Phủ, Ngân hàng Nhà nước..  Do sự biến động của nền kinh tế trong nước, khu vực hoặc thế giới: khủng hoảng, lạm phát, suy thoái... 7  Do sự biến động về chính trị, chiến tranh...  Do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, biến đổi môi trường, khí hậu... Có rất nhiều các nguyên nhân khác nhau có thể mang lại rủi ro lãi suất cho ngân hàng. Cho nên ngân hàng cần tăng cường quản lý, điều chỉnh hoạt động kinh doanh sao cho có thể hạn chế tối đa các nguyên nhân này. Tuy nhiên có rất nhiều những nguyên nhân mà ngân hàng không thể kiểm soát được, cho nên ngân hàng có thể dựa trên mức độ rủi ro lãi suất đo lường được theo từng trường hợp mà phân loại để quản lý và có biện pháp phù hợp nhằm ngăn hừa rủi ro xảy ra. 1.2.5. Đo lường rủi ro lãi suất Để phòng tránh rủi ro lãi suất, đòi hỏi ngân hàng phải tăng cường công tác quản lý, trong đó quan trọng nhất là cần áp dụng đúng phương pháp lượng hóa rủi ro lãi suất. Hiện nay, trên thế giới có 3 mô hình lượng hóa rủi ro lãi suất đang được các ngân hàng hiện đại áp dụng là: mô hình kỳ hạn đến hạn, mô hình định giá lại và mô hình thời lượng. a) Mô hình kỳ hạn đến hạn Mô hình kỳ hạn là một phương pháp trực quan để lượng hóa rủi ro lãi suất qua đánh giá sự cân xứng về kỳ hạn giữa Nợ phải trả và Tài sản có trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Quy tắc chung của mô hình này khi đo lường rủi ro lãi suất là:  Một sự tăng (giảm) của lãi suất thị trường đều dẫn đến một sự tăng (giảm) của giá trị tài sản (danh mục tài sản).  Khi lãi suất thị trường tăng (giảm) thì tài sản (danh mục tài sản) có kỳ hạn càng dài sẽ giảm (tăng) giá càng lớn nhưng tốc độ thiệt hại sẽ giảm dần khi kỳ hạn tăng lên. Như vậy, nếu kỳ hạn bình quân của Tài sản có dài hơn kỳ hạn bình quân của Nợ phải trả, khi lãi suất tăng lên thì giá trị Tài sản có sẽ giảm nhiều hơn so với Nợ phải trả. Trong trường hợp này, ngân hàng sẽ gặp phải rủi ro gây ra nguy cơ mất khả năng thanh toán hoặc là mất chi phí bù đắp để giải quyết nguồn vốn. Có 2 phương pháp để lượng hóa mô hình này là: phương pháp lượng hóa rủi ro lãi suất đối với một tài sản và phương pháp lượng hóa rủi ro lãi suất đối với danh mục tài sản:  Lượng hóa rủi ro lãi suất đối với một tài sản: Công thức tính: Trong đó: là tỉ lệ % tổn thất của tài sản 8 Thang Long University Library ∆R là tỉ lệ % thay đổi của lãi suất là giá trị thị trường của tài sản khi lãi suất thay đổi là giá trị thị trường hiện tại của tài sản là lãi suất sau khi thay đổi là lãi suất hiện tại  Lượng hóa rủi ro lãi suất đối với một danh mục tài sản: Áp dụng công thức tính lượng hóa rủi ro lãi suất đối với một tài sản nhưng giá của một danh mục tài sản được tính dựa trên kỳ hạn đến hạn bình quân của danh mục tài sản đó. Kỳ hạn đến hạn bình quân của danh mục tài sản được xác định: ∑ Trong đó: ; ∑ là kỳ hạn đến hạn bình quân của danh mục tài sản có là kỳ hạn đến hạn bình quân của danh mục nợ phải trả là tỉ trọng của Tài sản có thứ i là kỳ hạn đến hạn của Tài sản có thứ i là tỉ trọng của Nợ phải trả thứ j là kỳ hạn đến hạn của Nợ phải trả thứ j Tuy nhiên, nhược điểm của mô hình này là không đề cập đến yếu tố thời lượng của các luồng Tài sản có và Nợ phải trả. Do tính đơn giản và trực quan nên nó được sử dụng khá phổ biến, điều này cũng phù hợp với Việt Nam hiện đang trong quá trình hiện đại hóa ngân hàng. b) Mô hình định giá lại Nội dung cơ bản của mô hình này là việc phân tích các luồng tiền dựa trên nguyên tắc giá trị ghi sổ nhằm xác định chênh lệch giữa lãi suất thu được từ Tài sản có và lãi suất thanh toán cho vốn huy động sau một thời gian nhất định. Theo phương pháp này, các ngân hàng tính số chênh lệch giữa tài sản có và nợ phải trả đối với từng kỳ hạn và đặt chúng trong mối quan hệ với độ nhạy cảm với lãi suất của thị trường. Độ nhạy cảm với lãi suất trong trường hợp này được xác định dựa trên khoảng thời gian mà tài sản có và nợ phải trả được định giá lại theo mức lãi suất mới của thị trường. Công thức để tính mức độ thay đổi thu nhập ròng khi lãi suất thay đổi như sau: ( Trong đó: ) là sự thay đổi thu nhập ròng từ lãi suất của nhóm i là chênh lệch giá trị ghi sổ giữa tài sản có và nợ phải trả của nhóm i 9 là mức thay đổi lãi suất của nhóm i là giá trị ghi sổ tài sản có thuộc nhóm i là giá trị ghi sổ nợ phải trả thuộc nhóm i Cơ sở phân nhóm dựa vào mức độ biến động của thu nhập từ lãi suất (đối với tài sản có ) và chi phí trả lãi (đối với nợ phải trả) khi lãi suất thường xuyên có sự thay đổi. Có thể phân chia các nhóm nợ phải trả và tài sản có theo các cách sau:  Phân chia theo tính chất nhạy cảm lãi suất: nhóm tài sản có hoặc nợ phải trả nhạy cảm với lãi suất và nhóm tài sản có hoặc nợ phải trả ít nhạy cảm với lãi suất.  Phân chia theo một khung kỳ hạn nhất định: Kỳ hạn đến một ngày; trên một ngày đến 3 tháng; trên 3 tháng đến 6 tháng; trên 6 tháng đến 1 năm; trên một năm đến 5 năm; trên 5 năm... Tuy nhiên cách phân chia này có thể dẫn đến sai lệch về cơ cấu giữa tài sản có và nợ phải trả trong cùng một nhóm. Ví dụ trong cùng một nhóm kỳ hạn trên 3 đến 6 tháng, số lượng tài sản có và nợ phải trả là tương đương nhau nhưng nếu cơ cấu kỳ hạn của nợ phải trả là từ 3 đến 4 tháng còn của tài sản có là từ 5 đến 6 tháng, thì rõ ràng là có hiện tượng không cân xứng giữa tài sản có và nợ phải trả. Ta thấy, giả sử ngân hàng áp dụng phân chia theo tính chất nhạy cảm với lãi suất của tài sản và coi nhóm i là nhóm tài sản nhạy cảm với lãi suất. Nếu chênh lệch giữa giá trị tài sản có nhạy cảm với lãi suất và giá trị nợ phải trả nhạy cảm với lãi suất là dương (GAP > 0), thì khi lãi suất tăng dẫn đến thu nhập từ lãi suất của ngân hàng tăng, khi lãi suất giảm thu nhập sẽ giảm và ngược lại. Nhược điểm của mô hình là chỉ đề cập đến giá trị ghi sổ của tài sản mà không đề cập đến giá trị thị trường của chúng. Do đó, mô hình định giá lại chỉ phản ánh được một phần rủi ro lãi suất đối với ngân hàng. Bên cạnh đó, trên thực tế các khoản tín dụng dài hạn có thể được áp dụng phương thức trả góp định kỳ hàng năm hoặc hàng quý. Cho nên ngân hàng có thể tái đầu tư các khoản tiền này trong năm với mức lãi suất hiện hành trên thị trường, nghĩa là những khoản tiền này có thể được sắp xếp vào loại tài sản nhạy cảm với lãi suất. c) Mô hình thời lượng So với hai mô hình trên, thì mô hình thời lượng hoàn hảo hơn trong việc đo mức độ nhạy cảm của tài sản có và nợ phải trả đối với lãi suất, bởi vì nó đề cập đến yếu tố thời lượng của tất cả các luồng tiền cũng như kỳ hạn đến hạn của nợ phải trả và tài sản có . Thời lượng của một tài sản là thước đo thời gian tồn tại luồng tiền của tài sản này, được tính trên cơ sở các giá trị hiện tại của nó. Công thức tính trong mô hình thời lượng : ∑ ( ) ; ∑ 10 Thang Long University Library Trong đó: là giá trị hiện tại của luồng tiền xảy ra tại thời điểm t là luồng tiền nhận được tại thời điểm cuối kỳ t R n t D N là mức lãi suất thị trường hiện hành (%/ năm) là số lần luồng tiền xảy ra trong một năm là thời điểm xảy ra luồng tiền (t = 1, 2, 3…, N) là thời lượng của tài sản là tổng số luồng tiền xảy ra Một số đặc điểm của mô hình thời lượng như sau:  Giữa thời lượng (D) và kỳ hạn của tài sản (M, trong đó: M = N/n): Thời lượng tăng lên cùng với kỳ hạn của tài sản có (hoặc nợ phải trả) có thu nhập cố định, nhưng với một tỷ lệ giảm dần. Tức là M tăng thì D cũng tăng nhưng D tăng chậm hơn M.  Giữa thời lượng (D) và mức lãi suất hiện hành (R): Khi lãi suất thị trường tăng thì thời lượng giảm.  Giữa thời lượng (D) và lãi suất coupon (C): lãi suất coupon càng cao, thì thời lượng càng giảm. Điều này có nghĩa là khi lãi suất coupon càng cao thì luồng tiền thu hồi càng nhanh, do đó thời lượng sẽ giảm. Thời lượng là phép đo trực tiếp độ nhạy cảm của giá trị tài sản có và nợ phải trả với lãi suất – chính là sự thay đổi của thị giá tài sản khi lãi suất thay đổi. Thời lượng của tài sản càng lớn thì giá trị của tài sản càng nhạy cảm với lãi suất. Cũng như vậy, giá trị thị trường của tài sản không những bị tác động bởi lãi suất thị trường mà còn chịu tác động về kỳ hạn hoàn vốn của tài sản. Nếu kỳ hạn hoàn vốn ngắn thì giá trị tài sản càng ít bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi lãi suất và ngược lại. Mối quan hệ giữa sự thay đổi thị giá dP với lãi suất thị trường dR được biểu diễn theo công thức sau: = -D Trong đó: dP dR P R D là sự thay đổi của thị giá trái phiếu là sự thay đổi của lãi suất thị trường là giá trị hiện tại của trái phiếu (thị giá) là lãi suất hiện hành của thị trường (%/năm) là thời lượng của trái phiếu Như vậy, nếu thời lượng D càng lớn thì chỉ cần lãi suất thay đổi một lượng nhỏ cũng sẽ làm cho thị giá có sự biến động lớn. Ngoài ra, khi lãi suất thay đổi thì thị giá trái phiếu biến động ngược chiều theo tỷ lệ thuận với độ lớn của thời lượng D. Tức là nếu lãi suất tăng thì thị giá của trái phiếu sẽ giảm một lượng bằng D lần lượng tăng của lãi suất. 11 Đối với kinh doanh ngân hàng, việc sử dụng mô hình thời lượng để quản trị rủi ro lãi suất là một giải pháp thích hợp. Một chức năng quan trọng của mô hình thời lượng là cho phép ngân hàng thương mại phòng ngừa được rủi ro đối với toàn bộ hay một bộ phận riêng lẻ của bảng cân đối tài sản. Tuy nhiên mô hình thời lượng là một mô hình phức tạp, đòi hỏi nhà quản trị phải thường xuyên cơ cấu lại bảng cân đối tài sản để thời lượng của tài sản có và nợ phải trả cân xứng nhau, nhưng việc này không phải lúc nào cũng làm được. Mặc dù vậy, ngày nay với việc mở rộng các nghiệp vụ trên thị trường: buôn bán vốn, chứng khoán hóa tài sản, thị trường buôn bán lại nợ ... đã làm đơn giản, tăng tốc độ và giảm được chi phí giao dịch rất nhiều trong việc cơ cấu lại bảng cân đối tài sản. Hơn nữa các ngân hàng cũng có thể sử dụng mô hình này thông qua các giao dịch nghiệp vụ như hợp đồng kỳ hạn, tương lai, giao dịch quyền chọn, hoán đổi... mà không nhất thiết phải cơ cấu lại bảng cân đối tài sản. Cuối cùng, các ngân hàng thương mại nên lựa chọn một biện pháp đo lường rủi ro lãi suất phù hợp với điều kiện công nghệ và thực trạng rủi ro của mình. 1.3. Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất trong ngân hàng thương mại 1.3.1. Khái niệm và sự cần thiết của quản trị rủi ro lãi suất trong ngân hàng thương mại Từ những giáo trình, sách và các công trình nghiên cứu trước đây ta có thể rút ra được khái niệm sau: Quản trị rủi ro lãi suất chính là việc các ngân hàng giảm thiểu và kiểm soát những tổn thất đang và sẽ gây ra đối với thu nhập của ngân hàng do biến động của lãi suất. Quản trị rủi ro lãi suất là một hoạt động rất quan trọng trong chuỗi các công tác quản trị rủi ro của ngân hàng. Nếu ngân hàng thương mại không thực hiện quản trị rủi ro lãi suất một cách chặt chẽ thì có thể sẽ gặp phải tổn thất lớn về thu nhập. Cho nên mục tiêu quan trọng trong quản trị rủi ro lãi suất là hạn chế tới mức tối đa những tổn thất và ảnh hưởng từ biến động lãi suất đến thu nhập của ngân hàng một cách đầy đủ, toàn diện và liên tục. Để đạt được mục tiêu này, các ngân hàng cần đề ra những chiến lược, chính sách hoặc sử dụng những công cụ nhằm phòng ngừa, hạn chế rủi ro lãi suất một cách phù hợp. Những phương thức quản trị rủi ro lãi suất theo phương pháp hiện đại mà các ngân hàng thương mại hiện nay đang áp dụng là: sử dụng các hợp đồng phái sinh, quản trị khe hở lãi suất, quản trị khe hở kỳ hạn... 1.3.2. Nội dung hoạt động quản trị rủi ro lãi suất trong ngân hàng thương mại a) Một số chuẩn mực và thông lệ quốc tế quản trị lãi suất: Theo BIS (Bank for International Settlements) 2006, Hiệp ước vốn Basel II khuyến nghị các ngân hàng nên sử sụng mô hình VAR để xác định rủi ro lãi suất. Đối với các ngân hàng không đủ điều kiện để tiến hành phân tích theo phương pháp này, 12 Thang Long University Library Ủy ban đề xuất các hệ số để tính rủi ro lãi suất như sau: Bảng 1.1: Bảng tính hệ số rủi ro lãi suất (Đơn vị: %) Kỳ hạn ≤ 1 tháng ≤ 6 tháng ≤ 1 năm ≤ 4 năm ≤ 8 năm ≤ 16 năm ≤ 20 năm >20 năm Hệ số lãi suất 0,00 0,70 1,25 2,25 3,75 5,25 7,50 12,50 (Nguồn: BIS 2006) Ủy ban cũng yêu cầu phải giám sát hoạt động quản trị rủi ro lãi suất đối với các sổ ngân hàng và vấn đề này được nêu rõ trong trụ cột thứ 2 của Basel II. Trụ cột thứ 2 như là một cảnh báo sớm đối với các nhà giám sát, trong đó các ngân hàng sẽ báo cáo và giải thích cách tính những mô hình mà mình đã áp dụng trong tính toán các chỉ tiêu do Ủy ban Basel yêu cầu. Trong trường hợp rủi ro lãi suất mà ngân hàng gặp phải vượt quá mức trong tương quan với số vốn đủ tiêu chuẩn của ngân hàng thì các giám sát sẽ có yêu cầu tăng mức vốn cần thiết hoặc yêu cầu giảm rủi ro mà ngân hàng đang gặp phải hoặc có thể kết hợp cả hai biện pháp. Cụ thể, các giám sát đặc biệt chú ý đến các ngân hàng có rủi ro lãi suất vượt quá 20% số vốn cấp 1 và 2. Khi đó, họ phải thực hiện việc thử nghiệm về tình huống khi mà lãi suất tăng giảm 2% để xem xét tác động của nó đến giá trị nợ phải trả và tài sản có . Từ đó các giám sát viên và nhà quản trị phối hợp để có biện pháp điều chỉnh hợp lý. b) Quy trình quản trị rủi ro lãi suất trong ngân hàng thương mại: Như các hoạt động quản trị rủi ro thông thường khác, quy trình quản trị rủi ro lãi suất trong ngân hàng thương mại cùng bao gồm 4 bước: Sơ đồ 1.1: Quy trình quản trị rủi ro lãi suất trong ngân hàng thƣơng mại Nhận dạng rủi ro Đo lƣờng rủi ro Giám sát rủi ro Tài trợ rủi ro (Nguồn: Tổng hợp từ các giáo trình quản trị rủi ro trong ngân hàng)  Nhận dạng rủi ro: rủi ro lãi suất có thể nhận biết bằng nhiều cách song cách cơ bản nhất là xem xét chênh lệch kỳ hạn giữa tài sản có và nợ phải trả và mức độ biến động của lãi suất trên thị trường so với lãi suất mà ngân hàng kỳ vọng. 13  Đo lường rủi ro: các ngân hàng hiện tại có thể sử dụng một hoặc kết hợp 3 mô hình lượng hóa rủi ro lãi suất sau: mô hình kỳ hạn đến hạn; mô hình định giá lại; mô hình thời lượng.  Giám sát rủi ro: ngân hàng cần thiết lập và duy trì một hệ thống kiểm soát hiệu quả, tuân thủ các chuẩn mực phân tách trách nhiệm trong điều hành. Các nhân tố chính của quá trình giám sát bao gồm kiểm tra quá trình quản trị rủi ro lãi suất và những hạn mức rủi ro hiệu quả do ban điều hành của ngân hàng đề ra thông qua một số phương pháp quản trị rủi ro lãi suất hiện hành.  Tài trợ rủi ro: ngân hàng cần đánh giá lại các hoạt động quản trị rủi ro lãi suất định kỳ; giám sát tình hình rủi ro hiện tại và tiềm năng thường xuyên để đảm bảo rằng các hoạt động đều nhất quán với các mục tiêu đã đề ra và xử lý kịp thời những tổn thất xảy ra. Trên đây chỉ là các bước cơ bản nhất trong quá trình quản trị rủi ro lãi suất của ngân hàng thương mại. Các ngân hàng cần dựa vào đó và thay đổi quy trình tùy thuộc theo đặc điểm, khả năng và tình trạng riêng của mỗi ngân hàng để hoạt động quản trị rủi ro lãi suất có thể đạt hiệu quả cao nhất. Tất cả các bước trong quy trình này đều quan trọng và có liên quan mật thiết tới nhau. Thực hiện đầy đủ và chính xác những bước trên, ngân hàng đã thành công một phần trong việc ngăn ngừa rủi ro trong tương lai. 1.3.3. Các phương pháp quản trị rủi ro lãi suất của ngân hàng thương mại a) Sử dụng các hợp đồng phái sinh  Hợp đồng kỳ hạn: Hợp đồng kỳ hạn (Forward Contract) là một thỏa thuận giữa người mua và người bán tại thời điểm hiện tại (t = 0) rằng người mua sẽ thanh toán cho người bán theo giá kỳ hạn đã được thỏa thuận tại thời điểm t = 0 và người bán sẽ trao hàng cho người mua khi hợp đồng đáo hạn. + Hợp đồng kỳ hạn trái phiếu: Khi sử dụng hợp đồng kỳ hạn trái phiếu, ta có thể xác định sự thay đổi thị giá của trái phiếu khi lãi suất thay đổi theo công thức đã nêu ở mô hình thời lượng: = -D Như vậy, thị giá trái phiếu biến động ngược chiều với lãi suất thị trường. Các nhà quản trị ngân hàng có thể sử dụng quy tắc này để phòng ngừa rủi ro lãi suất đối với những loại trái phiếu mà họ đang nắm giữ. Nếu dự báo lãi suất thị trường sẽ tăng lên, thì nhà quản trị ngân hàng có thể bán trái phiếu hiện có bằng hợp đồng kỳ hạn theo giá hiện tại. Đến ngày đáo hạn, nếu lãi suất tăng lên đúng như dự báo, bằng 14 Thang Long University Library việc bán trái phiếu cho người mua với giá cố định đã thỏa thuận trong hợp đồng, ngân hàng sẽ tránh được thiệt hại do giá trái phiếu giảm. Ngược lại, nếu ngân hàng dự báo lãi suất thị trường sẽ giảm, nhà quản trị ngân hàng có thể ký hợp đồng mua kỳ hạn các trái phiếu để thu được lợi nhuận cao hơn do không phải trả thêm phần tăng của trái phiếu. + Hợp đồng kỳ hạn tiền gửi: Hợp đồng kỳ hạn tiền gửi được sử dụng khi không có sự cân xứng về kỳ hạn của tài sản có và kỳ hạn nợ phải trả. Huy động tiền gửi để cho vay là hoạt động dặc trung của ngân hàng, do không có sự phù hợp về kỳ hạn nên các ngân hàng thường xuyên lấy một phần nguồn ngắn hạn để cho vay với kỳ hạn dài hơn. Do đó, nếu ngân hàng dự báo lãi suất sẽ tăng lên trong tương lai, để tránh khỏi rủi ro làm tăng chi phí huy động nguồn bù đắp cho khoản cho vay dài hạn, ngân hàng sẽ kỳ hợp đồng kỳ hạn tiền gửi với khách hàng. Hợp đồng này là thỏa thuận khách hàng sẽ gửi tiền vào ngân hàng với mức lãi suất cố định tại thời điểm trong tương lai - khi nguồn ngắn hạn kết thúc và cần nguồn mới để tiếp tục khoản cho vay dài hạn trước đó. Từ đấy, thu nhập của ngân hàng từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động là một số biết trước và chắc chắn, không phụ thuộc vào sự biến động của lãi suất thị trường. + Hợp đồng lãi suất kỳ hạn: Hợp đồng lãi suất kỳ hạn có đặc điểm là không có giao nhận khoản tiền gốc mà chỉ liên quan đến phần trao đổi chênh lệch lãi suất. Để tránh rủi ro thiệt hại do tăng chi phí huy động để bổ sung nguồn vốn ngắn hạn cho khoản vay dài hạn, ngân hàng có thể ký một hợp đồng lãi suất kỳ hạn. Với hợp đồng lãi suất kỳ hạn dù lãi suất thị trường trong tương lai tăng hay giảm ngân hàng vẫn có một mức thu nhập từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất huy động được xác định trước. Trong hợp đồng kỳ hạn, chỉ có hai bên tham gia vào hợp đồng và mỗi bên đều phụ thuộc vào bên còn lại. Khi có thay đổi giá cả trên thị trường giao ngay sẽ xuất hiện rủi ro nếu một trong hai bên không thực hiện hợp đồng. Ngoài ra, vì mức giá cả đặt ra mang tính cá nhân và chủ quan nên rất có thể không mang tính chính xác.  Hợp đồng tương lai: Hợp đồng tương lai (Futures Contract) là một thỏa thuận giữa người mua và người bán tại thời điểm ban đầu rằng việc thanh toán và giao nhận hàng hóa được thực hiện tại một thời điểm các định trong tương lai. Hợp đồng tương lai và hợp đồng kỳ hạn khá giống nhau nhưng tuy nhiên giữa chúng có một số điểm khác biệt: + Hợp đồng tương lai là hợp đồng được tiêu chuẩn hóa, được giao dịch một cách có tổ chức trên sở giao dịch. Còn hợp đồng kỳ hạn là sự thỏa thuận song phương, được giao dịch trên thị trường OTC, phụ thuộc theo ý của người người mua và người bán. 15 + Giá của hợp đồng tương lai được điều chỉnh hàng ngày theo điều kiện thị trường, trong khi đó, giá của hợp đồng kỳ hạn là cố định trong suốt kỳ hạn. + Rủi ro tín dụng từ hợp đồng tương lai được giảm bớt do có sự đảm bảo của sở giao dịch Giá của các hợp đồng tương lai phản ánh giá trị các chứng khoán được sử dụng mua bán trong hợp đồng nên khi lãi suất thị trường tăng thì giá các hợp đồng tương lai giảm. Theo mô hình thời lượng thì độ nhạy cảm của giá hợp đồng tương lai đối với lãi suất được tính như sau:  = - = - Trong đó: là sự thay đổi giá trị của hợp đồng tương lai F là giá trị ban đầu của hợp đồng tương lai ( = × ) là số lượng hợp đồng là giá của từng hợp đồng tương lai là thời lượng của trái phiếu được sử dụng trong mua bán hợp đồng tương lai. là mức thay đổi lãi suất Cũng như vậy, mức độ rủi ro đối với vốn tự có của ngân hàng khi lãi suất thị trường biến động được đo lường bằng công thức: = - ( ) A Trong đó: là sự thay đổi vốn tự có của ngân hàng là thời lượng của toàn bộ tài sản có là thời lượng của toàn bộ vốn huy động A là qui mô tài sản có k là tỷ lệ giữa vốn huy động và tài sản có ( k = L/A ) là mức thay đổi lãi suất Để có thể phòng ngừa rủi ro lãi suất đối với toàn bộ bảng cân đối tài sản ngân hàng phải thực hiện số lượng hợp đồng tương lai cần thiết để khoản thua lỗ nội bảng 16 Thang Long University Library được bù đắp bằng lợi nhuận thu được từ các hợp đồng tương lai ngoại bảng. Tức là . Vậy số lượng các hợp đồng tương lai cần thiết là: = A ( )  Hợp đồng quyền chọn Hợp đồng quyền chọn là hợp đồng cho phép người mua hoặc người bán có quyền mua hoặc bán tài sản với giá định sẵn tại ngày đáo hạn hợp đồng. Đồng thời, phí quyền chọn sẽ được thanh toán cho người bán tại thời điểm ký kết hợp đồng. Đối với giao dịch quyền chọn, người mua quyền chọn là người trả phí và người bán quyền chọn là người thu phí. Ngoài ra, người mua quyền chọn có quyền thực hiện hoặc không thực hiện mua/bán theo thỏa thuận trong hợp đồng, còn người bán phải có nghĩa vụ thực hiện theo yêu cầu của người mua. + Hợp đồng mua quyền chọn mua lãi suất – Caps: Mua Caps là mua quyền chọn mua hoặc là mua một chuỗi quyền chọn mua lãi suất. Khi nợ phải trả của ngân hàng có lãi suất thả nổi trong khi tài sản có có lãi suất cố định hay khi nợ phải trả có thời lượng ngắn hơn tài sản có , để phòng ngừa rủi ro lãi suất tăng, ngân hàng có thể thực hiện mua Caps. Nếu lãi suất thị trường tăng cao hơn so với lãi suất trong hợp đồng Caps, ngân hàng bán Caps sẽ thanh toán một khoản bằng giá trị hợp đồng Caps nhân với chênh lệch giữa lãi suất thị trường và lãi suất của hợp đồng Caps cho ngân hàng mua Caps. Khoản tiền này dùng để bù đắp cho chi phí huy động vốn tăng do lãi suất thị trường tăng hoặc bù đắp cho sự giảm giá trái phiếu trong tài sản có của ngân hàng. Ngược lại, nếu lãi suất thị trường giảm thấp hơn so với lãi suất trong hợp đồng Caps thì ngân hàng bán Caps không phải thanh toán khoản tiền nào cho ngân hàng mua Caps. + Hợp đồng mua quyền chọn bán lãi suất – Floors: Mua Floors là mua quyền chọn bán đối với lãi suất. Khi nợ phải trả của ngân hàng có lãi suất cố định trong khi tài sản có có lãi suất thả nổi hay khi tài sản có có thời lượng ngắn hơn nợ phải trả, ngân hàng có thể thực hiện mua Floors để phòng ngừa rủi ro lãi suất giảm. Nếu lãi suất thị trường giảm thấp hơn so với lãi suất trong hợp đồng Floors, ngân hàng mua Floors sẽ được thanh toán một khoản bằng giá trị hợp đồng nhân với chênh lệch giữa lãi suất Floors và lãi suất trên thị trường. Khoản tiền này dùng để bù đắp cho thu nhập bị giảm do lãi suất thị trường giảm. Còn nếu lãi suất thị trường tăng cao hơn lãi suất Floors thì bên bán Floors không phải thanh toán bất cứ khoản nào cho bên mua Floors. + Hợp đồng đồng thời mua và bán lãi suất – Collars: 17 Hợp đồng Collars xuất hiện khi ngân hàng thực hiện đồng thời cả hai giao dịch Caps và Floors, như việc đồng thời mua quyền chọn mua và mua quyền chọn bán. Trong trường hợp tài sản của ngân hàng gặp nhiều rủi ro khi lãi suất biến động mạnh, ngân hàng mua Collars nhằm thu phí để tài trợ cho giao dịch Caps hoặc Floors. Nếu lãi suất thị trường biến động thấp hơn lãi suất Floors hoặc lớn hơn lãi suất Caps trong hợp đồng Collars, ngân hàng mua Collars sẽ nhận được khoản thanh toán từ bên bán Collars tương ứng với mức chênh lệch giữa lãi suất thị trường và lãi suất trong hợp đồng Collars.  Hợp đồng hoán đổi Hợp đồng hoán đổi (Swaps) lãi suất là thỏa thuận giữa người mua (theo thông lệ là người thanh toán lãi suất cố định) và người bán (theo thông lệ người thanh toán lãi suất thả nổi). Vào ngày giá trị giao dịch, người mua thanh toán lãi suất cố định cho người bán và người bán thanh toán lãi suất thả nổi cho người mua. Trong khi thực hiện hợp đồng, cần phải đảm bảo việc trao đổi giữa lãi suất thả nổi và lãi suất cố dịnh là ngang giá. Giá trị hiện tại của các dòng lãi suất cố định bằng giá trị hiện tại của các luồng lãi suất thả nổi. Ngân hàng mua Swaps (ngân hàng thanh toán lãi suất cố định) là ngân hàng có nguồn vốn huy động với lãi suất thả nổi nhưng nguồn thu từ tài sản có là lãi suất cố định. Do tính chất của nợ phải trả và tài sản có có hình thức lãi suất khác nhau dẫn đến sự không cân xứng về thời lượng làm cho ngân hàng có nguy cơ gặp rủi ro lãi suất. Vì vậy, ngân hàng mua thông qua giao dịch Swaps lãi suất để chuyển việc thanh toán lãi cho nguồn vốn huy động từ hình thức lãi suất thả nổi sang lãi suất cố định để phù hợp với tính chất cố định của nguồn thu từ tài sản có . Ngược lại, ngân hàng bán Swaps (ngân hàng thanh toán lãi suất thả nổi) là ngân hàng có nguồn vốn huy động với lãi suất cố định nhưng nguồn thu từ tài sản có là lãi suất thả nổi. Ngân hàng bán đã sử dụng giao dịch Swaps lãi suất nhằm mục đích chuyển việc thanh toán lãi cho nguồn vốn huy động từ hình thức lãi suất cố định sang lãi suất thả nổi để phù hợp với lãi suất thả nổi của nguồn thu từ tài sản có . Thông qua việc mua/bán hợp đồng hoán đổi lãi suất, người mua và người bán thanh toán tiền cho nhau, sẽ rào chắn được rủi ro lãi suất khi lãi suất thay đổi. b) Phương pháp quản lý khe hở nhạy cảm lãi suất Kỹ thuật quản lý khe hở nhạy cảm lãi suất là kỹ thuật phổ biến mà các ngân hàng sử dụng để ngăn ngừa và kiềm chế rủi ro lãi suất. Kỹ thuật này yêu cầu nhà quản trị ngân hàng phải tiến hành phân tích kỳ hạn, định giá lại những cơ hội gắn với những tài sản sinh lợi của ngân hàng, những khỏan tiền gửi cũng như với những khoản vốn vay trên thị trường. Quy trình quản lý khe hở lãi suất gồm 3 bước: 18 Thang Long University Library  Lựa chọn và phân loại các loại nguồn vốn vào từng nhóm riêng biệt dựa trên thời điểm sẽ định giá lại giá cả.  Xác định chên lệch GAP bằng giá trị của tài sản có nhạy cảm lãi suất (RSAs – rate sensitive assets) trừ đi giá trị nợ phải trả nhạy cảm lãi suất (RSLs – rate sensitive liabilities). GAP = RSAs – RSLs Trong đó: + RSAs là các khoản cho vay sắp đến hạn, các khoản cho vay và chứng khoán có lãi suất thả nổi, các tài sản ngắn hạn <12 tháng hoặc có thời hạn định giá lại < 12 tháng … + RSLs là những khoản vốn mà lãi suất được điều chỉnh theo điều kiện thị trường: tiết kiệm ngắn hạn, tiền gửi mang lãi suất thả nổi, các khoản nguồn < 12 tháng hoặc có thời hạn định giá lại < 12 tháng …  Sử dụng các phân tích biến thiên về độ nhạy cảm để dự đoán sự thay đổi trong thu nhập từ lãi. Như vậy, trong quá trình quản lý khe hở lãi suất, ngân hàng có thể sẽ phải đối mặt với một trong các trường hợp sau:  GAP = 0: giá trị tài sản có nhạy cảm lãi suất bằng giá trị nợ phải trả nhạy cảm lãi suất. Khi lãi suất tăng hay giảm cũng không làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng. Tức là ở trường hợp này ngân hàng sẽ không gặp rủi ro lãi suất.  GAP > 0: giá trị tài sản có nhạy cảm lãi suất lớn hơn giá trị nợ phải trả nhạy cảm lãi suất. Khi lãi suất thị trường tăng, lợi nhuận của ngân hàng sẽ tăng. Và ngược lại, khi lãi suất thị trường giảm, thu nhập từ lãi giảm nhanh hơn chi phí lãi phải trả, rủi ro lãi suất sẽ xuất hiện làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Lúc này những phản ứng có thể xảy ra của ngân hàng là: + Không làm gì vì ngân hàng nghĩ có thể lãi suất sẽ tăng hoặc ổn định. + Kéo dài kì hạn của tài sản có hoặc thu hẹp kì hạn của nợ phải trả. + Tăng nợ phải trả nhạy cảm lãi suất hoặc giảm tài sản có nhạy cảm lãi suất.  GAP < 0: giá trị tài sản có nhạy cảm lãi suất nhỏ hơn giá trị nợ phải trả nhạy cảm lãi suất. Khi lãi suất thị trường giảm, lợi nhuận của ngân hàng sẽ tăng. Và ngược lại, khi lãi suất thị trường tăng, thu nhập từ lãi tăng chậm hơn chi phí lãi phải trả, rủi ro lãi suất xuất hiện làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Lúc này những phản ứng có thể xảy ra của ngân hàng là: + Không làm gì vì ngân hàng nghĩ có thể lãi suất sẽ giảm hoặc ổn định. + Kéo dài kì hạn của nợ phải trả hoặc thu hẹp kì hạn của tài sản có. + Giảm nợ phải trả nhạy cảm lãi suất hoặc tăng tài sản có nhạy cảm lãi suất. 19 Nếu ngân hàng tin vào khả năng dự báo lãi suất của mình, họ có thể thường xuyên thay đổi khe hở nhạy cảm lãi suất, đặt ngân hàng vào trạng thái nhạy cảm tài sản có hoặc nhạy cảm nợ phải trả để tăng thêm thu nhập. Đây được gọi là phương pháp quản lý khe hở năng động: Dự đoán của ngân hàng Kết quả (nếu dự đoán đúng) Giá trị GAP Phản ứng của các nhà quản lý tối ưu Lãi suất thị trường tăng GAP > 0 Tăng tài sản có nhạy cảm lãi suất. Giảm nợ phải trả nhạy cảm lãi suất. Thu nhập từ lãi sẽ tăng nhiều hơn chi phí lãi phải trả. Lãi suất thị trường giảm GAP < 0 Giảm tài sản có nhạy cảm lãi suất. Tăng nợ phải trả nhạy cảm lãi suất. Thu nhập từ lãi sẽ giảm ít hơn chi phí lãi phải trả. Tuy nhiên, chiến lược quản lý năng động buộc các ngân hàng phải đối mặt với nhiều rủi ro hơn vì khả năng dự đoán đúng chiều hướng thay đổi của lãi suất rất thấp. Cho nên phần lớn các ngân hàng chỉ sử dụng để phòng ngừa rủi ro chứ không phải để tăng thu nhập. Ngoài ra, các nhà quản trị còn có thể đưa GAP về 0 để giảm thiểu rủi ro lãi suất bằng một số cách như: tài trợ cho vay dài hạn bằng nguồn vốn không có chi phí trả lãi; sử dụng các tài sản và nợ ngoại bảng như các loại chứng khoán phái sinh ... Việc quản trị khe hở lãi suất là vô cùng khó khăn và phức tạp đòi hỏi ngân hàng phải có trình độ và lựa chọn thời gian để phân tích độ nhạy cảm với lãi suất của tài sản và nguồn vốn cho phù hợp. Đồng thời, phương pháp này cũng có những hạn chế nhất định như: lãi suất của các khoản mục khác nhau chưa chắc đã biến động cùng một mức như nhau; việc quản lý chặt chẽ chênh lệch ngắn hạn có thể làm bỏ sót rủi ro tái đầu tư và những biến động đáng kể về giá trị tài sản và nguồn vốn của ngân hàng. c) Phương pháp quản lý khe hở kỳ hạn Phương pháp này có thể khắc phục được diểm yếu của phương pháp quản lý khe hở lãi suất là không giải quyết được rủi ro đường lãi suất hoàn vốn (là loại rủi ro phát sinh khi lãi suất của những thời hạn khác nhau thay đổi theo mức độ khác nhau). Phương pháp này dựa trên chênh lệch giữa kỳ hạn hoàn vốn trung bình theo giá trị tài sản và kỳ hạn hoàn trả trung bình theo giá trị nguồn vốn. Trong đó, kỳ hạn hoàn vốn trung bình theo giá trị tài sản là thời gian trung bình cần thiết để thu hồi khoản vốn đã bỏ ra để đầu tư, tức là thời gian trung bình của dòng tiền dự tính sẽ nhận được trong tương lai. Còn kỳ hạn hoàn trả trung bình theo giá trị nguồn vốn là thời gian trung bình cần thiết để hoàn trả khoản vốn đã huy động, cũng là thời gian trung bình của dòng tiền dự tính ra khỏi ngân hàng. 20 Thang Long University Library
- Xem thêm -