Phân loại kỹ năng dạy học viết trong sách giáo khoa tiếng anh lớp 10 mới.

  • Số trang: 32 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 55 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

Trường THPT Phù Cừ Sáng kiến kinh nghiệm A – PHẦN MỞ ĐẦU I – LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, nó hình thành và phát triển cùng xã hội loài người, nó là đặc trưng của loài người khác hoàn toàn với loài vật. Ngôn ngữ tồn tại trong cuộc sống hàng ngày của con người như một phương tiện giao tiếp. Thông qua sự diễn đạt của ngôn ngữ mà người ta có thể hiểu nhau hơn, hiểu được tâm trạng, tháI độ của nhau để từ đó xây dung được những mối quan hệ xã hội, tác động lẫn nhau, làm cho xã hội loài người trở thành một tiết chế chặt chẽ. Đối với học sinh thì việc hình thành ngôn ngữ cho các em là một việc làm hết sức cần thiết, đòi hỏi chúng ta luôn phải tập trung hướng vào việc phát triển tính năng động, sáng tạo, tích cực của học sinh nhằm tạo khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề cho các em. Để đạt được mục tiêu này, việc thay đổi phương pháp dạy học trong nhà trường theo hướng coi trọng người học là chủ thể hoạt động, khuyến khích các hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của người học trong quá trình học là hết sức cần thiết. Trong dạy học ngoại ngữ thì các luận điểm này càng đúng vì không ai có thể thay thế người học trong việc nắm bắt phương tiện ngoại ngữ và sử dụng ngoại ngữ trong hoạt động giao tiếp bằng chính năng lực giao tiếp của mình. Việc đổi mới phương pháp dạy học ngoại ngữ cần thống nhất với các quan điểm sau:  Tổ chức quá trình dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động của người học.  Đề cao và phát huy tốt vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.  Tổ chức HS lĩnh hội tri thức bằng chính các hoạt động của các em.  Dạy cho HS cách tự học và ý chí tự học. Như vậy, mục đích cuối cùng của việc dạy – học ngoại ngữ không đơn thuần là nhận biết các hệ thống ngữ âm, từ vựng hay ngữ pháp mà HS phải biết sử dụng các hệ Tổ : Ngoại Ngữ Dũng Giáo viên : Trần Anh 1 Trường THPT Phù Cừ Sáng kiến kinh nghiệm thống đó để đạt được những mục đích giao tiếp cụ thể: bằng lời nói, bằng hành động, bằng văn bản,… Vai trò của kỹ năng viết trong chương trình phổ thông hiện nay (cụ thể là SGK Tiếng Anh 10 – Chương trình đổi mới) chủ yếu là nhằm phối hợp với các kỹ năng lời nói khác để làm phong phú thêm các hình thức luyện tập trên lớp cũng như các bài tập ở nhà nhằm củng cố thêm những kiến thưc đã học, đồng thời giúp HS bước đầu làm quen với văn phong, cấu trúc chặt chẽ của văn viết và học cách sử dụng hoạt động viết vào một mục đích đơn giản như: viết thư, viết địa chỉ, nhắn tin, điền vào các tờ khai, tờ đơn,… 2. Cơ sở thực tiễn a) Về phía giáo viên. Nhìn từ góc độ của một giáo viên dạy ngoại ngữ tôi thấy rằng Tiếng Anh 10 – Chương trình cải cách có một sự phân chia rất rõ ràng các kỹ năng: ReadingSpeaking-Listening-Writing. Cuối mỗi bài là phần Language Focus. Một điều thuận lợi nữa cho GV đó là trong mỗi phần lại được phân chia thành các nhiệm vụ cụ thể. Có thể nói rằng SGK Tiếng Anh 10 như một Giáo án mẫu . Điều này không có nghĩa là GV chỉ việc yêu cầu HS làm đủ các quy trình trong SGK là xong, mà điều quan trọng nhất là GV cần có những thủ thuật chuyển hoá các quy trình đó thành kỹ năng thực thụ. Tuy nhiên, chúng ta có thể nhận thấy những khó khăn nhất định mà GV thường xuyên gặp phải ở kỹ năng viết:  Có quá nhiều HS trong lớp, vì thế GV rất khó quản lý những HS nào làm việc và những HS nào không.  Sự không đồng đều về năng lực, trình độ giữa các HS trong một lớp hoặc giữa lớp này với lớp khác.  GV thường cảm thấy áy náy vì không có thể kiểm soát và sửa hết được tất cả các lỗi của HS hoặc không giúp đỡ được hết HS trong quá trình viết.  Việc sửa lỗi và cho điểm tốn rất nhiều thời gian. Tổ : Ngoại Ngữ Dũng Giáo viên : Trần Anh 2 Trường THPT Phù Cừ Sáng kiến kinh nghiệm  Quá trình viết thường nhiều hơn 45 phút cho phép. b) Về phía học sinh. Đây mới là khó khăn lớn nhất của hầu hết giáo viên gặp phải. Tuy rằng các em đã có 4 năm học Tiếng Anh ở THCS nhưng những hạn chế về kiến thức của các em thì vô cùng lớn:  Không có đủ từ vựng hoặc cấu trúc câu để diễn đạt ý.  Có khuynh hướng sử dụng Tiếng Anh nói khi viết.  Sự hiểu biết về kiến thức xã hội hạn chế.  Có khuynh hướng dịch các ý từ Tiếng Việt sang Tiếng Anh khi viết.  Sử dụng sai các mục đích yêu cầu của các kiểu bài khác nhau.  Diễn đạt các ý kiến, thông tin trong cùng một câu hoặc một đoạn văn dài.  Không có đủ tư liệu, thông tin và những hiểu biết nhất định về các chủ đề viết, vì thế không thể viết đúng sự thật.  HỌC SINH THƯỜNG CHÁN NẢN VỚI GIỜ HỌC VIẾT. Chính vì những khó khăn thực tế mà tôi đã gặp ở năm học 2006 – 2007 đã thôi thúc tôi tìm tòi và đi tìm những giải pháp khác nhau để khắc phục tình trạng này. Sau một thời gian áp dụng trong năm học 2010– 2011, tôi mạnh dạn trao đổi với quý thầy cô giáo dạy môn Tiếng Anh về một khía cạnh nhỏ của vấn đề dạy – học viết, đó là: Phân loại kỹ năng dạy học viết trong sách giáo khoa Tiếng Anh lớp 10 mới. II – MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU. - Nhằm tìm ra những phương pháp khác nhau để khai thác tính chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình rèn luyện các kỹ năng trong dạy học Tiếng Anh. - Rèn luyện và phát triển kỹ năng viết cho học sinh: Nhận biết -> Suy nghĩ -> Dựng ý -> Diễn đạt thành văn. - Học sinh biết phân loại các kiểu bài viết khác nhau để từ đó các em có cái nhìn chính xác hơn về ngôn ngữ văn phong. III - ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU. Tổ : Ngoại Ngữ Dũng Giáo viên : Trần Anh 3 Trường THPT Phù Cừ Sáng kiến kinh nghiệm Phần: “D–Writing”, từ Unit 1 đến Unit 16 trong SGK Tiếng Anh 10–Chương trình đổi mới. (NXB Giáo dục - 2006). B – NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ. I – NỘI DUNG. Ở phần nội dung chúng ta cùng nghiên cứu 4 vấn đề:  Tìm hiểu, phân loại các kiểu bài viết, xác định mục đích và tính chất của các bài viết.  Tháo gỡ những khó khăn thường gặp trong giờ dạy học viết.  Xác định mục tiêu, nhiệm vụ của một số loại bài viết trong SGK Tiếng Anh 10.  Sử dụng Power Point và máy chiếu hắt trong giờ dạy học viết (Unit 6: Writing a confirmation letter). Tổ : Ngoại Ngữ Dũng Giáo viên : Trần Anh 4 Trường THPT Phù Cừ Sáng kiến kinh nghiệm 1. Tìm hiểu, phân loại các kiểu bài viết, xác định mục đích và tính chất của các bài viết. 1.1. Thế nào là dạy học viết? Trong quá trình dạy học viết chúng ta cần thực hiện những bước nào? Đây có phải là một câu hỏi thừa không? Dù câu trả lời có hoặc không thì chúng ta vẫn phải chắc chắn một điều rằng Writing is a skill. Bởi vì để dạy cho HS hiểu được sẽ viết cái gì (loại bài viết)? Viết về ai/ cái gì? viết như thế nào? viết trong bao lâu? làm thế nào để bài viết đạt hiệu quả và có giá trị?... Điều này đòi hỏi không phải chỉ ở mặt kiến thức phong phú mà còn ở kỹ năng chuyển hoá kiến thức thành Sản phẩm viết (writing production). Vậy khi thực hiện một bài viết chúng ta cần có những bước nào? Thứ nhất, trước khi viết cần phải xác định purpose sẽ viết. Xác định được Purpose sẽ giúp HS lựa chọn được loại bài viết phù hợp và ngôn ngữ thích hợp. HS cũng cần phải nghĩ đến audience they are writing for – who they are writing for. Điều này rất quan trọng, bởi vì xác định được viết HS sẽ quyết định được cấu trúc câu và ngôn ngữ sẽ sử dụng. Hơn thế nưa cũng phảI lưu ý với HS cần nghĩ đến content structure hoặc HS sẽ thiết lập những ý kiến hay sự kiện của bài viết. Kế tiếp, HS sẽ viết nháp lần thứ nhất (first draft). Khi viết xong nháp lần 1 HS cần đọc lại bài nháp xem chỗ nào được và chỗ nào chưa được. Sửa nháp lần 1(edited their draft), thay đổi những chỗ cần thiết, sau đó thực hiện lần nháp cuối cùng (final draft). Ta có thể tóm tắt quá trình này như sau: Planning Drafting Tổ : Ngoại Ngữ Dũng Giáo viên : Trần Anh 5 Trường THPT Phù Cừ Sáng kiến kinh nghiệm Editing Final draft Như vậy quá trình này không đơn giản nhưng mang tính tuần hoàn. Nó có ý nghĩa cho HS lập dàn ý, nháp, chuẩn bị rồi đưa ra sản phẩm cuối cùng. Với những mục đích viết khác nhau thì người viết sẽ sử dụng những thể loại viết khác nhau, những thể loại viết khác nhau sẽ đòi hỏi cấu trúc và sự lựa chọn ngôn ngữ khác nhau: Different purposes, different genres Giáo viên cũng cần chú trọng tới 3 bình diện khi dạy kỹ năng viết cho HS:  Tính chính xác về ngôn ngữ (ngữ pháp, ngữ âm, từ vựng).  Tính logíc và chặt chẽ của văn phong.  Tính phù hợp của ngôn ngữ theo mục đích giao tiếp, đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp và chủ đề giao tiếp. 1.2. Nguyên tắc dạy và học kỹ năng viết. Để hình thành và phát triển kỹ năng viết của HS, chúng ta cần đảm bảo những nguyên tắc sau:  Coi viết là một trong những phương thức giao tiếp, chứ không phải chỉ là việc sử dụng đúng các cấu trúc ngữ pháp hoặc viết chữ đẹp.  Bắt đầu quá trình dạy và học kỹ năng viết bằng những bài viết mẫu, những bài tập có kiểm soát, có hướng dẫn và cuối cùng là viết tự do.  Bài viết cần sát với thực tế cuộc sống như miêu tả người, địa danh, viết thư mời, thư cảm ơn, viết để kể lại một câu chuyện, một sự kiện,…  Luôn đảm bảo tính mục đích của bài viết, nghĩa là HS phải biết mình viết cái gì, để làm gì và viết cho ai.  Tạo cho HS càng nhiều cơ hội viết càng tốt. Viết là kỹ năng chỉ có thể được hình thành và phát triển thông qua luyện tập.. Tổ : Ngoại Ngữ Dũng Giáo viên : Trần Anh 6 Trường THPT Phù Cừ Sáng kiến kinh nghiệm  Bài viết cần gắn với nội dung hay chủ đề của bài học nhằm mục đích tích hợp các kỹ năng ngôn ngữ và tạo thêm cơ hội cho HS luyện tập cách sử dụng từ, cấu trúc ngữ pháp và các choc năng ngôn ngữ cụ thể. 1.3. Phân loại, xác định mục đích, tính chất của phần Writing trong SGK Tiếng Anh 10. Dưới đây là những thể loại và bài viết khác nhau trong Tiếng Anh 10 với những đặc điểm và tính chất riêng của chúng. Khi phân loại và hiểu được những nét đặc điểm riêng này chúng ta sẽ có sự chuẩn bị tốt hơn cho bài dạy học viết. Text types Examples - complain Units Unit 4 - filling in a form Unit 2 - announcement Unit 14 - Features - Language: formal - Logical ordering of ideas Language: Letters - confirmation informal Unit 6 - Logical ordering Narrative Description - invitation - acceptance & refusal - giving direction - routines - people’s backround - profile - instructions - a film of ideas Unit 10 Unit 11 Unit 8 Unit 1 Unit 3 Unit 12 Unit 5 Unit 13 - a city Unit 15 Tổ : Ngoại Ngữ Dũng - Language: informal - time ordering of facts - Language: friendly, descriptive - Place/ time or generalization-to. - Specific ordering of ideas. Giáo viên : Trần Anh 7 Trường THPT Phù Cừ Sáng kiến kinh nghiệm Language: Expository formal (explaining) - - advantages Unit 7 & generaliza tion-to. disadvantag - Specific es of mass ordering media. of ideas or - tables & charts facts. Unit 9,16 Xoay quanh các chủ đề luyện kỹ năng viết, SGK Tiếng Anh 10 có các dạng bài tập viết cơ bản sau:  Ghép từ với câu, ghép các thành phần của câu.  Điền từ/cụm từ vào câu/đoạn văn.  Thảo luận để tìm các thông tin theo biểu bảng.  Điền thông tin vào phiếu.  Tìm thông tin chính, xác định kết cấu bài viết.  Viết sử dụng các từ/cụm từ cho sẵn.  Viết theo biểu, bảng, sơ đồ, biểu đồ.  Viết theo gợi ý (cho từ, cấu trúc, ý cần viết, kết cấu đoạn văn)  Viết thư theo yêu cầu.  Viết tự do theo chủ điểm, chủ đề, tình huống. 1.4. Học sinh cần làm gì để viết?-“What students need to do in order to write?” Như vậy khi yêu cầu HS viết một vấn đề nào đó trong lớp, chúng ta cần phải chắc chắn rằng HS phải nắm bắt được những vấn đề sau đây:  know the aim – why they are writing.  Know the audience – who they are writing to. Tổ : Ngoại Ngữ Dũng Giáo viên : Trần Anh 8 Trường THPT Phù Cừ Sáng kiến kinh nghiệm  Know the genre – what type of text they are writing.  Have enough time for:  thinking about the topic.  Brainstorming ideas.  Planning ahead carefully  Drafting as many times as they can. -> have constant feedback from teacher as well as their partners during the writing process. 1.5. Học viết như là một quá trình: “Writing as a process”. Chúng ta có thể tóm tắt quá trình viết bằng sơ đồ tuần hoàn sau: Getting ideas together Being motivated planning to write planning Final version drafting Revising replanning redrafting Tổ : Ngoại Ngữ Dũng Giáo viên : Trần Anh 9 Trường THPT Phù Cừ Sáng kiến kinh nghiệm 2. Giải quyết một số vấn đề khó khăn thường gặp khi dạy học phần Writing. 2.1. Ý nghĩa của một số hoạt động viết thường gặp. Trong mỗi giờ dạy học viết hay một thể loại viết nào đó thường có rất nhiều các hoạt động, nhiệm vụ khác nhau, các bài tập đa dạng và phong phú, nhằm mục đích luyện tập và phát triển kỹ năng viết cho HS. Chúng ta rất dễ dàng nhận ra rằng chúng có mối quan hệ với nhau một cách logíc. Đặc biệt phần Writing trong SGK Tiếng Anh 10 thường có từ 3-4 tasks được xây dung theo kiểu hình xoắn ốc: Nếu bài dạy có 3 tasks thì bao giờ 2 tasks đầu (đối với bài có 4 tasks thì là 3 tasks đầu) cũng nhằm một mục đích là cung cấp ngữ liệu mới: kiểu bài viết, từ vựng, cấu trúc câu, ngữ pháp,… (prepare to write), đồng thời định hướng cho HS phạm vi ngôn ngữ sẽ sử dụng cho bài viết. Sauk hi hoàn thành những Tasks này HS đã được cung cấp “a good source of information” and “to come up with ideas” -> Writing production (final task). Như vậy việc hiểu được mục đích, ý nghĩa của từng hoạt động, nhiệm vụ và yêu cầu của các bài tập luyện viết đưa ra là vô cùng quan trọng. Ở đây không đơn thuần chỉ là hoàn thành các bài tập ấy, mà điều quan trọng là tổ choc cho HS làm như thế nào: work individually, in pairs, in groups, or whole class? Tiến trình ra sao (mấy bước)? Làm trong bao lâu? -> Feedback: Từ việc làm bài tập đó HS rút ra được những vấn đề gì để chuẩn bị cho phần Production. Vậy những loại bài tập nào mà chúng ta thường hay gặp trong Writing lessons class? + Coppying (Chép lại) : là loại bài tập củng cố lại kiến thức cho HS, mội một HS sẽ chép lại 1 câu của một bài hội thoại/đoạn văn đã học rồi chuyền cho HS khác chép câu còn lại, ta gọi là bài hội thoại dây chuyền (chain dialogue). Bằng cách này, HS buộc phảI hiểu nội dung những gì mình chép lại chứ không phảI chép lại máy móc mà không hiểu gì cả. GV nên sử dụng loại bài này như một Warm-up cho bài mới. VD: Trước khi dạy phần Writing của Unit 1, để chuẩn bị cho Writing narrative GV có thể yêu cầu HS viết lại một đoạn hội thoại ngắn (thực hiện từ 5-7 phút): HS1:What did Nam do yesterday afternoon? Tổ : Ngoại Ngữ Dũng Giáo viên : Trần Anh 10 Trường THPT Phù Cừ Sáng kiến kinh nghiệm HS2: He went to the library. HS3: What book did he read? HS4: He read an English book. HS5: How long did he read? …… Sau đó yêu cầu HS gộp các câu trả lời lại thành 1 đoan văn ngắn: “Nam went to the library yesterday afternoon, he went there to read an English book, he read ….” Như vậy, sau khi hoàn thành bài tập này HS đã xác định được vùng ngôn ngữ (từ vựng, ngữ pháp, cấu trúc câu,…) sẽ được sử dụng trong bài học. + Dictation (Chép chính tả): Là loại bài tập rất truyền thống trong dạy học ngoại ngữ, đồng thời cũng là một hình thức chép lại có hiệu quả. Cùng một lúc HS sẽ được rèn luyện 2 kỹ năng: Nghe-Viết, củng cố lại những cấu trúc ngữ pháp và từ vựng đã học. GV có thể sử dụng bài tập này để Warm-up hoặc Wrapping-up. Riêng loại bài này chúng ta còn có thể áp dụng cho các kỹ năng còn lại. VD: Sauk hi hoc xong phần Listening của Unit 1, GV yêu cầu HS gấp sách lại, nghe GV đọc một vài câu về Mr. Lam và chép lại. + Constructing dialogue (Xây dung đoạn hội thoại có hướng dẫn): Có 3 loại chủ yếu mà chúng ta thường gặp trong SGK Tiếng Anh 10, đó là: - HS được cung cấp một bài mẫu, sau khi đọc xong bài mẫu, HS sẽ sử dụng những từ gợi ý để hoàn thành tương tự như bài mẫu. Loại bài này có ở phần Writing của Unit 1, 3, 6, 8, 9, 14. - HS được cung cấp các câu lộn xộn của một bài hội thoại, các em phải sắp xếp lại trật tự của các câu để tạo thành 1 bài hội thoại đúng. Loại bài này có ở phần Writing của Unit 11. - HS được cung cấp một bài hội thoại chưa hoàn thành và một số câu không theo trật tự của bài, HS hoàn thành bằng cách chọn các câu có sẵn để điền vào chỗ tróng thích hợp, hoặc cũng có thể là HS không được cung cấp các câu có sẵn mà phảI nghĩ ra theo ý mình sao cho thích hợp Tổ : Ngoại Ngữ Dũng Giáo viên : Trần Anh 11 Trường THPT Phù Cừ Sáng kiến kinh nghiệm để điền vào chỗ trống. Loại bài này xuất hiện ở phần Writing của Unit 2, Unit 4, Unit 10(Task 2), Unit 11 (Task 1. + Fill in the blank exercises (Các bài tập điền vào chỗ trống):là những bài tập củng cố mang tính chất tổng hợp tốt, loại bài này đòi hỏi HS khi thực hiện phảI hiểu được cả câu một cách hoàn chỉnh hoặc cả văn cảnh để có thể điền đúng dạng của từ (động từ, giới từ,…) thích hợp. + Expanding frames (Viết mở rộng dựa vào khung gợi ý): HS phải hoàn thành bài viết dựa trên một khung gợi ý cho sẵn, có thể là một bài tường thuật, một tiểu sử hoặc một lá thư có nội dung và chủ điểm có liên quan đến bài học. Ta dẽ dàng nhận ra loại bài này ở phần Writing của Unit 10, Unit 12. + Idea frames (Viết theo câu hỏi gợi ý): Những bài tập này thường có đề bài rất gần với nội dung bài khoá mà HS vừa học. Sau khi HS được làm nhanh một bài tập dưới dạng đọc một bài khoá rồi trả lời các câu hỏi bên dưới. Từ việc trả lời các câu hỏi đó, HS sẽ tự rút ra những điều cần ghi nhớ, dựa vào khung của câu hỏi và mẫu bài vừa làm, HS sẽ viết một bài khác theo yêu cầu. Đối với dạng bài này thì từ việc trả lời câu hỏi, HS rút ra cấu trúc và những điểm nhấn của từng câu hỏi là một việc làm hết sức cần thiết để tạo đà cho những công việc tiếp theo. Loại bài này xuất hiện ở phần Writing của Unit 5, Unit 13, Unit 14, Unit 15, Unit 16. + Parallel (Viết tương tự theo mẫu): ở bài tập này, HS được yêu cầu đọc một đoạn văn trước, sau đó viết một đoạn văn tương tự nhưng thay thế bằng những thông tin, nội dung mới. Ví dụ: Phần Writing của Unit 3, 6, 7, 8. Sự liệt kê trên đây hỉ mang tính chất giảI thích cho đề tài, không phải sự thống kê đầy đủ theo kiểu “Mục lục”. Nhưng rõ ràng chúng ta thấy rằng trong mỗi phần Writing của mỗi đơn vị bài học thường có các dạng bài tập khác nhau, đòi hỏi GV phảI có cái nhìn bao quát cho mỗi bài học để có thể đưa ra được những phương pháp dạy học tốt nhất, phù hợp với tong kiểu bài và tong đối tượng HS. Ngoài ra HS còn được làm các dạng bài tập khác như: Multiple-Choice, Matching,… Những bài tập này nhằm bổ sung, củng cố những kiến thức, kỹ năng mang tính tổng hợp cho HS. Tổ : Ngoại Ngữ Dũng Giáo viên : Trần Anh 12 Trường THPT Phù Cừ Sáng kiến kinh nghiệm + Communicative writing activities (Các hoạt động giao tiếp qua viết): Là những hoạt động giao tếp thông qua viết có thể thực hiện ngay tại lớp có hiệu quả ma GV cần khuyến khích HS phát huy nhằm bổ trợ cho những kỹ năng dạy học khác. Sau đây là một số hoạt động giao tiếp mà chúng ta có thể áp dụng vào các tiết dạy cả ở kỹ năng khác ngoài viết: - Writing massages: HS viết truyền cho nhau những yêu cầu, đề nghị đơn giản. Những mẩu giấy này được truyền tới tay người nhận. Những HS nhận được sẽ phảI thực hiện những đề nghị đã ghi, trong đố có cả những câu hỏi đề nghị phảI viết hoặc giảI thích. Ví dụ: Nam, Give me your ruler. Ba, What is the date today? Binh, Write me your phone number. Hoa, Do you remember Mai’s birthday? Hung, How about going for a swim after class? Minh, Clean the board, please. - Cooperative writing: Chia HS thành nhóm nhỏ khoảng 8-10 em, các nhóm sẽ cùng viết một câu chuyện ngắn, các bước sẽ được tiến hành như sau: - Mỗi HS chuẩn bị một tờ giấy trắng. GV có thể cho câu mở đầu viết lên bảng. Tổ : Ngoại Ngữ Dũng Giáo viên : Trần Anh 13 Trường THPT Phù Cừ Sáng kiến kinh nghiệm - HS chép lại vào tờ giấy của mình, sau đó phảI nghĩ và viết một câu tiếp theo của câu chuyện. - Sau đó HS trao tờ giấy của mình cho bạn bên tráI của mình để viết tiếp câu tiếp theo; cứ lần lượt như vậy cho đến khi hết vòng và giấy của ai trở về người đó. Lúc này HS sẽ viết câu kết thúc của câu chuyện. - Sau đó GV yêu cầu HS đọc to câu chuyện của mình cho cả lớp nghe. Kết quả có thể là một câu chuyện vô cùng ngộ nghĩnh và thú vị. - Sau đó GV sửa những lỗi cơ bản mà HS thường mắc phải. - Ngoài ra chúng ta cũng có thể áp dụng các hoạt động giao tiếp khác qua viết như: Letter writing, List making, Interview,… vào tiến trình dạy học sao cho phù hợp với kiểu bài, kỹ năng và năng lực của HS. 2.2. Hướng giải quyết những khó khăn mà chúng ta thường mắc phải trong giờ dạy học viết. Như tôi đã đề cập những khó khăn của GV và HS ở phần Cơ sở thực tiễn trong giờ dạy học viết là không nhỏ, những khó khăn đó chính là nguyên nhân gây nên giờ học nhàm chán, đơn điệu và ảnh hưởng rất lớn đến kết quả của giờ học. Vậy chúng ta nên khắc phục khó khăn đó theo những hướng nào? Theo quan điểm và sáng kiến của tôI, chúng ta nên giải quyết những vấn đề đó như sau: a). Đối với những khó khăn mà chúng ta thường gặp từ phía khách quan. - Phân chia lớp thành tong nhóm (group) hoặc tong cặp (pair) rõ ràng tuỳ theo yêu cầu, nhiệm vụ của bài học và tong đối tượng HS. Trong khi HS làm việc, GV phải đi xung quanh lớp để kịp thời giúp đỡ các em nếu cần thiết. - Hướng dẫn HS tự sửa lỗi, hoặc sửa lỗi cho bạn bằng các ký hiệu của các loại lỗi đã mắc phải. - Không nhất thiết phải thực hiện tất cả những bước cửa cả quá trình dạy học viết trên lớp nếu bài học quá dài. Một số bước GV có thể yêu cầu HS thực hịên ở nhà hoặc trong tiết kế tiếp. VD: GV yêu cầu HS chuẩn bị chủ đề viết ở nhà, nghĩ trước dàn ý cho chủ đề viết (đặc biệt là sự chuẩn bị về từ vựng, cấu trúc câu), hoặc HS có thể viết nháp một lần ở nhà, công việc ở lớp là final production. Hoặc GV cũng có thể hướng Tổ : Ngoại Ngữ Dũng Giáo viên : Trần Anh 14 Trường THPT Phù Cừ Sáng kiến kinh nghiệm dẫn cho HS làm một số Task khởi động ở nhà để có sự chuẩn bị về những thông tin và dữ liệu cần thiết cho bài học chính… - GV nên để cho HS tìm hiểu về các kiến thức của bài, những hiểu biết xã hội có liên quan đến bài học để tự các em có được một nguồn thông tin cần thiết trong quá trình diễn đạt, chứ GV không nên cung cấp tất cả các ý cho HS. - Nên trao đổi, chia sẻ những thắc mắc, hoặc những kế hoạch về bài dạy của mình với đồng nghiệp, để cùng nhau tháo gỡ những khó khăn nhằm tìm ra những phương pháp hữu hiệu. - Nên sử dụng nhiều sự gợi ý, gợi mở, khuyến khích HS trong việc khắc phục những sự thiếu hụt về từ vựng, ý kiến hoặc ngôn ngữ. - GV nên giảI thích, động viên HS học Tiếng Anh không đơn thuần là để kiểm tra hay thi cử mà Tiếng Anh còn phục vụ thiết thực trong cuộc sống hàng ngày, cho công việc và nghề nghiệp của các em trong tương lai, đặc biệt là trpong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. b). Đối với những khó khăn đến từ phía học sinh. - The pre-writing stage là một bước rất quan trọng cho HS có thể củng cố từ vựng, cấu trúc và nó còn giúp HS bước đầu tạo dung những ý của bài viết. ở giai đoạn này, GV nên cung cấp cho HS những cấu trúc và từ vựng cần thiết xung quanh chủ đề của bài viết để HS diễn đạt ý của mình. - GV nên dẫn dắt HS bước vào bài viết một cách cẩn thận và hướng cho HS những nhiệm vụ đơn giản, cụ thể phù hợp với khả năng của HS. - Sử dụng sự gợi mở không chỉ bằng ngôn ngữ mà còn bằng tranh ảnh, giáo cụ trực quan và những bài viết mẫu. - Thiết lập cho HS ý thức về sự suy nghĩ bằng Tiếng Anh để có thể giảm tối thiểu sự ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ trong quá trình viết. - Làm cho HS quen với process writing bằng việc sử dụng stages khác nhau nhằm gợi ý cho HS những bài viết mang tính thiết thực. - Giúp HS tìm ra chính xác audience v aim của mỗi writing task. Nếu yêu cầu của mỗi task trong SGK chưa rõ ràng thì GV cần có những giảI thích cụ thể dưới nhiều Tổ : Ngoại Ngữ Dũng Giáo viên : Trần Anh 15 Trường THPT Phù Cừ Sáng kiến kinh nghiệm hình thức khác nhau (những giảI thích này cần hướng vào phát huy tính chủ động và tư duy sáng tạo của HS) để HS tìm ra đúng audience và aim của bài viết. - Giúp HS sử dụng sự đơn giản hoá trong việc kết nối ý trong câu/bài để làm ngắn bớt những câu hoặc đoạn văn mà ý nghĩa vẫn rõ ràng, mạch lạc. - Cố gắng sử dụng những thông tin, kiến thức mang tính thiết thực, gần gũi với những giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày như trong các loại bài: letters, form filling,… - Tổ chức cho HS những hoạt động viết phong phú như: games, designing posters, creative writing, poems,… nhằm gây không khí sôI nổi và vui vẻ mang tính sáng tạo trong giờ học. - Không nên thường xuyên giao bài tập viết về nhà mang tính bắt buộc cho HS, vì nếu như thế vô tình sẽ làm tăng tính thụ động cho HS và chỉ mang hình thức đối phó. Nên hướng dẫn HS phát triển kỹ năng đọc ở nhà thay vì các bài tập viết. 3. Xác định nhiệm vụ và những gợi mở của một số Writing lessons trong SGK Tiếng Anh 10. Để một giờ dạy viết thực sự mang lại những hiệu quả nhất định thì việc xác định những nhiệm vụ cụ thể và tìm ra những điểm nhấn về kiến thức cho HS trong một giờ dạy học nói chung và trong giờ dạy học viết nói riêng là rất quan trọng. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu nhiệm vụ cụ thể và mục tiêu cần đạt của một số Writing lesson trong SGK Tiếng Anh 10. Writing lesson of Unit 1: Writing a narrative Task 1 HS phải thực hiện một lúc 2 nhiệm vụ: - Tìm các động từ ở thì quá khứ đơn: started, arrived,… - Time connectors: on that day, at first,… Đối với dạng bài này GV nên hướng dẫn cho các em sử dụng kỹ năng đọc lướt tìm ý để thực hiện 2 nhiệm vụ trên. Task 2. Trong phần này cần lưu ý co HS xác định 3 nội dung mà các em sẽ phải thực hiện: Tổ : Ngoại Ngữ Dũng Giáo viên : Trần Anh 16 Trường THPT Phù Cừ Sáng kiến kinh nghiệm - Các sự kiện (events): đây chính là các hành động/hoạt động diễn ra trước cao trào của câu chuyện: got on plane, plane took off,… - Cao trào (climax): cao trào của câu chuyện (hay còn gọi là điểm thắt nút) là tình tiết đáng chú ý: we thought we had only minutes to live. - Kết thúc (conclusion): Lưu ý cho HS phần kết của câu chuyện thường được nêu ở cuói của câu chuyện, có thể là có hậu hoặc bất hạnh, và thường nêu lên cảm nghĩ của người kể chuyện: pilot announced that everything was right, we landed safely. Task 3 Trước khi HS tiến hành bài tập này, GV lưu ý HS chia thời động từ sao cho phù hợp với thời gian kể chuyện cũng như sử dụng quán từ, giới từ một cách chính xác. Writing lesson of Unit 7: Writng about advantages and disadvantages of the mass media. Task 1 Cho HS đọc các câu nói về lợi ích và bất lợi của việc sử dụng vô tuyến truyền hình và gạch chân hoặc ghi lại những cấu trúc câu được sử dụng trong bảng để tiện khi làm các bài tập sau. VD: - help / encourage S.O to do sth: help us to learn, encourage us to buy. - make S.O / sth + adjective: make things memorable, make us aware of, make us passive / violent. GV yêu cầu HS nói lại những lợi ích và bất lợi của việc sử dụng vô tuyến truyền hình, sử dụng những cấu trúc vừa học. Task 2 Dựa vào Task 1, các em nghĩ thêm các thông tin về lợi ích và bất lợi của các loại thông tin đại chúng khác và điền vào bảng tương ứng. Lưu ý cho HS là mỗi loại phương tiện đều có 2 mặt, tốt và xấu ở các mức độ khác nhau. VD: Tivi là nguồn giảI trí và cung cấp thông tin hữu hiệu cho con người nhưng dễ làm hang mắt khán giả nếu xem liên tục. Tổ : Ngoại Ngữ Dũng Giáo viên : Trần Anh 17 Trường THPT Phù Cừ Sáng kiến kinh nghiệm Radio giúp trang bị thêm kiến thức cho người nghe nhưng đôI khi thông tin truyền tảI qua đường âm thanh có thể không rõ ràng. Task 3 HS sẽ sử dụng thông tin trong Tas 2 để viết thành 1 đoạn văn ngắn. Chú ý cho HS là chỉ viết về lợi ích và bất lợi của một loại phương tiện truyền thông và nên nêu một vài dẫn chứng cụ thể để minh hoạ. Bài viết có thể theo lối diễn dịch (nêu ý chính trước), hoặc quy nạp (sau khi nêu các ý mới tổng hợp ý chính). - Phần đầu: Nêu tóm tắt ưu điểm chính của phương tiện thông tin đại chúng và các ý triển khai, cho ví dụ minh hoạ. - Phần thân: chuyển ý, nêu tóm tắt nhược điểm của việc sử dụng phương tiện thông tin đại chúng và các ý triển khai, cho ví dụ minh hoạ. - Phần kết: tóm tắt ý chính của cả đoạn văn. GV có thể cung cấp cho HS những cấu trúc cần thiết dùng trong bài viết: - to neglect (v): sao nhãng, bỏ mặc - to broaden (v): mở rộng (hiểu biết, kiến thức) - negative (adj): tiêu cực - understanding (n): sự hiểu biết - to harm (v): làm hại, gây hại - access to sth (n): tiếp cận được cáI gì - to have influence on sth (v): có ảnh hưởng đến cáI gì - to chat to S.O (v): nói chuyện/ tán gẫu với ai. Writing lesson of Unit 13: Describing a film. Sau khi thực hiện bài đọc mẫu miêu tả về bộ phim Titanic, HS sẽ thực hiện trả lời các câu hỏi về bộ phim. Từ việc trả lời câu hỏi GV hướng dẫn cho HS sinh rút ra những cấu trúc của tong câu hỏi. Nếu để ý chúng ta sẽ thấy mỗi câu hỏi sẽ là một lĩnh vực của bộ phim. Đối với dạng bài này, chúng ta cần đảm bảo các ý sau: - Tên phim (the name of the film) + The name of the film is Titanic. Tổ : Ngoại Ngữ Dũng Giáo viên : Trần Anh 18 Trường THPT Phù Cừ Sáng kiến kinh nghiệm + The film’s name is Titanic. - Thể loại phim (kind of the film) + It’s a romantic / detective / horror film… - Nội dung chính của phim (the content of the film) + It’s about…. + The film is a story of…… + The film tells us a story about….. - Bối cảnh của phim (the setting of the film): địa điểm, thời gian diễn ra sự kiện trong phim. + The film is set in……(a small village in 1998) + The story takes place in….. - Bộ phim dựa vào tác phẩm, sự kiện nào (nếu có) + The film is based on a true story in 1990. + The film is based on a novel of Nam Cao. + The film is made based on the event of…. - Các nhân vật chính trong phim (the main characters) + The two main characters of the film are Leonardo and Vivien. + The main actor / actress of the fil is…… - Hiểu biết của em về nhân vật chính trong phim (your knowledge about the characters) + Leonardo is very famous actor. + Nicole Kidman has won some Oscar prizes. - Kết thúc một bộ phim (vui hay buồn) (the ending of the film) + The film has a sad / happy / tragic ending. - Cảm nghĩ của em về bộ phim (your feeling of the film) + I think the film is very interesting / boring / frightening/…. - Em học được gì từ bộ phim (the lesson you can learn from the film) + The film makes me realize that I must appreciate the life and what we have. + The film strengthens my belief in human ability. Tổ : Ngoại Ngữ Dũng Giáo viên : Trần Anh 19 Trường THPT Phù Cừ Sáng kiến kinh nghiệm + Thanks to the film, I realize that if we are strongly determined, we can make our wishes come true despite the difficultiesin life. Sau khi thực hiện được công việc này thì phần việc còn lại là tương đối dễ dàng cho HS sử dụng những cấu trúc này để miêu tả về bộ phim yêu thích của riêng cá nhân từng em. 4. Sử dụng Power Point và máy chiếu hắt trong giờ dạy học viết (Unit 6: Writing a confirmation letter). Có thể nói rằng sự áp dụng những phương tiện hiện đại vào dạy học đã tạo điều kiện thuận lợi rất nhiều trong quá trình giảng dạy cho các thầy cô giáo, đồng thời cũng giúp HS làm quen với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và khoa học kỹ thuật. Đối với ngoại ngữ thì việc áp dụng những phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học là cần thiết hơn bao giờ hết. Tuy nhiên không phảI là dễ dàng và đơn giản để sử dụng những phương tiện hiện đại vào dạy học có hiệu quả. Sau một thời gian ngắn áp dụng những phương tiện vào dạy học Tiếng Anh, tôI mạnh dạn trình bày những bài học (tôI không dùng từ “kinh nghiệm”-bởi có thể đây chưa phảI là kinh nghiệm) mà tôI dã rút ra được từ quá trình sử dụng những phương tiện hiện đại vào dạy học Tiếng Anh: Sử dụng Power Point và máy chiếu hắt trong giờ dạy học viết (Unit 6: Writing a confirmation letter). Theo quan điểm của tôi thì việc sử dụng những phương tiện hiện đại vào giờ dạy học viết mang lại hiệu quả rất cao: - Những thao tác khởi động cho bài học viết rất nhanh, rút ngắn được thời gian vào bài. - HS có nhiều thời gian để thảo luận tại lớp trước khi viết. - Nâng cao khả năng làm việc nhóm của các em (sự phấn đấu giữa các thành viên trong nhóm, giữa nhóm này và nhóm kia), tạo cho không khí lớp học sôI nổi và tích cực hơn. - GV có thời gian sửa được nhiều lỗi sai cho HS, từ đó HS có cơ hội khắc phục được những thiếu sót của chính các em. Phần Writing lesson of Unit 6: Writing a confirmation letter. Tổ : Ngoại Ngữ Dũng Giáo viên : Trần Anh 20
- Xem thêm -