Phân loại hiến pháp

  • Số trang: 3 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 25 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

Phân loại hiến pháp Đây là bài tập cá nhân tuần của tớ. có j mọi ng bổ sung thêm nhé. Cảm ơn Hiến pháp, đạo luật cơ bản của Nhà nước, nó xác định những điều cơ bản, quan trọng nhất của Nhà nước và xã hội như chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng , giá dục, đối ngoại…. Mối quan hệ cơ bản giữa Nhà nước với các cá nhân trong xã hội, tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước. Hiến pháp thể hiện ý chí của giai cấp thống trị xã hội, củng cố và bảo vệ lợi ích giai cấp thống trị trên mọi lĩnh vực của đời sống. Hiến pháp trên thực tế được phân loại ra thành rất nhiều hình thức khác nhau dựa theo những tiêu chí khác nhau như: theo bản chất, theo hình thức chứa đựng những quy định của Hiến pháp, theo tính chất nội dung của những quy định trong Hiến pháp, theo trình tự thủ tục thông qua sửa đổi… Thứ nhất: Theo bản chất của Hiến pháp thì Hiến pháp được chia ra thành Hiến pháp tư sản và Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa(XHCN) Hiến pháp tư sản là Hiến pháp của các nước theo chế độ tư bản hay đang phát triển theo chế độ tư bản. Hiến pháp đó có các đặc trưng tiêu biểu như : Tất cả các Hiến pháp tư sản đều tìm mọi cách che giấu bản chất giai cấp tư sản và thể hiện quyền thống trị của giai cấp tư sản dưới khái niệm “ chủ quyền nhân dân” đẹp đẽ. Hiến pháp tư sản trưc tiếp hoặc gián tiếp đêu tuyên bố bảo vệ và củng cố quyền tư hữu về tư liệu sản xuất, sở hữu tư nhân là thiêng liêng bất khả xâm phạm. Hiến pháp tư sản ấn định hai hình thức chính thể phổ biến đó là quân chủ lập hiến ( ví dụ như nước Anh, Nhật Bản, Thái Lan) và công hoà ( Cộng hoà Pháp, Italia…). Hai hình thức tổ chức chủ yếu được Hiến pháp tư sản ấn định đó là liên ban ( Mỹ , Đức…) hay đơn nhất ( Pháp, Nhật Bản…). Các Hiến pháp tư sản thường biểu hiện dưới nhiều biến dạng khác nhau nguyên tắc “ phân chia ba quyền”: lập pháp, hành pháp, tư pháp do ba cơ quan nhà nước khác nhau nắm giữ là Quốc hội, Chính phủ và Toà án để bảo đảm quyền thống trị của giai cấp tư sản, hạn chế thấp nhất sự tham gia của nhân dân lao động vào thực hiện quyền lực nhà nước. Hiến pháp tư sản có thể là thành văn ( Mỹ, Nhật Bản…) hoặc không thành văn ( Vương quốc Anh). Hiến pháp XHCN do Nhà nước XHCN ban hành vào khoảng đầu thế kỷ XX. Hiến Pháp XHCN ra đời muộn hơn so với Hiến pháp tư sản khoang 1/3 quãng thời gian nhưng đã có tiếp thu những hạt nhân tiến bộ của Hiến pháp tư sản. Hiến pháp XHCN có những nội dung và đặc trưng cơ bản sau: Xác nhận rõ tính giai cấp của Nhà nước XHCN : bản chất vô sản của chính quyền Cách mạng, chính quyền chuyện chính vô sản. Thể chế hoá vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, Mặt trận dân tộc thống nhất, đoàn thể nhân dân mà đặc biệt là các cơ quan dân cử, cơ quan đại diện trong nền dân chủ XHCN, về sau được khẳng định một cách trực tiếp và ở vị trí nổi bật trong các chương và điều của Hiến pháp. Hiến pháp XHCN ghi nhận, củng cố các cơ sở của cơ cấu kinh tế-xã hội, khẳng định, ghi nhận và củng cố các quan hệ sản xuất mà nó có nhiệm vụ bảo vệ, đó là các quan hệ sản xuất XHCN dựa trên chế độ CHXHCN đối với tư liệu sản xuất. Hiến pháp XHCN ghi nhận và củng cố các cơ sở kinh tế, phát triển nền dân chủ XHCN. Hiến pháp XHCN ghi nhận, khẳng định cá gnuyên tắc cơ bản của đường lối quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc XHCN, đường lối đối ngoại hoà bình hợp tác, hữu nghị giữa các dân tộc thể hiện chất nhân đạo , tính nhân văn sâu sắc của chế độ mới. Hiến pháp XHCN còn ghi nhận, khẳng định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Hiến pháp XHCN xác định một cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Đó là sự phân loại Hiến pháp theo bản chất Hiến pháp. Thứ hai là phân loại theo hình thức chứa đựng các quy định của Hiến pháp thì có Hiến pháp thành văn và Hiến pháp không thành văn. Hiến pháp thành văn là Hiến pháp được viết thành một văn bản duy nhất, tất cả các quy định, chế định của Hiến pháp được tập hợp thành một hệ thống có cấu trúc bao gồm: Lời nói đầu ( có thể là tuyên ngôn như tuyên ngôn dân quyền của Hiến pháp Cộng hoà Pháp hay lời nói đầu Hiến pháp 1946 nước CHĐCN Việt Nam), tiếp theo là phần nội dung cơ bản gồm các điều được đánh theo thứ tự số thập phân và được chia thành các phần, mục( chương), điều, khoảng. Ví dụ Hiến pháp 1992 Nước CHXHCN Việt Nam. Hiến pháp không thành văn là Hiến pháp mà các quy phạm, chế định của nó không được viết ra tất cả và tập hợp lại thành một văn bản duy nhất mà tồn tại ở rất nhiều các văn bản pháp luật khác nhau và cùng với các quy phạm, chế định đó, Hiến pháp không thành văn thường bao gồm các tập tục, truyền thống, thông lệ… có nội dung trực tiếp liên quan đến cách thức tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, các quyền công dân cơ bản. Điển hình cho Hiến pháp không thành văn này là Hiến pháp của Vương quốc Anh. Thứ ba là xét theo trình tự thủ tục thông qua, sửa đổi, bổ sung và ban hành trong quá trình thực thi và hoạt dộng của hiến pháp thì Hiến pháp lại được chia ra thành Hiến pháp cứng( cương tính) và Hiến pháp mềm ( nhu tính). Hiến pháp mềm là Hiến pháp mà trình tự thông qua, sửa đổi, bổ sung như đối với một dự án lụât bình thường, tứcc là chỉ đòi hỏi thông qua bằng cách biểu quyết , bỏ phiếu đa số, thông thường là 50+1. Điển hình là Hiến pháp của Anh, Niu Dilân. Đây là loại Hiến pháp không có ưu thế, không thể phân biệt được đẳng cấp với các đạo luật khác mặc dù đối tượng điều chỉnh hoàn toàn khác nhau. Hiến pháp mềm là Hiến pháp mà trình tự thông qua từ lúc đầu đến các lần sửa đổi, bổ sung trong quá trình thực thi Hiến pháp được tiến hành theo một thủ tục đặc biệt, trình tự đặc biệt và có khi là khá phức tạp. Thông thường có hai thủ tục: 1) Quyền trình dự án sửa đổi bổ sung thuộc nguyên thủ quốc gia hoặc bản thân Quốc hội; khi được quá nửa tổng số đại biêu Quốc hội thông qua thì đem ra ttrưng cầu dân ý. 2) Quyền trình dự án sửa đổi , bổ sunh Hiến pháp thuộc quyền nguyên thủ quốc gia, hoặ bản thân quốc hội nhưng dự án sửa đổi , bổ sung chỉ được thông qua khi được 3/5 hoặc 2/3 tổng số đại biểu bỏ phiếu tán thành. Thứ tư là /phân loại Hiến pháp theo tính chất nội dung của các Hiến pháp thì Hiến pháp lại được chia thành hiến pháp cổ điển và hiến pháp hiện đại ( có thể gọi đây là cách phân loại theo thời gian). Hiến pháp cổ điển là Hiến pháp đã đuóc thông qua từ lâu trong những điều kiện khác xa ngày nay ( cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX). Đến nay các bản Hiến pháp này vẫn còn giá trị pháp lý nhờ có sự chỉnh sửa, sửa đổi theo từng giai đoạn thời gian. Điển hình trong đó là Híen pháp Mỹ đã tồn tại trong suốt 200 năm qua hay Hiến pháp Nauy năm 1814… Hiến pháp này không phản ánh kịp thời tiến bộ nhân loại, lạc hậu nên chúng chỉ chứa đựng một số hạn chế các quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cáh thức tổ chức và hoạt động, thẩm quyền của các cơ quan trung ương Nhà nước. Về nội dung dân chủ thì đa số đều không có gì tiến bộ. Híên pháp hiện đại bao gồm phần lớn các Hiến pháp được thông qua sau chiến tranh thế giới lần 1 và lần 2 qua đi. Chức năng chủ yếu là bảo vệ, củng cố địa vị giai cấp tư sản( như các bản Hiến pháp của Đức, Áo, Bỉ…). Sau chiến tranh thế giới lần 2, nhiều Hiến pháp được thông qua với việc khẳng định độc lập chủ quyền của nhiều dân tộc thoát khỏi ách thống trị của các đế quốc thực dân. Phần lớn cá bản Hiến pháp này vẫn còn giá trị pháp lý đến tận bây giờ. Do ảnh hưởng của cuộc đấu tranh gình quyền dân chủ của nhan dân và ảnh hưởng của các bản Hiến pháp XHCN mà Hiến pháp hiện đại ít nhiều có chứa đựng các điều khoản có nội dung dân chủ hơn, phản ánh được sự nhượng bộ phần nào của giai cấp tư sản thống trị. Ví dụ như quyền tự do bầu cử, bình đẳng giới như điều 1 và 2 Hiến pháp bồ Đào Nha năm 1982 quy định “ Nhân dân tham gia vào việc quản lý Nhà nước, xây dựng một Nhà nước phi giai cấp”. Sự phân loại trên đây chỉ mang tính chất tương đối, còn có rất nhiều các tiêu chí khác để phân loại Hiến pháp- Đạo luật cơ bản của mỗi Nhà nước và quốc gia.
- Xem thêm -