Phân cấp quản lí hành chính nhà nước_2

  • Số trang: 22 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 19 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH ---------- TIỂU LUẬN HỌC PHẦN MÔN HỌC: PHÂN CẤP QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC GIÁO VIÊN GIẢNG DẠY: TS HOÀNG MAI HỌC VIÊN: PHAN TRỌNG NGHĨA LỚP HCC : 16M  LỜI NÓI ĐẦU Trong những năm qua, vấn đề phân cấp luôn được nhắc đến như là một giải pháp quan trọng trong quá trình cải cách hành chính.Thực chất của vấn đề phân cấp là hoạt động hay một quá trình sắp xếp, bố trí quyền quyết định đến cấp thấp hơn trong cơ cấu thứ bậc của tổ chức. Mỗi một tổ chức có cơ cấu thứ bậc. Tập trung một số lĩnh vực vào một cấp; trong khi đó nhiều lĩnh vực sẽ thực hiện phân cấp cho các cấp thấp hơn. Trong giới hạn chủ đề này, chúng ta chỉ bàn đến việc phân cấp, phân quyền trong khu vực công, nhà nước và chủ yếu là việc phân cấp, phân quyền quản lý nhà nước giữ chính quyền trung ương và chính quyền địa phương.  NỘI DUNG I. Quan niệm về phân cấp giữa trung ương và địa phương Mỗi quốc gia thường được hình thành từ rất nhiều những vùng đất, những tộc người khác nhau với diện tích lãnh thổ khá lớn, trong những điều kiện như vậy chính quyền trung ương không đủ khả năng quản lý và điều hành tốt đối với mọi công việc nên buộc phải phân chia đất nước thành các đơn vị lãnh thổ nhỏ hơn và cùng với việc phân chia đó là thành lập các cơ quan chính quyền địa phương thích ứng để thuận lợi cho việc quản lý, điều hành trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, từ đó đặt ra vấn đề phân cấp đối với chính quyền các địa phương, phải giải quyết mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và chính quyền các địa phương. Thực tế không có mô hình giống nhau trong phân cấp nghĩa là không có mô hình chung mà tùy vào điều kiện cụ thể, loại vấn đề và loại hình tổ chức mà đưa ra mô hình cụ thể cho mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, làm thế nào để đạt được mục tiêu của việc trao quyền cho chính quyền địa phương hoạt động có hiệu quả ở địa phương lại là một vấn đề không nhỏ. Kinh nghiệm thực tế của các nước cũng như các nghiên cứu học thuật trên thế giới cho thấy một số điều kiện cần thiết cho việc phân cấp thành công như sau: Một điều kiện cần thiết đầu tiên cho chính quyền địa phương vững mạnh là sự tồn tại ổn định. Rõ ràng, chính quyền địa phương không thể thực hiện tốt chức năng của mình nếu không có sự ổn định bởi khả năng của chính quyền cấp trên có thể giải tán cấp dưới dễ dàng hoặc thay đổi lãnh thổ của họ (ví dụ, hợp nhất chúng với các khu vực lân cận). Sự tồn tại ổn định đòi hỏi các tổ chức, nhân sự của chính quyền địa phương phải được đảm bảo bằng văn bản (Luật) hóa các tiêu chí về chế độ thành lập, giải tán, cách chức, bổ nhiệm… Phân cấp là việc phân công chức năng, phân định nhiệm vụ, quyền hạn cho từng cấp hành chính để việc quản lý đất nước được thuận lợi và hiệu quả hơn. Bản chất của phân cấp là việc cấp trên chuyển giao những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định do mình đang nắm giữ và thực hiện cho cấp dưới thực hiện một cách thường xuyên, liên tục bằng phương thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật hoặc bằng cách chuyển cho cấp dưới thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn bằng các quyết định cụ thể. Nội dung của phân cấp là giao cho các cấp chính quyền, các bộ phận trong bộ máy nhà nước những nhiệm vụ, quyền hạn để thực hiện, giải quyết những công việc nhất định của nhà nước. Những nhiệm vụ, quyền hạn được giao cho các cơ quan nhà nước mỗi cấp được xác định sao cho hợp pháp và hợp lý, căn cứ vào vị trí, tính chất và chức năng của chúng trong bộ máy nhà nước thể hiện dưới dạng các quyền, trách nhiệm của cơ quan nhà nước đó. Cụ thể là: + Quyền, trách nhiệm về các công việc quản lý hoặc quyền cung ứng các dịch vụ công trong những lĩnh vực, với quy mô nhất định theo nguyên tắc các công việc được trao trọn gói cho từng cấp quản lý, có nghĩa là, việc của cấp này sẽ không thuộc việc của cấp khác. + Để thực hiện các quyền, các công việc tương ứng thì từng cấp được trao quyền về ngân sách, tài chính độc lập với cấp khác. + Quyền về tổ chức nhân sự để đảm bảo việc thực hiện các nhiệm vụ, công việc quản lý hoặc cung ứng các dịch vụ công do mình đảm nhiệm. Phân cấp thực chất là trao cho từng cấp hành chính- lãnh thổ những quyền tự quyết định, tự quản lý những công việc cụ thể nhất định trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Các cấp chính quyền có những nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm và nguồn lực của mình tùy theo khả năng thực tế của địa phương để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được trao. Nhiệm vụ, quyền hạn tự quyết đó được thực hiện thông qua các pháp nhân công quyền như cơ quan đại điện, cơ quan hành chính… Chẳng hạn như ở nước ta là Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân. Tuy nhiên hoạt động của các cơ quan chính quyền địa phương vẫn phải luôn đặt dưới sự kiểm tra, giám sát cần thiết của các cơ quan chính quyền trung ương. Phân cấp thường được thực hiện ở các phương diện cơ bản như: Phân cấp về chính trị; phân cấp về hành chính; phân cấp về ngân sách; phân cấp về kinh tế… Tùy theo mỗi quốc gia và tùy theo từng giai đoạn mà việc phân cấp được tiến hành ở những phương diện nào và đến đâu. + Phân cấp về chính trị được hiểu là việc chuyển giao một phần quyền và nghĩa vụ chính trị từ chính quyền trung ương xuống cho chính quyền địa phương thực hiện. Tác dụng của quá trình này là làm cho chính quyền địa phương mạnh lên về mặt chính trị, đồng thời cho phép người dân và các nhóm chính trị ở địa phương có điều kiện tham gia và có ảnh hưởng nhiều hơn vào tiến trình xây dựng và thực thi các chính sách của chính quyền trung ương cũng như của chính quyền địa phương. Trong quá trình phân cấp về chính trị thường đòi hỏi phải có những sửa đổi nhất định về hiến pháp hoặc về thể chế nhà nước. + Phân cấp về hành chính được hiểu là phân bổ lại thẩm quyền, trách nhiệm và nguồn ngân sách cho việc bảo đảm các dịch vụ công giữa các cấp chính quyền của quốc gia. Điều này biểu hiện ở việc chuyển giao quyền và trách nhiệm thực hiện các chức năng công cộng (bao gồm cả việc xây dựng kế hoạch, quản lý và chi tiêu) từ chính quyền cấp trên xuống cho chính quyền cấp dưới. Phân cấp về hành chính thể hiện ở ba cấp độ cơ bản là: Phi tập trung hóa (tản quyền), ủy quyền và phân cấp quản lý. + Phân cấp về ngân sách được hiểu là sự phân bổ trách nhiệm quản lý về nguồn ngân sách giữa các cấp chính quyền. Phân cấp về ngân sách thể hiện dưới nhiều dạng như: Cho phép chính quyền địa phương tự chủ về tài chính (tự hạch toán kinh phí thu, chi); chính quyền trung ương và địa phương cùng thực hiện các hoạt động tài chính;cho phép chính quyền địa phương được đặt ra một số khoản thuế, lệ phí hoặc hưởng toàn bộ hay một phần các khoản thu từ thuế, lệ phí… ở địa phương; chuyển một phần khoản thu từ thuế mà chính quyền trung ương thu được cho chính quyền địa phương sử dụng; bảo lãnh hoặc cho chính quyền địa phương vay… + Phân cấp quản lý về kinh tế được hiểu là chuyển giao quyền điều hành, quyết định một số hoạt động kinh doanh từ cơ quan cấp trên xuống cơ quan cấp dưới hoặc từ các cơ quan công quyền sang các cơ quan tự quản hoặc khối tư nhân. Thông thường việc này gắn liền với quá trình tự do hóa kinh tế và nền kinh tế thị trường, hạn chế hoặc loại bỏ cơ chế tập trung bao cấp. Phân cấp, giao quyền cho địa phương là quy luật tất yếu khách quan để các địa phương tự quyết, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của địa phương mình. Thực tế cho thấy chúng ta đã đẩy mạnh việc phân cấp, giao quyền chủ động cho địa phương. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập trong phân cấp quản lý giữa Trung ương và chính quyền các cấp. Phân cấp là việc phân công chức năng, phân định nhiệm vụ, quyền hạn cho từng cấp hành chính để việc quản lý đất nước được thuận lợi và hiệu quả hơn. Bản chất của phân cấp là việc cấp trên chuyển giao những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định do mình đang nắm giữ và thực hiện cho cấp dưới thực hiện một cách thường xuyên, liên tục bằng phương thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật hoặc bằng cách chuyển cho cấp dưới thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn bằng các quyết định cụ thể. Trên cơ sở những lập luận đó, có thể đưa ra khái niệm về phân cấp quản lý nhà nước như sau: Phân cấp quản lý nhà nước là sự phân định thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cấp chính quyền trên cơ sở bảo đảm sự phù hợp giữa khối lượng và tính chất thẩm quyền với năng lực và điều kiện thực tế của từng cấp nhằm tăng cường chất lượng, hiệu lực và hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước. Công cuộc đổi mới đất nước, sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xu hướng mở cửa, hội nhập quốc tế tạo ra những tiền đề và đòi hỏi phải đổi mới, tăng cường phân cấp quản lý nhà nước giữa Trung ương và địa phương nhằm phát huy mạnh mẽ tính năng động, sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương các cấp trong quản lý, thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. II. Mô hình phân cấp quản lý nhà nước giữa trung ương và địa phương ở Việt Nam hiện nay Hiện nay theo quy định của Hiến pháp 1992 các đơn vị hành chính hầu như không có gì thay đổi so với Hiến pháp 1980, nhưng trên thực tế số lượng đơn vị hành chính cấp tỉnh và cấp huyện tăng lên rất nhiều so với giai đoạn trước. Bởi tình trạng nhiều đơn vị hành chính trước đây được nâng cấp và được chia tách do phát triển về dân số và quy mô. Có thể nói, việc phân cấp giữa trung ương và địa phương ở Việt Nam thời gian qua đã tạo ra bộ máy nhà nước khá thống nhất từ trung ương đến địa phương, ở một mức độ nào đó là phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta những năm vừa qua. Về thực trạng vấn đề phân cấp” Có thể nói, chủ trương phân cấp, một nội dung quan trọng trong chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010. Trong chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước, phân cấp được đề cập tới như một mục tiêu cốt lõi. Những chuyên gia tham gia xây dựng chương trình này đã nhìn thấy một thực tế là, quy mô của nền kinh tế xã hội Việt Nam đang tăng trưởng từng ngày, khó lòng để một bộ máy hành chính trung ương đảm đương hết các công việc của nó. Những lý thuyết căn bản về quản lý nhà nước của thế giới đều nói rằng, trong quá trình phát triển, một khi quản lý không theo kịp quy mô của phát triển thì phân cấp là sự lựa chọn tối ưu và Nghị quyết số 08/2004/NĐ-CP về đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền các tỉnh thành đã được ban hành như một văn bản làm nền cho phân cấp. 22 bản đề án phân cấp của 22 bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đã được xây dựng, để đến năm 2007, có tới 163 đầu việc về phân cấp đã được hoàn tất và ghi nhận. Nhiều nội dung quan trọng thuộc các lĩnh vực như đầu tư, đăng ký kinh doanh, nhà đất… đã được thực hiện tương đối hiệu quả, khẳng định chủ trương phân cấp là phù hợp với yêu cầu thực tế. Qua phân cấp, các bộ ngành chỉ còn tập trung vào khâu hoạch định thể chế, chính sách và thanh kiểm tra việc thực hiện, còn các công việc như cấp giấy phép, quản lý hoạt động trực tiếp… thuộc về các địa phương. Để đẩy mạnh cải cách hành chính, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước hiện nay, cần tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước giữa Trung ương và địa phương, tập trung vào phân cấp nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm giữa Chính phủ và chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) trên các lĩnh vực chủ yếu nhất: quản lý quy hoạch, kế hoạch, đầu tư phát triển; ngân sách nhà nước; đất đai, tài nguyên; doanh nghiệp nhà nước; hoạt động sự nghiệp, dịch vụ công; tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức. Trên cơ sở đó, để tiếp tục phân cấp quản lý nhà nước giữa chính quyền địa phương các cấp (tỉnh - huyện - xã). Quán triệt các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phân cấp quản lý, những năm qua Chính phủ đã có nhiều giải pháp tích cực, cụ thể để đổi mới, tăng cường phân cấp quản lý nhà nước giữa Trung ương và địa phương. Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp đã được tăng thêm thẩm quyền, trách nhiệm trong việc quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; quyết định các dự án đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài; phân bổ và điều hành ngân sách địa phương; quản lý đất đai, tài nguyên, doanh nghiệp; quản lý các hoạt động sự nghiệp và quyết định một số vấn đề về tổ chức bộ máy, cán bộ công chức. Từ việc thí điểm phân cấp nhiều hơn cho Thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh trong một số lĩnh vực, đã rút ra những bài học bổ ích để tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền cấp tỉnh. Những kết quả đạt được về phân cấp những năm vừa qua đã phát huy được tính chủ động, sáng tạo của chính quyền địa phương; khai thác các nguồn lực góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, phục vụ tốt hơn nhu cầu của tổ chức và lợi ích của nhân dân. Tuy nhiên, quá trình đổi mới phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp vừa qua xét về tổng thể vẫn chưa đáp ứng được những đòi hỏi bức xúc của thực tiễn, còn nhiều hạn chế, bất hợp lý: - Phân cấp nhưng chưa bảo đảm quản lý thống nhất, còn biểu hiện phân tán, cục bộ; kỷ luật, kỷ cương hành chính chưa nghiêm; chưa chú trọng việc thanh tra, kiểm tra đối với những việc đã phân cấp cho địa phương. - Chưa phân định rõ ràng, cụ thể nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước, tổ chức cung cấp dịch vụ công, đại diện chủ sở hữu đối với các tổ chức kinh tế nhà nước và tài sản nhà nước. Chưa xác định rõ trách nhiệm của mỗi cấp, của tập thể và cá nhân đối với những nhiệm vụ đã được phân cấp. - Phân cấp nhiệm vụ cho cấp dưới, nhưng chưa bảo đảm tương ứng các điều kiện cần thiết để thực hiện, còn thiếu sự ăn khớp, đồng bộ giữa các ngành, các lĩnh vực có liên quan, chưa tạo điều kiện thực tế cho địa phương chủ động cân đối các nguồn lực và các nhu cầu cụ thể của mình. - Một số nội dung phân cấp đã được pháp luật quy định nhưng chậm được triển khai thực hiện hoặc thực hiện không triệt để. Mặt khác, các quy định phân cấp hiện hành chưa phù hợp với thực tiễn của mỗi khu vực, vùng lãnh thổ, chưa phân biệt rõ sự khác nhau giữa đô thị và nông thôn. Những hạn chế, bất cập trên đây do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chủ yếu là do các nguyên nhân: nhận thức, quan điểm về các chủ trương, giải pháp phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền cấp tỉnh chưa rõ ràng, rành mạch, thiếu nhất quán, lo ngại phân cấp mạnh dẫn đến tình trạng cục bộ, cát cứ, phân tán. Trong tổ chức chỉ đạo còn thiếu quyết tâm, mạnh dạn từ xây dựng, ban hành thể chế, chính sách đến tổ chức thực hiện; chưa chú trọng tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm. Hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng với yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong tình hình mới. Về mục tiêu của sự phân cấp trong thời gian tới là tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền cấp tỉnh, giữa chính quyền địa phương các cấp nhằm phát huy tính năng động, sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trên cơ sở phân định rõ, cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mỗi cấp trong bộ máy chính quyền nhà nước, bảo đảm sự quản lý tập trung, thống nhất và thông suốt của Chính phủ, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước phục vụ tốt hơn nhu cầu và lợi ích của nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Về quan điểm và nguyên tắc là a) Quán triệt quan điểm quyền lực nhà nước là thống nhất, bảo đảm quản lý thống nhất của Chính phủ về thể chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, thanh tra, kiểm tra; đồng thời phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền cấp tỉnh trong việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước trên địa bàn theo quy định của pháp luật. b) Tuân thủ nguyên tắc kết hợp chặt chẽ giữa quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ, phân định rõ những nhiệm vụ quản lý nhà nước của bộ, ngành với nhiệm vụ quản lý nhà nước của chính quyền cấp tỉnh đối với các hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn lãnh thổ. c) Bảo đảm nguyên tắc hiệu quả, việc nào, cấp nào sát thực tế hơn, giải quyết kịp thời và phục vụ tốt hơn các yêu cầu của tổ chức và nhân dân thì giao cho cấp đó thực hiện; phân cấp phải rõ việc, rõ địa chỉ, rõ trách nhiệm, gắn với chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp. d) Phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn, đặc thù của ngành, lĩnh vực, điều kiện và khả năng phát triển của từng khu vực, vùng lãnh thổ, với từng loại hình đô thị, nông thôn, với xu thế hội nhập khu vực và quốc tế. đ) Phải bảo đảm tương ứng giữa nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm với nguồn lực tài chính, tổ chức, nhân sự và các điều kiện cần thiết khác; phải đồng bộ, ăn khớp giữa các ngành, lĩnh vực có liên quan. e) Bảo đảm quyền và thực hiện đầy đủ trách nhiệm của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc quyết định, thực hiện các nhiệm vụ được phân cấp; chấp hành nghiêm kỷ luật, kỷ cương hành chính; đồng thời phát huy dân chủ rộng rãi để nhân dân tham gia quản lý nhà nước. g) Phân cấp phải thể hiện được sự đồng bộ, thống nhất trong hệ thống thể chế, văn bản quy phạm pháp luật gắn với đổi mới cơ chế và bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị cơ sở. h) Đối với những vấn đề đã phân cấp, chính quyền cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện; các bộ, ngành trung ương có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn và kiểm tra, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc trái với quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực thì xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét III. Xu hướng và giải pháp phân cấp giữa trung ương và địa phương ở nước ta giai đoạn hiện nay Hoạt động phân cấp, phân quyền ở nước ta hiện nay cần diễn ra theo những xu hướng cơ bản sau: - Tiếp tục hoàn thiện về mặt tổ chức các cơ quan chính quyền địa phương theo tinh thần nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan chính quyền địa phương, tránh hình thức trong hoạt động của chính quyền địa phương, nhất là đối với các cơ quan đại diện (Hội đồng nhân dân). - Tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho chính quyền địa phương các cấp. Tạo điều kiện cho các địa phương phát huy được những điểm mạnh, thế mạnh của mình (về dân cư, địa lý, khí hậu…) trong phát triển. - Bảo đảm sự chỉ đạo, điều hành thống nhất và thông suốt của trung ương, đồng thời phát huy quyền tự chủ, tính năng động sáng tạo của chính quyền địa phương các cấp. Phân cấp nhưng phải luôn giữ cho chính quyền trung ương vững mạnh, đủ khả năng để giải quyết những vấn đề quan trọng của đất nước. Khắc phục tình trạng không hoặc khó kiểm soát được của chính quyền trung ương đối với chính quyền địa phương. - Việc phân cấp phải phù hợp với điều kiện, tiềm năng, khả năng của mỗi địa phương, mỗi khu vực, mỗi vùng, nhưng cũng đồng thời phải tránh tình trạng phát triển mất cân đối của cả đất nước do sự tùy tiện phát triển quá mức của mỗi địa phương. - Bảo đảm tính công khai, minh bạch trong sử dụng tài chính, ngân sách, tài sản công và bố trí nguồn nhân lực, tránh lãng phí, sử dụng kém hiệu quả hoặc để xảy ra tình trạng tham nhũng. Vấn đề phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương ở nước ta là vấn đề không ngừng nghỉ, sự ổn định chỉ mang tính chất tương đối và phụ thuộc vào tình hình phát triển của đất nước ở mỗi giai đoạn nhất định. Để vấn đề phân cấp, phân quyền ở nước ta được tiến hành có hiệu quả cần chú ý các giải pháp cụ thể sau: -Giải pháp về nhận thức. + Cần tiếp tục nhận thức đúng đắn về phân cấp, phân quyền trong giai đoạn hiện nay nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, phục vụ tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và của mỗi địa phương. Nên sửa đổi Hiến pháp năm 1992 với việc phân định và xác định rõ chính quyền trung ương và chính quyền địa phương và như vậy, cần đổi chương IX của Hiến pháp là chính quyền địa phương, chứ không nên dùng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Theo xu hướng chung hiện nay thì cần nghiên cứu để tiếp tục phân quyền, phân cấp nhiều hơn cho chính quyền địa phương, nhất là tăng cường tính tự quản cho Hội đồng nhân dân để phát huy khả năng sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền. Tuy nhiên, không nên quan niệm tập trung là xấu, phân cấp là tốt hay ngược lại, mà vấn đề là ở chỗ phải tập trung những gì, phân cấp những gì, đến đâu, bao nhiêu là vừa sao cho đúng, cho phù hợp với tình hình và điều kiện hiện nay là quan trọng nhất. Vấn đề quan trọng nhất ở nước ta hiện nay là phân công nhiệm vụ, quyền hạn gì? cho cấp nào? phân công đến đâu là phù hợp… để rồi từ đó tổ chức bộ máy chính quyền mỗi cấp, mỗi đơn vị để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đó. Về nguyên tắc, trung ương phải nắm các vấn đề quan trọng, có ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, những vấn đề chiến lược lớn, còn địa phương phải giải quyết những vấn đề cụ thể có ý nghĩa địa phương, trực tiếp cung ứng những dịch vụ công cho nhân dân một cách tốt nhất. Do vậy, trung ương nên tập trung vào xây dựng chính sách vĩ mô, pháp luật, đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất về mặt thể chế, còn mỗi địa phương được quyền chủ động, sáng tạo trong việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn được trao. + Việc phân cấp phải bảo đảm nguyên tắc việc của cấp này không được trùng lặp với cấp khác, việc của trung ương không trùng với việc của địa phương. Cần có quan niệm đúng về vị trí, vai trò, chức năng của Hội đồng nhân dân- cơ quan quyết nghị và giám sát những loại việc được phân cấp ở địa phương, giám sát việc thực hiện Hiến pháp và pháp luật ở địa phương để có những giải pháp củng cố thiết chế dân chủ này ở các địa phương. Về nguyên tắc, nếu địa phương hay cấp dưới đủ năng lực để tiến hành các hoạt động nhà nước nào đó có hiệu quả hơn so với trung ương, so với cấp trên thì cần mạnh dạn phân cấp cho địa phương, cho cấp dưới để trung ương, cấp trên có điều kiện giải quyết các vấn đề vĩ mô, mang tính chất chiến lược cho đất nước, không mất nhiều công sức, thời gian vào những công việc mà trung ương hoặc cấp trên giải quyết ít hiệu quả. Đa dạng hóa việc tổ chức chính quyền địa phương (phân biệt giữa cơ quan chính quyền ở thành thị, nông thôn, hải đảo, vùng núi…). + Bảo đảm sự quản lý thống nhất từ trung ương tới cơ sở tạo ra chính quyền thống nhất, hùng mạnh, tránh hiện tượng không kiểm soát được đối với sự phát triển của địa phương, của chính quyền địa phương. Quá trình phân cấp phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa trung ương với địa phương theo chiều dọc, giữa các ngành theo chiều ngang. Giữa trung ương và địa phương, giữa các ngành và các cấp chính quyền phải luôn có sự phối hợp, giúp đỡ lẫn nhau, kiểm tra, giám sát lẫn nhau để cùng phát triển vì mục tiêu chung dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. + Việc phân cấp giữa trung ương với địa phương, giữa cấp trên với cấp dưới tất yếu sẽ dẫn đến tranh chấp về thẩm quyền, về lợi ích. Chẳng hạn, chính quyền thành phố Hà Nội muốn xây dựng một nghĩa trang trên lãnh thổ của một xã thuộc thành phố, nhưng chính quyền và nhân dân địa phương đã không đồng ý và có những phản ứng quyết liệt, đòi hỏi chính quyền thành phố buộc phải xem xét lại. Do vậy, cần phải có cơ chế hiệu quả để giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp trong quá trình nói trên. - Giải pháp về xây dựng pháp luật. + Cần nhanh chóng sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và các luật tổ chức bộ máy nhà nước trên cơ sở rà soát, tổng kết đánh giá những quy định pháp luật có liên quan đến vấn đề phân cấp, phân quyền, đến mối quan hệ giữa trung ương và địa phương thời gian qua. Chẳng hạn, Điều 2 Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”. Tuy nhiên, tư tưởng chỉ đạo của quan điểm trên đã chưa được thể hiện một cách đầy đủ và chính xác ở các quy định khác của Hiến pháp và các luật tổ chức bộ máy nhà nước của nước ta. Điều 6 Hiến pháp 1992 đã quy định: “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là các cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”. Cũng vì vậy, Hiến pháp xác định Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 83) và Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương (Điều 119). Chúng tôi cho rằng, việc xác định các cơ quan nhà nước như trên là chưa thực sự chính xác. Bởi theo chúng tôi thì bầu cử chỉ là một cách thức hình thành cơ quan nhà nước, cơ quan nhà nước có thể được hình thành bằng nhiều cách thức khác nhau như thông qua bầu cử, bổ nhiệm và các cách thức khác. Do vậy, bầu cử không phải là hành vi nhân dân (cử tri) trao quyền lực của mình cho cơ quan nhà nước (Quốc hội và Hội đồng nhân dân) mà việc trao quyền lực của nhân dân cho cơ quan nhà nước (Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Chính phủ, Toà án, Viện kiểm sát...) là thông qua hành vi ban hành hiến pháp và các luật tổ chức bộ máy nhà nước. Bằng việc ban hành Hiến pháp nhân dân đã trao quyền lực của mình cho các cơ quan nhà nước, xác định thẩm quyền của Quốc hội, Chính phủ, Toà án, Viện kiểm sát... (Hiến pháp khi này gần giống như văn bản thoả thuận về việc quyền lực nhà nước được nhân dân giao cho những cơ quan nào, đến đâu). Các cơ quan nhà nước nhận quyền từ nhân dân thông qua Hiến pháp chứ không phải thông qua con đường bầu cử của cử tri. Vì vậy, việc Hiến pháp quy định về Quốc hội và Hội đồng nhân dân như trên theo chúng tôi là chưa phù hợp vì: Một là, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân được nhân dân giao cho không chỉ Quốc hội và Hội đồng nhân dân mà giao cho cả các cơ quan khác của nhà nước như Toà án, Viện kiểm sát... Quốc hội và Hội đồng nhân dân cũng như Chính phủ, Toà án, Viện kiểm sát... đều nhận quyền lực trực tiếp từ nhân dân và các cơ quan nói trên chỉ khác nhau ở cách thức thành lập và quyền lực được giao. Do vậy, không nên quan niệm rằng, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao... do Quốc hội bầu nên được xem như họ nhận quyền từ Quốc hội, tương tự như vậy đối với các cơ quan khác; hai là,nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước không chỉ thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân mà thông qua tất cả các cơ quan nhà nước. Các cơ quan nhà nước đều nhận quyền từ nhân dân trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và thực hiện quyền lực nhà nước trong khuôn khổ của Hiến pháp. Do vậy, tất cả các cơ quan nhà nước từ Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Chính phủ, Toà án... không được ban hành các văn bản pháp luật hoặc có những hoạt động trái với quy định của Hiến pháp, vì như vậy là trái với ý chí của nhân dân, vượt quá giới hạn quyền lực mà nhân dân giao cho; ba là, việc xác định chỉ có Quốc hội và Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước sẽ dẫn đến việc hiểu nhầm về các cơ quan khác của nhà nước, vì như trên đã khẳng định các cơ quan như Chính phủ, Toà án, Viện kiểm sát cũng mang và thực hiện quyền lực nhà nước, do vậy các cơ quan đó cũng có thể được gọi là cơ quan quyền lực nhà nước. + Bổ sung thêm các quy định pháp luật liên quan đến việc bảo đảm các điều kiện về chuyên môn nghiệp vụ, vật chất kỹ thuật và các điều kiện khác để chính quyền địa phương các cấp có thể hoàn thành tốt những nhiệm vụ, quyền hạn được trao theo tinh thần mà Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra là: “...xây dựng, bổ sung các thể chế và cơ chế vận hành cụ thể để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”. + Cần có những quy định pháp luật đầy đủ về thiết chế, về nguyên tắc, trình tự, thủ tục để giải quyết những tranh chấp giữa trung ương với địa phương hoặc giữa các địa phương với nhau trong quá trình phân cấp, phân quyền. - Giải pháp về đổi mới tổ chức, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của chính quyền các cấp, nhất là chính quyền địa phương các cấp. + Đổi mới lại tổ chức của bộ máy nhà nước Cần nhận thức đầy đủ và hiện thực hóa nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lực nhà nước ở tất cả các cấp của bộ máy nhà nước. Hiện nay ở Việt Nam các đơn vị hành chính cấp tỉnh, huyện và xã được tách ra, được thành lập thêm quá nhiều dẫn đến số lượng các đơn vị hành chính các cấp, nhất là cấp tỉnh quá nhiều, điều này gây khó khăn cho trung ương, cho Chính phủ trong quản lý, điều hành ở tầm quốc gia. Cũng với chủ trương chia tách nên số lượng các bộ và cơ quan ngang bộ trong bộ máy nhà nước ta khá nhiều nếu so sánh tương quan với các nhà nước khác có quy mô và dân số tương đương với Việt Nam càng làm cho việc quản lý hành chính nhà nước của Chính phủ, của Thủ tướng Chính phủ gặp nhiều khó khăn. Với những lý do như đã nêu trên dẫn đến các cơ quan trực thuộc Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quá nhiều. Với quá nhiều đầu mối trực thuộc Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ làm cho hoạt động chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ gặp rất nhiều khó khăn. Tình trạng không quản lý được hoặc quản lý lỏng lẻo trên các lĩnh vực diễn ra khá phổ biến ở đất nước ta thời gian qua. Do vậy, cần phải: “Cơ cấu lại bộ máy Chính phủ theo hướng giảm các đầu mối, phù hợp với yêu cầu đổi mới chức năng, nhiệm vụ. Cơ cấu lại các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước các cấp,...”. Cụ thể là cần phải: Một là, giảm bớt các Bộ và cơ quan ngang Bộ theo tinh thần là “tổ chức bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, bảo đảm tinh gọn và hợp lý” mà Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đã đề ra. Từ đó “Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, tổ chức của các Bộ, cơ quan ngang Bộ; khắc phục tình trạng bỏ trống hoặc trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ giữa các Bộ, ngành”. Hai là, giảm bớt các đơn vị hành chính cấp tỉnh bằng việc phân định lại các đơn vị hành chính cấp tỉnh theo hướng sát nhập một số tỉnh nhỏ có sự gắn kết chặt chẽ với nhau một cách hợp lý, trên tinh thần đó “Điều chỉnh cơ cấu chính quyền địa phương cho phù hợp với những thay đổi chức năng, nhiệm vụ”. Việc sát nhập các tỉnh lại thành những đơn vị hành chính cấp tỉnh lớn hơn cần được nghiên cứu kỹ càng hơn, trong đó không chỉ chú trọng đến vấn đề quản lý hành chính nhà nước mà còn phải chú ý đến cơ cấu dân cư và sự phát triển kinh tế - xã hội phù hợp. Điều kiện dân trí, cơ sở hạ tầng giao thông, thông tin, liên lạc hiện nay ở nước ta đủ để cho phép thành lập các đơn vị hành chính cấp tỉnh với quy mô lớn hơn hiện nay mà việc quản lý hành chính trên các lĩnh vực vẫn hiệu quả. Hoặc là, vẫn giữ nguyên các đơn vị hành chính cấp tỉnh như hiện nay để đỡ có sự xáo trộn về nhân sự và địa giới hành chính, đồng thời thành lập thêm một số đơn vị hành chính trung gian có tính chất vùng (khu vực) để chỉ đạo trực tiếp các tỉnh “khắc phục tình trạng chia cắt, khép kín theo địa giới hành chính” tỉnh, khi này Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các địa phương thông qua các cơ quan hành chính vùng (khu vực). Khi các đầu mối trực thuộc Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ít đi thì đội ngũ những người giúp việc cho Thủ tướng sẽ giảm đi đáng kể và Thủ tướng có điều kiện điều hành, chỉ đạo một cách trực tiếp và tốt hơn. Không còn hiện tượng như mọi người vẫn nói Việt Nam buộc phải thành lập một “Chính phủ con” trong Chính phủ to để điều hành đất nước. Cần chú ý là việc quản lý của các Bộ đối với địa phương chỉ là quản lý theo ngành, theo lĩnh vực, còn việc điều hành, quản lý, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, với Chủ tịch các đơn vị hành chính nói trên là theo đơn vị hành chính lãnh thổ. + Phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, chức năng của các cơ quan nhà nước mỗi cấp. Phân định rõ nhóm các công việc thuộc thẩm quyền của mỗi cấp để tránh trùng lặp. Cụ thể là: - Nhóm công việc thuộc thẩm quyền của các cơ quan trung ương, nhất là liên quan đến lĩnh vực lập pháp. - Nhóm công việc thuộc thẩm quyền của các cơ quan ở địa phương, trong đó cũng phân công theo từng cấp cho phù hợp với khả năng thực hiện. - Nhóm các công việc có sự phối hợp thực hiện giữa trung ương và địa phương, nghĩa là thuộc thẩm quyền của trung ương, nhưng được thực hiện thong qua các địa phương.
- Xem thêm -