Phân bổ ngân sách nhà nước dưới góc nhìn chính trị ở Việt Nam hiện nay

  • Số trang: 115 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 27 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Nguyễn Thành Trung PHÂN BỔ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC DƢỚI GÓC NHÌN CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SỸ Hà Nội -2014 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Nguyễn Thành Trung PHÂN BỔ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC DƢỚI GÓC NHÌN CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SỸ Chuyên ngành: Chính trị học Mã số: 60 31 02 01 NGƢỜI HƢỚNG DẪN: TS. Ngô Huy Đức Hà Nội -2014 MỤC LỤC MỞ ĐẦU .................................................................................................................. 1 CHƢƠNG 1 ............................................................................................................. 7 MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH TRỊ, KINH TẾ VÀ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC ............................................................................................................. 7 1.1. Lý luận chung về chính trị .............................................................................. 7 1.1.1. Khái niệm về chính trị ............................................................................... 7 1.1.2. Quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước........................................... 10 1.2. Lý luận chung về kinh tế và chi tiêu ngân sách nhà nƣớc ......................... 19 1.2.1. Quan niệm về kinh tế ............................................................................... 19 1.2.2. Quan niệm về chi tiêu công ..................................................................... 21 1.2.3. Hoạt động phân bổ ngân sách nhà nước ............................................... 25 1.3. Mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế .......................................................... 27 1.3.1. Mối quan hệ chính trị và kinh tế trong lịch sử tư tưởng trước Mác..... 27 1.3.2. Mối quan hệ chính trị và kinh tế thời kỳ cận đại và hiện đại ................ 28 1.3.3. Mối quan hệ chính trị và kinh tế theo chủ nghĩa nghĩa Mác – Lênin .. 31 1.3.4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ........ 37 1.3.5. Mối quan hệ chính trị và kinh tế trong xây dựng CNXH ở Việt Nam .. 39 1.4. Cơ sở lý luận của quan niệm về mối quan hệ giữa chính trị và phân bổ ngân sách nhà nƣớc............................................................................................... 40 CHƢƠNG 2 ........................................................................................................... 46 MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH TRỊ VÀ VẤN ĐỀ PHÂN BỔ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ............................................................ 46 2.1. Nội dung, vai trò của phân bổ ngân sách nhà nƣớc đối với nền kinh tế và xã hội ...................................................................................................................... 46 2.1.1. Nội dung của phân bổ ngân sách nhà nước .......................................... 46 2.1.2. Vai trò của phân bổ ngân sách nhà nước đối với kinh tế - xã hội ........ 49 2.2. Tính chính trị trong các nội dung phân bổ ngân sách nhà nƣớc ở Việt Nam hiện nay ......................................................................................................... 55 2.2.1. Thể hiện trước hết là công cụ, là nguồn lực chủ yếu trong quá trình đấu tranh giai cấp để giành lấy quyền thực thi quyền lực nhà nước ............. 55 2.2.2. Tính chính trị thể hiện trong quá trình tồn tại và duy trì quyền lực nhà nước .................................................................................................................... 57 CHƢƠNG 3 ........................................................................................................... 85 NHỮNG YÊU CẦU TIẾP TỤC HOÀN THIỆN SỰ LÃNH ĐẠO CHÍNH TRỊ VỚI VẤN ĐỀ PHÂN BỔ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI ................................................................................ 85 3.1. Quan điểm về nhận thức và giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam ............................................................. 85 3.2. Những yêu cầu đặt ra nhằm tiếp tục hoàn thiện sự lãnh đạo chính trị với việc phân bổ ngân sách nhà nƣớc ........................................................................ 90 KẾT LUẬN .......................................................................................................... 104 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................... 106 PHỤ LỤC 1: DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ............................................. 1 PHỤ LỤC 2: DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ .............................................................. 2 PHỤ LỤC 3: DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU SỐ LIỆU................................... 3 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cƣ́ u khoa ho ̣c của riêng tôi. Kế t quả trình bày trong luận văn đảm bảo đô ̣ tin câ ̣y , chính xác và trung thƣ̣c . Nhƣ̃ng kế t quả khoa ho ̣c của luâ ̣n văn chƣa tƣ̀ng đƣơ ̣c ai công bố trong bấ t kỳ công trình khoa ho ̣c nào trƣớc đó./. TÁC GIẢ LUẬN VĂN Nguyễn Thành Trung MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, ở mỗi quốc gia, chính trị và kinh tế là những yếu tố cơ bản nhất trong một hình thái phát triển xã hội cụ thể. Mối quan hệ giữa chính trị với kinh tế cũng là mối quan hệ cơ bản nhất, quyết định nhất tới sự vận động và phát triển của mọi xã hội có giai cấp. Sự phát triển xã hội đƣợc lý giải theo nhiều lý thuyết khác nhau với nhiều nhân tố khác nhau liên quan đến sự phát triển, nhƣng chính trị vẫn luôn là một nguồn lực của sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Sự lãnh đạo của chính trị với kinh tế trong một quốc gia, một khu vực có ý nghĩa quyết định tới việc mỗi quốc gia, mỗi khu vực có phát triển đi lên hay rơi vào tình trạng kém phát triển, khủng khoảng trầm trọng. Mặt khác kinh tế lại là nhân tố quyết định toàn bộ lịch sử chính trị, từ lịch sử hình thành giai cấp và đấu tranh giai cấp đến lịch sử hình thành các chính đảng và hoạt động của các chính đảng, lịch sử hình thành các thiết chế quyền lực nhà nƣớc và tất cả những vấn đề khác của đời sống chính trị; nói một cách khác, cơ sở kinh tế nào thì quan hệ chính trị ấy. Mục tiêu cuối cùng của mọi nhà nƣớc là tiến bộ xã hội, tiến bộ xã hội lại đƣợc tác động bởi các công cụ, phƣơng thức tác động là thể chế, thiết chế, chính sách thông qua chủ thể quản lý là Nhà nƣớc. Nhà nƣớc, về mặt chính trị thì quyền lực nhà nƣớc là trung tâm của quyền lực chính trị, về mặt kinh tế thì Nhà nƣớc quản lý vĩ mô nền kinh tế thông qua việc vận dụng các phạm trù kinh tế, trƣớc hết là phạm trù kế hoạch hóa và phạm trù tài chính với tƣ cách là những phạm trù kinh tế mang tính tổng hợp cao. Lợi ích kinh tế và phân phối thu nhập là những vấn đề rộng lớn liên quan đến các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ... của Nhà nƣớc và nhân dân lao động. Luôn luôn gắn liền với việc thực hiện các chức năng nhiều mặt của Nhà nƣớc, hoạt động của Tài chính công, mà Ngân sách nhà nƣớc là mắt khâu quan trọng nhất giữ vai trò chủ đạo trong Tài chính công cũng rất đa dạng, liên quan đến mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội và tác động đến mọi chủ thể trong xã hội. Nhà nƣớc dùng nhiều công cụ để phục vụ mục tiêu quản lý xã hội, trong đó có một thứ công cụ rất quan trọng đó là tài chính ngân sách. Thông qua quá trình động viên, phân phối các nguồn tài chính nói chung và Ngân sách nhà 1 nƣớc nói riêng, thu của Ngân sách nhà nƣớc đƣợc lấy từ mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội khác nhau, trong đó thuế là hình thức thu phổ biến dựa trên tính cƣỡng chế là chủ yếu; chi tiêu (nói cách khác, là việc phân bổ) của Ngân sách nhà nƣớc nhằm duy trì sự tồn tại của bộ máy Nhà nƣớc, và thực hiện các mục tiêu của Nhà nƣớc, của Đảng cầm quyền trong mối quan hệ cùng tồn tại của nhiều tổ chức, tập đoàn ngƣời khác nhau trong xã hội. Việc phân bổ ngân sách nhà nƣớc thể hiện ở 2 khía cạnh (2 tính chất) tƣơng ứng với 2 phƣơng diện của quyền lực (quyền lực công và quyền lực chính trị): Một là, phân bổ để hoàn thành các chức năng công ích để tạo ra hàng hóa công cộng, có giá trị sử dụng cho toàn xã hội, bất kể tính chất chính trị. Hai là, phân bổ nhằm ƣu tiên các mục tiêu chính trị cụ thể, ƣu tiên cho những giai cấp, tầng lớp nhất định trong xã hội (nhƣ: đạt mục tiêu về kinh tế của hệ tƣ tƣởng xã hội chủ nghĩa hoặc đạt mục tiêu về kinh tế của hệ tƣ tƣởng tƣ bản chủ nghĩa, ...). Từ những nhận thức nhƣ vậy, việc nghiên cứu khía cạnh chính trị (tức ƣu tiên các mục chính trị cụ thể) trong việc phân bổ ngân sách nhà nƣớc vừa có ý nghĩa lý luận, vừa mang tính thực tiễn cao, nhằm rút ra những giá trị thiết thực cho công cuộc đổi mới toàn diện theo định hƣớng tiến lên xã hội chủ nghĩa ở nƣớc ta. Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài “Phân bổ Ngân sách nhà nƣớc dƣới góc nhìn chính trị ở Việt Nam hiện nay” làm Đề tài luận văn Thạc sỹ của chuyên ngành Chính trị học. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Việc nghiên cứu mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế nói chung, đặc biệt giữa chính trị và việc chi tiêu Ngân sách nhà nƣớc (một bộ phận của chi tiêu công) nói riêng trên thực tế chƣa thu hút đƣợc sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu lý luận, nhà hoạt động thực tiễn trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Căn cứ vào nội dung có thể chia thành các nhóm sau: Nhóm thứ nhất gồm các vấn đề cơ bản, có liên quan trực tiếp với Đề tài, gồm: lý luận chính trị, lý luận kinh tế, lý luận về lĩnh vực chi tiêu công của nhà nƣớc trong hoạt động phân bổ nguồn lực ngân sách nhà nƣớc. Qua đó số giúp tác giả có các nhìn bao quát và hình thành lên cơ sở lý luận cho việc thực hiện Đề tài. Có thể nêu ra một số công trình tiêu biểu nhƣ sau: 2 - Cuốn sách của tác giả Lƣu Văn Sùng (2009): Tập bài giảng Chính trị học, Nxb. Chính trị - Hành chính. - Cuốn sách của tác giả Lê Văn Phụng (2010): Tập bài giảng Chính trị học, Nxb. CTQG. - Cuốn sách của tác giả Lƣu Minh Văn (2011): Tâ ̣p bài giảng chính trị học đa ̣i cƣơng, Nxb. Khoa Chính trị, Đa ̣i ho ̣c Khoa ho ̣c xã hô ̣i & Nhân văn. - Cuốn sách của tác giả Nguyễn Xuân Tế (2002): Nhập môn khoa học chính trị, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh. - Cuốn sách của tác giả Nguyễn Xuân Phong (2011): Giới thiệu một số tác phẩm của C.Mác, Ph.Awngghen và V.I.LêNin về chính trị, Nxb. CTQG. - Giáo trình kinh tế chính trị Mác - LêNin, Nxb. CTQG, 2004. - Giáo trình lý thuyết tài chính, Nxb. Tài chính, 2003. - Giáo trình quản lý tài chính công, Nxb. Tài chính, 2005. - Giáo trình triết học Mác - LêNin, Nxb. CTQG, 2004. Nhóm thứ hai gồm các nghiên cứu về nội dung cụ thể của chi tiêu ngân sách nhà nƣớc Việt Nam, qua đó nêu ra một số mục đích, mục tiêu chính trị của các khoản chi tiêu ấy đối với từng chủ thể trong nhà nƣớc. Có thể nêu ra một số công trình tiêu biểu nhƣ sau: - Cuốn sách của tác giả Bùi Đại Dũng (2007): Hiệu quả chi tiêu ngân sách dƣới tác động của vấn đề nhóm lợi ích ở một số nƣớc trên thế giới, Nxb. CTQG. - Cuốn sách của tác giả Nguyễn Ngọc Toàn (2013): Tái cấu trúc kinh tế Việt Nam, Nxb. CTQG. - Cuốn sách của tác giả Phạm Thị Khanh (2010): Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng phát triển bền vững ở Việt Nam, Nxb. CTQG. - Một số văn bản quy phạm pháp luật của nhà nƣớc: Luật Ngân sách nhà nƣớc do Quốc hội ban hành; Quyết định của Thủ tƣớng Chính phủ về định mức phân bổ ngân sách nhà nƣớc; Quyết định của Bộ Tài chính về công bố dự toán một số năm gần đây; ... 3 Nhóm thứ ba gồm các đề xuất những yấu cầu để tiếp tục hoàn thiện sự lãnh đạo chính trị với vấn đề phân bổ ngân sách nhà nƣớc ở việt nam trong thời gian tới. Có thể nêu ra một số công trình tiêu biểu nhƣ sau: - Cuốn sách của tác giả Dƣơng Xuân Ngọc (2012): Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam, Nxb. CTQG. - Cuốn “Quản lý nhà nƣớc về kinh tế”, Nguyễn Cúc, NXB Chính trị hành chính, 2011. - Cuốn “Mâu thuẫn, xung đột lợi ích nhóm - Thực trạng, xu hƣớng và giải pháp”, Hồ Bá Thâm, NXB Chính trị quốc gia, 2011. Nhƣ̃ng nô ̣i dung của các tác giả đã nghiên cƣ́u đã có một phần liên quan trƣ̣c tiế p đế n vấ n đề của đề tài . Song sƣ̣ tích hơ ̣p, giao thoa giƣ̃a nhƣ̃ng nô ̣i dung đó đă ̣c biê ̣t là vấn đề phân bổ Ngân sách nhà nƣớc dƣới góc nhìn chính trị ở Việt Nam hiện nay thì chƣa đƣợc tác giả nào nghiên cứu. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu - Mục tiêu nghiên cứu luận văn: Nghiên cứu cơ sở lý luận và tính chính trị trong hoạt động của chi tiêu ngân sách nhà nƣớc, từ đó liên hệ và đề ra một số quan điểm về chi tiêu ngân sách nhà nƣớc trong mối quan hệ vừa đạt đƣợc mục đích, mục tiêu của Nhà nƣớc, của Đảng cầm quyền (Đảng Cộng sản Việt Nam), vừa đạt đƣợc tiến bộ xã hội nói chung; từ đó đƣa đất nƣớc ta đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nƣớc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nƣớc mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. - Nhiệm vụ nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về chính trị, kinh tế và phân bổ ngân sách nhà nƣớc, làm cơ sở phân tích, đánh giá, nhận thức mối quan hệ giữa chính trị và việc chi tiêu công của nhà nƣớc (mục tiêu chính trị đề ra có đạt đƣợc không? hiệu quả thế nào, ...); từ đó nhận làm rõ vai trò của phân bổ ngân sách nhà nƣớc trong việc đạt đƣợc các mục tiêu chính trị của Đảng và Nhà nƣớc; và cũng chỉ ra rõ hơn về tính lãnh đạo, chỉ huy của chính trị đối với việc chi tiêu ngân sách nhà nƣớc. Thực hiện đề xuất những yêu cầu để tiếp tục hoàn thiện sự lãnh đạo chính trị với vấn đề phân bổ ngân sách nhà nƣớc ở việt nam trong thời gian tới. 4 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tƣợng nghiên cứu: Các nội dung chi trong việc phân bổ ngân sách nhà nƣớc; các mục tiêu chính trị cơ bản đối với một nhà nƣớc. Vì nhiều điều kiện khác nhau, luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu một số khoản chi tiêu cơ bản nhƣ: lĩnh vực chi đầu tƣ phát triển, chi thƣờng xuyên của ngân sách nhà nƣớc trong nền kinh tế quốc dân. - Phạm vi nghiên cứu: Tính chính trị trong chi tiêu ngân sách nhà nƣớc là một vấn đề nhạy cảm, một vấn đề lớn, vừa phong phú, vừa đa dạng, vừa phức tạp. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các nội dung chi tiêu của ngân sách nhà nƣớc nói chung, đã đƣợc công khai trên thực tế (số liệu không thuộc tính chất: mật, tối mật, tuyệt mật, ...), không đi sâu nghiên cứu các nghiệp vụ chuyên môn về chi ngân sách nhà nƣớc. 5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu - Cơ sở lý luận: Luận văn đƣợc thực hiện dựa trên cơ sở vận dụng những lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về chính trị, nhà nƣớc và kinh tế; các học thuyết về vị trí, vai trò các khoản chi tiêu công của nhà nƣớc đối với quốc gia, dân tộc; các quan điểm, đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam. - Phƣơng pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phƣơng pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Triết học Mác-Lênin và những phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể nhƣ phân tích, so sách, tổng hợp, thống kê, tổng kết thực tiễn, ... 6. Đóng góp của luận văn Về mặt lý luận: Về cơ bản đã tập hợp đƣợc các quan niệm, khái niệm có liên quan về chính trị, kinh tế và ngân sách nhà nƣớc. Từ đó phân tích, chỉ ra mối quan hệ mang tính khách quan, chủ quan của các đối tƣợng cần nghiên cứu. 5 Về mặt thực tiễn: Luận văn đi sâu phân tích đánh giá tính chính trị trong việc phân bổ ngân sách nhà nƣớc đối với một số lĩnh vực, từ đó làm căn cứ thực tiễn để hình thành những quan điểm và nhận thức về vấn đề chi tiêu công trong nền kinh tế quốc dân. Kết quả nghiên cứu của Luận văn là tài liệu tham khảo cho việc đƣa ra các quyết định chi tiêu từ đồng vốn ngân sách nhà nƣớc, để phù hợp với đặc trƣng, đặc điểm của chính trị ở nƣớc ta hiện nay. Đây cũng là tài liệu tham khảo, phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy. 7. Kết cấu của luận văn Kết cấu của Luận văn gồm: Phần mở đầu; nội dung; kết luận; danh mục tài liệu tham khảo. Phần nội dung của Luận văn gồm ba chƣơng. Chương 1: Một số lí luận chung về chính trị, kinh tế và ngân sách nhà nƣớc. Chương 2: Mối quan hệ giữa chính trị và vấn đề phân bổ ngân sách nhà nƣớc ở việt nam hiện nay Chương 3: Những yêu cầu tiếp tục hoàn thiện sự lãnh đạo chính trị với vấn đề phân bổ ngân sách nhà nƣớc ở việt nam trong thời gian tới./. 6 Chƣơng 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH TRỊ, KINH TẾ VÀ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1.1. Lý luận chung về chính trị 1.1.1. Khái niệm về chính trị Chính trị là một trong bốn lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội (gồm: kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội), đó là lĩnh vực bao hàm những quan hệ, hiện tƣợng, những hình thức, khía cạnh rất đa dạng, phức tạp. Ở mỗi khía cạnh, mỗi hình thức biểu hiện của nó thƣờng dẫn tới mộc cách cảm nhận, cách hiểu tƣơng ứng về chính trị. Khó thống kê đƣợc hết những cách hiểu, định nghĩa nhƣ thế về chính trị, bản chất của chính trị là gì? Vấn đề trung tâm then chốt nhất của nó là gì? Và kết cấu của nó ra sao? .... Thuật ngữ “chính trị” - “politic”(tiếng anh), “politique”(tiếng pháp) - trong các ngôn ngữ phƣơng Tây đều đƣợc cấu tạo từ cung gốc chung có xuất xứ trong tiếng Hy Lạp cổ đại - “politika”. Khởi thuỷ chữ politika có nghĩa: những công việc nhà nƣớc hay những công việc xã hội. Cho đến nay, thuật ngữ “chính trị” còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau. Thứ nhất, theo một số quan điểm ngoài Mác-xít, có rất nhiều cách hiểu về chính trị: “Chính trị là công việc nhà nƣớc, công việc xã hội”; “chính trị là nghệ thuật cai trị” (Platon: nền cộng hòa); “chính trị là khoa học lãnh đạo con ngƣời, khoa học tổ chức xã hội” (Arixtot: chính trị); “chính trị là khát vọng tham gia vào quyền lực” (M.Vâybe); “chính trị là sự phân phối có thẩm quyền các giá trị” (học thuyết Weber của David Easton): quan niệm này tạo ra khuynh hƣớng nghiên cứu chính trị tập trung vào nhà nƣớc, đặc biệt là vai trò, trách nhiệm và hoạt động của chính phủ, các chính đảng, các cơ quan nhà nƣớc nhƣ bộ máy hành chính, quân đội, cảnh sát và các cá nhân hoạt động trong bộ máy đó; “chính trị là sự dung hòa các đòi hỏi chính đáng về phân phối hàng hóa và dịch vụ” (Bernard Crick - Anh): quan niệm này cho rằng chính trị là một hoạt động thông qua đó các tập thể cùng chung một số quyền lợi đƣợc hòa giải bằng cách chia cho họ một phần quyền lực 7 tƣơng xứng với tầm quan trọng của họ đối với sự tồn vong và lợi ích của cả cộng đồng, và theo tác giả này, chính trị là điều tốt, bởi vì không có chính trị thì xã hội sẽ phát triển theo hƣớng độc tài, chuyên chế; “chính trị là ai đƣợc gì, bao giờ và bằng cách nào” (Harold Lasswell): quan niệm này tập trung vào hoạt động hơn là vị trí của chính trị quyết định tính chất chính trị của một nhóm hay tổ chức, đồng thời cho rằng hầu hết các nhóm, không chỉ là các cơ quan nhà nƣớc khi tham gia hoạt động chính trị là đang tìm câu trả lời cho câu hỏi này. Thứ hai, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-xít: Karl Marx (1818-1883) là một trong những đại diện tiêu biểu cho quan điểm cho rằng chính trị thuộc lĩnh vực “quyền lực” và vấn đề là ở chỗ quyền lực không đƣợc phân phối đồng đều giữa các tầng lớp xã hội khác nhau. Chính sự phân phối không bình đẳng này đã gây nên xung đột và đấu tranh giai cấp (giữa giai cấp tƣ sản, hay giai cấp sở hữu tƣ liệu sản xuất, và giai cấp vô sản, hay giai cấp lao động). Theo Marx, chính trị là một quá trình mà qua đó các giai cấp có xung đột về quyền lợi đấu tranh để giành lấy, nắm giữ hoặc gây ảnh hƣởng quyền lực nhà nƣớc. Đối với Marx, chính trị là xấu xa, không tốt đẹp. Từ đó ông cho rằng, để có đƣợc cuộc sống tốt đẹp hơn, chúng ta phải tiến tới thủ tiêu mọi giai cấp và tiến tới một xã hội không giai cấp, tức là loại bỏ chính trị ra khỏi đời sống của con ngƣời, vì chính trị là biểu hiện của xung đột giai cấp, nên nếu không còn giai cấp nữa thì cũng sẽ không còn nhà nƣớc, và chính trị cũng sẽ biến mất. Nói một cách khác, học thuyết của Marx chủ trƣơng xây dựng một xã hội không có chính trị. Những luận điểm của V.I. Lênin về chính trị: “Chính trị là sự tham gia vào công việc của nhà nƣớc, là sự định hƣớng cho nhà nƣớc, xác định các hình thức, nhiệm vụ và nội dung hoạt động của nhà nƣớc”; “Chính trị là lợi ích, là quan hệ lợi ích giữa các giai cấp”; “Chính trị là sự tham gia của nhân dân vào các công việc nhà nƣớc”; “Cái căn bản nhất của chính tri là việc tổ chức chính quyển nhà nƣớc”; “Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế”; “Chính trị vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật”. Về bản chất của chính trị, chủ nghĩa Mác-xít cho rằng: chính trị là quan hệ về lợi ích giữa các giai cấp, các nhóm xã hội, các quốc gia dân tộc, trong đó trƣớc hết và cơ bản là lợi ích kinh tế. Về trung tâm then chốt trực tiếp nhất trong chính trị là 8 vấn đề quyền lực chính trị (tập trung ở quyền lực nhà nƣớc). Đó là công cụ cơ bản nhất để định đoạt quan hệ với các giai cấp, các nhóm xã hội, theo hƣớng có lợi cho lực lƣợng nắm quyền. Bách khoa toàn thƣ triết học (của Liên Xô) viết: Chính trị là những công việc nhà nƣớc, là phạm vi hoạt động gắn với những quan hệ giai cấp, dân tộc và các nhóm xã hội khác nhau mà hạt nhân của nó là vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nƣớc [11,10]. Từ đó, ta có thể đƣa ra khái niệm tổng quát về chính trị: “Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, các lực lƣợng xã hội trong việc giành, giữ, và thực thi quyền lực nhà nƣớc” [14,7]. Chúng ta nhận thấy: chính trị là quá trình bao gồm tranh luận, quyết định, xung đột và (hoặc) hợp tác giữa các cá nhân, nhóm và tổ chức đối với sự chi phối, kiểm soát, phân phối và sử dụng các nguồn tài nguyên, cũng nhƣ các giá trị và tƣ tƣởng làm nền tảng cho các hoạt động đó. Qua đó, ta thấy chính trị có các đặc trƣng sau: + Quan hệ chính trị về bản chất là quan hệ giai cấp: chính trị chỉ xuất hiện trong xã hội có giai cấp; lợi ích của các giai cấp quy định nội dung, đặc điểm, bản chất, xu hƣớng vận động của chính trị. + Nhà nƣớc là bộ phận trung tâm của chính trị: cái căn bản của chính trị là tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nƣớc. + Chính trị (với tƣ cách yếu tố thuộc kiến trúc thƣợng tâng) đều bị quy định bởi quan hệ kinh tế, trong đó quan trọng (trực tiếp) nhất là các lợi ích kinh tế. + Chính trị là lĩnh vực nhạy cảm: phạm vi tác động của chính trị rộng (số đông). + Chính trị “vừa là khoa học vửa là nghệ thuật”: i/ Khoa học – có tri thức chính trị = nắm và vận dụng đúng quy luật của đời sống chính trị; ii/ Nghệ thuật – có kinh nghiệm, trải nghiệm, nhạy cảm chính trị. Cấu trúc của chính trị bao gồm nhiều thành phần đặt trong mối quan hệ cụ thể, hoạt động hài hòa và ổn định. Có nhiều cách hiểu về cấu trúc của chính trị có sự khác nhau, nhƣ: Cách hiểu thứ nhất, gồm: Lợi ích chính trị; tổ chức chính trị; hoạt động chính trị; ý thức chính trị; quan hệ chính trị. Cách hiểu thứ hai, gồm: Quyền lực chính trị; thể chế chính trị; chính sách. 9 Cho đến nay, chính trị có một số chức năng chính nhƣ sau: + Tổ chức, quản lý, điều tiết các quá trình xã hội (các mâu thuẫn, xung đột), thực hiện sự đối thoại giữa công dân và nhà nƣớc. + Thể hiện, kiểm soát, phân bổ quan hệ lợi ích của các giai cấp, nhóm, tầng lớp xã hội. + Đảm bảo tính chỉnh thể, sự ổn định và trật tự của hệ thống xã hội. + Xã hội hoá cá nhân, hình thành tính tích cực xã hội, tính chủ động của con ngƣời - công dân. Đảm bảo sự phát triển của xã hội và con ngƣời. + Điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia, các dân tộc, giữa con ngƣời với tự nhiên. Vì chính trị là lĩnh vực rộng, phức tạp có tác động đến mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội có giai cấp, mối quan hệ của chính trị với một số lĩnh vực của đời sống xã hội đƣợc thể hiện qua sơ sơ đồ sau: Kinh tế Đạo đức Chính trị Văn hóa Luật pháp Hệ tƣ tƣởng Tôn giáo Sơ đồ số 1: Mối quan hệ với một số lĩnh vực của đời sống xã hội Đời sống chính trị là chính trị đƣợc biểu hiện trên thực tế ở một giai đoạn lịch sử, gắn với một xã hội nhất định. Đời sống chính trị - bầu không khí chính trị tác động đến mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội. Tạo đƣợc đời sống chính trị lành mạnh là điều kiện tiên quyết thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển và ngƣợc lại. Động lực của đời sống chính trị là lợi ích và vai trò của quần chúng nhân dân lao động. 1.1.2. Quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước Chính trị học là khoa học đấu tranh cho quyền lực chính trị, là khoa học về giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị. Song quyền lực chính trị chỉ xuất hiện 10 và tồn tại khi xã hội có sự phân chia thành các giai cấp và đấu tranh giai cấp, còn quyền lực là quan hệ khách quan trong đời sống xã hội, đã xuất hiện cùng với loài ngƣời đƣợc tổ chức thành xã hội và sẽ tồn tại cùng với đời sống xã hội. Quyền lực là quan hệ tất yếu, khách quan khi con ngƣời sống thành cộng đồng: mọi ngƣời tƣơng tác, phụ thuộc, cố kết với nhau thành cộng đồng → cần có hành động thống nhất, đƣợc tổ chức lại, quyền lực xuất hiện với tƣ cách là nhân tố đảm bảo cho những hoạt động chung, thống nhất, có hƣớng của cộng đồng. Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quyền lực (một số nhà nghiên cứu cho rằng có thể có đến hàng chục định nghĩa). Sau đây là một số định nghĩa tiêu biểu: B. Russel (Anh): “quyền lực là khả năng tạo ra những sản phẩm một cách có chủ ý”. Robert Dah (Mỹ): “quyền lực là cái mà nhờ đó buộc ngƣời khác phải phục tùng”. Lebi Clipson (Mỹ): “ quyền lực là khả năng đạt tới kết quả nhờ hành động phối hợp”. A. Toffler (Mỹ): “lực là cái buộc ngƣời khác phải hành động theo ý mình”. Từ điển “Bách khoa triết học Liên Xô”: “Quyền lực là khả năng thực hiện ý chí của mình có tác động đến hành vi của ngƣời khác nhờ một phƣơng tiện nào đó nhƣ uy tín, sức mạnh”. Tập bài giảng Chính trị học: “Quyền lực là mối quan hệ giữa các chủ thể hành động của đời sống xã hội, trong đó chủ thể này có thể chi phối hoặc buộc chủ thể khác phải phục tùng ý chí của mình nhờ sức mạnh, vị thế nào đó trong xã hội” [14,237]. Từ đó, có thể định nghĩa tổng quát: “Quyền lực là khả năng buộc ngƣời khác phải hành động theo ý chí cuả mình” Trong những định nghĩa trên chúng ta thấy nổi lên một số đặc điểm chủ yếu sau đây của quan hệ quyền lực: Thứ nhất, quan hệ quyền lực bao giờ cũng là quan hệ chủ thể (A – chủ thể chi phối) và chủ thể (B – chủ thể bị chi phối), nhƣng đó không phải là mọi quan hệ giữa (A) và (B) đều là quan hệ quyền lực, mà phải là những tác động điều chỉnh, bắt buộc, cƣỡng chế đối với hành vi của ngƣời khác. (A) và (B) có thể là một ngƣời, một nhóm ngƣời, giai cấp, liên minh giai cấp. Thứ hai, những yếu tố tạo nên sức mạnh (nguồn gốc) của chủ thể quyền lực: + Rất đa dạng tùy thuộc loại quan hệ xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa, đạo đức, tôn giáo....), tính chất của các quan xã hội (xã hội nguyên thủy, xã hội chiếm 11 hữu nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tƣ bản...), trình độ phát triển xã hội (xã hội tiền công nghiệp, công nghiệp, hậu công nghiệp). + Ngoài ra quyền lực của cá nhân có thể bị quy định bởi những nhân tố khác nhƣ: thể lực, trí tuệ, tiền của, chủng tộc, dòng dõi, tuổi tác, văn hóa.... + Trong xã hội có giai cấp những nhân tố sau đây thƣờng đƣợc chú ý: luật pháp, uy tín, ý chí hay bạo lực. Thứ ba, phƣơng thức đạt quyền lực: có nhiều nhƣng 02 phƣơng thức sau đƣợc xem là chủ yếu: + Dùng sức mạnh bắt buộc ngƣời khác phục tùng + Dụ dỗ, thuyết phục, mua chuộc... Thứ tƣ, dấu hiệu cơ bản của quyền lực: sức mạnh cƣỡng chế dựa nhờ sử dụng những phƣơng tiện thực hiện quyền lực (trừng phạt, áp đặt đối với ngƣời khác) (Những phƣơng tiện thực hiện quyền lực bao gồm: những thủ đoạn, truyền thống, sự thuyết phục, sự cƣỡng chế, uy tín, luật pháp, sử dụng bạo lực trực tiếp,....). Quyền lực chính trị: Một số quan niệm khá phổ biến về quyền lực chính trị, nhƣ: Quyền lực chính trị = quyền lực nhà nƣớc; quyền lực chính trị = quyền lực công cộng; quyền lực chính trị = khả năng áp đặt và thực thi các giải pháp phân bổ giá trị có lợi cho một giai cấp; ... Nhƣng các quan niệm này đều có những điểm bất hợp lý. Định nghĩa quyền lực chính trị: là quyền lực của một giai cấp hay liên minh giai cấp để thực hiện sự thống trị chính trị trên cơ sở thực hiện chức năng công quyền, cơ bản bằng quyền lực nhà nƣớc, là năng lực áp đặt và thực thi các giải pháp phân bổ giá trị xã hội có lợi cho giai cấp mình và đảm bảo mức độ nhất định sự công bằng xã hội. Đặc trƣng cơ bản của quyền lực chính trị: Một là, quyền lực chính trị - tất yếu khách quan trong các xã hội có giai cấp: điều này đƣợc lý giải trong tƣơng quan với tính khách quan của các quan hệ giai cấp trong xã hội có giai cấp. Hai là, quyền lực chính trị bao giờ cũng mang tính giai cấp: đây đƣợc coi là đặc trƣng bản chất của quyền lực chính trị vì: theo nguyên tắc của lý thuyết hình thái kinh tế - xã hội, của lý thuyết về giai cấp của chủ nghĩa Mác – Lênin thì tƣơng 12 ứng với mỗi hình thái kinh tế xã hội bao giờ cũng có quan hệ giai cấp nhất định với tƣ cách là sản phẩm của phƣơng thức sản xuất, trong đó giai cấp thống trị về kinh tế sẽ thống chị về chính trị, sẽ giành ƣu thế trong các phân bổ giá trị và lợi ích. Ba là, quyền lực chính trị trong xã hội là quyền lực của giai cấp, tầng lớp và nhóm xã hội thống trị về kinh tế: áp đặt và thực hiện phân bổ giá trị đối theo hƣớng có lợi cho giai cấp, nhóm, tầng lớp thống trị; sự hiện diện của nhóm ngƣời đặc biệt, của tầng lớp chuyên gia có thể thực hiện công việc quản lý và thực hiện ý chí quyền lực; chuẩn bị, thông qua và hiện thực hoá các quyết định chính trị v.v. Bốn là, quyền lực chính trị thể hiện tƣơng quan giữa lợi ích của giai cấp thống trị và lợi ích của toàn xã hội (công bằng xã hội): điều này thể hiện chủ yếu qua vai trò của quyền lực nhà nƣớc trong quyền lực chính trị. Năm là, quyền lực chính trị phải đƣợc tập trung đủ mức và đƣợc kiểm soát: tập trung đủ mức là điều kiện tiên quyết để quyền lực đƣợc thực thi; kiểm soát là yêu cầu để tránh hiện tƣợng bộ phận nắm quyền lực nhà nƣớc tiếm quyền nhằm biến quyền lực nhà nƣớc, quyền lực công thành công cụ phục vụ cho nhóm cầm quyền. Bản chất của quyền lực chính trị là phản ánh quan hệ giữa các giai cấp trong việc giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nƣớc. Song vấn đề đấu tranh cho quyền lực chính trị, giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị còn là quan hệ giữa các lực lƣợng xã hội, giữa các chủng tộc, giữa các dân tộc quốc gia trên trƣờng quốc tế, giữa tôn giáo và chính quyền; thậm chí, đó còn là vấn đề nội bộ của một giai cấp, một chính đảng. Dĩ nhiên, sự biểu hiện phong phú, phức tạp ấy vẫn do cái trục cơ bản chi phối - quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp. Đặc điểm chủ yếu của quyền lực chính trị: Quyền lực chính trị bao giờ cũng mang tính giai cấp; là sự lãnh đạo của giai cấp, tầng lớp và nhóm xã hội thống trị về kinh tế; quyền lực chính trị thể hiện khả năng sử dụng bạo lực có tổ chức trấn áp giai cấp khác; ... Chức năng quyền lực chính trị bao gồm: Thiết lập hệ thống chính trị của xã hội; tổ chức đời sống chính trị; quản lý công việc nhà nƣớc và xã hội; lãnh đạo các cơ quan quyền lực và các hoạt động chính trị; kiểm soát các quan hệ chính trị và các quan hệ khác 13 Quyền lực chính trị trong một xã hội là quyền lực của giai cấp, lực lƣợng xã hội giữ địa vị thống trị về kinh tế (sâu xa là quan hệ sở hữu). Điều này phản ánh mục tiêu thực chất của quyền lực chính trị là nhằm thiết lập, duy trì một trật tự bảo vệ và phát triển các lợi ích mà căn bản và trƣớc hết là lợi ích kinh tế cho giai cấp, lực lƣợng xã hội nắm quyền. Đồng thời nó cũng thể hiện một quy luật là: giai cấp nào thống trị về kinh tế sớm muôn sẽ thống trị về chính trị và nếu một giai cấp, lực lƣợng xã hội đã làm chủ về quyền lực chính trị mà không xây dựng và giữ đƣợc địa vị chủ đạo về kinh tế thì sớm muộn cũng sẽ không thể duy trì đƣợc quyền lực chính trị. Chủ thể quyền lực chính trị là các giai cấp, các lực lƣợng, cá nhân, các tổ chức có mục tiêu và có khả năng trực tiếp hoặc tham gia vào quá trình giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị. Chủ thể quyền lực chính trị có tính lịch sử cụ thể: ra đời, thay đổi phụ thuộc vào sự phát triển của đời sống chính trị; mặt khác, đời sống chính trị/ nền chính trị có nhiều chủ thể quyền lực chính trị khác nhau. Những nhân tố đảm bảo giành, giữ, thực thi quyền lực chính trị: Một là, có đƣờng lối, chính sách đúng: tức là xác định đúng mục tiêu chính trị; con đƣờng đạt mục tiêu; lực lƣợng thực hiện; giải pháp cơ bản; sách lƣợc phù hợp; đảm bảo mục tiêu giai cấp phù hợp với mục tiêu xã hội với xu thế thời đại; phù hợp với đặc điểm lịch sử, văn hóa dân tộc... Hai là, phải có hệ thống tổ chức: Đảng chính trị vững mạnh; Xây dựng hệ thống nhà nƣớc; Các tổ chức chính trị quần chúng. Ba là, tuyển lựa đƣợc những con ngƣời chính trị: ngƣời đứng đầu; đội ngũ hoạt động chính trị có năng lực, phẩm chất; tính tích cực của quần chúng. Bốn là, có quyết định chính trị, phƣơng thức và nghệ thuật hoạt động chính trị đúng. Nhà nước: Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-LêNin cho rằng: Nhà nƣớc là một phạm trù lịch sử có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong. Nhà nƣớc nảy sinh từ trong đời sống xã hội, xuất hiện khi xã hội loài ngƣời phát triển đến một trình độ nhất định [26,19]. 14 Tại tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tƣ hữu và của Nhà nƣớc”, Ph.Awngghen cho rằng: Nhà nƣớc là bộ máy trấn áp của giai cấp này đối với giai cấp khác. Đối với tất cả ngƣời dân sống trên lãnh thổ rộng lớn, thì nhà nƣớc đóng vai trò là mối liên hệ để gắn kết họ lại với nhau và đồng thời Nhà nƣớc trở thành kẻ áp bức, bóc lột họ. Nhà nƣớc ra đời nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, mà trƣớc tiên, cơ bản là lợi ích kinh tế, trấn áp sự phản kháng của các giai cấp khác [22,89]. Nhƣ vậy, nhà nƣớc xuất hiện một cách khách quan, là sản phẩm của một xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định. Nhà nƣớc không phải là một quyền lực từ bên ngoài áp đặt vào xã hội mà là một lực lƣợng nảy sinh từ xã hội. Từ đó, có thể đƣa ra định nghĩa về Nhà nƣớc nhƣ sau: Nhà nƣớc là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cƣỡng chế và thực hiện chức năng quản lý nhằm duy trì trật tự xã hội, bảo về địa vị và lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp [26,27]. Quyền lực nhà nước: Dƣới nhiều cách tiếp cận khác nhau, đã có nhiều quan niệm về quyền lực nhà nƣớc. Nhiều ngƣời thƣờng cho rằng, quyền lực nhà nƣớc là quyền lực chính trị của giai cấp thống trị đƣợc thực hiện bằng Nhà nƣớc. Một điều hiển nhiên là, Nhà nƣớc và giai cấp thống trị mặc dù có liên quan mật thiết với nhau nhƣng chứng là những thực thể xã hội khác nhau, mỗi thực thể đều có quyền lực riêng. Quyền lực của giai cấp thống trị tồn tại trong quan hệ giữa nó với các giai cấp, tầng lớp khác; giữa nó với các tổ chức do giai cấp đó lập ra. Trong khi đó, quyền lực nhà nƣớc tồn tại trong quan hệ giữa Nhà nƣớc và các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Có quan điểm lại cho rằng, quyền lực nhà nƣớc là quyền lực của giai cấp thống trị đƣợc thực hiện bằng nhiều công cụ khác nhau của một hệ thống chuyên chính do giai cấp đó lập ra [15,13]. Xuất phát từ các cách hiểu trên, chúng ta có thể đƣa ra khái niệm: “Quyền lực nhà nƣớc là khả năng của Nhà nƣớc để buộc các cá nhân, tổ chức trong xã hội phải phục tùng Nhà nƣớc” [15,14]. 15
- Xem thêm -