Nội dung và nghệ thuật thanh hiên thi tập của nguyễn du

  • Số trang: 81 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 12 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

ƯỜ NG ĐẠ Ơ TR TRƯỜ ƯỜNG ĐẠII HỌC CẦN TH THƠ ÂN VĂN KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NH NHÂ Ữ VĂN BỘ MÔN NG NGỮ ÙY LAM MAI TH THỊỊ TH THÙ MSSV: 6106400 NỘI DUNG VÀ NGH Ệ THU ẬT NGHỆ THUẬ ÊN THI TẬP CỦA NGUY ỄN DU THANH HI HIÊ NGUYỄ Lu Luậận văn tốt nghi nghiệệp đạ đạii học Ng ữ Văn Ngàành Ng Ngữ ng dẫn: ThS. TẠ ĐỨ C TÚ Cán bộ hướ ướng ĐỨC ơ, năm 2013 Cần Th Thơ 0 NG TỔNG QU ÁT ĐỀ CƯƠ ƯƠNG QUÁ ẦN MỞ ĐẦ U PH PHẦ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 2. Lịch sử vấn đề 3. Mục đích, yêu cầu 4. Phạm vi nghiên cứu 5. Phương pháp nghiên cứu ẦN NỘI DUNG PH PHẦ ƯƠ NG 1. NH ỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CH CHƯƠ ƯƠNG NHỮ 1.1 Sơ lược văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX 1.1.1 Tình hình văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX 1.1.2 Vị trí của chữ Hán trong sáng tác văn chương giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX 1.2 Về tác gia Nguyễn Du 1.2.1 Vài nét về cuộc đời 1.2.2 Sự nghiệp sáng tác 1.3 Về tập thơ Thanh Hiên thi tập CH ƯƠ NG 2. NỘI DUNG THANH HI ÊN THI TẬP CHƯƠ ƯƠNG HIÊ 2.1 Cuộc sống xa quê hương, vất vả, bệnh tật và những triết lí về sự sống, mong muốn hành lạc, thoát tục 2.1.1 Cuộc sống xa quê hương, vất vả, bệnh tật với cái nghèo đeo đẳng 2.1.2 Triết lí sự sống đời người và mong muốn hành lạc, thoát tục 2.2 Tâm sự của Nguyễn Du qua tập thơ 1 2.2.1 Tâm sự của người lo âu, đau buồn khi công nghiệp chưa thành mà đầu đã bạc 2.2.2 Nỗi nhớ quê hương da diết 2.2.3 Sự thông cảm, thấu hiểu số phận con người tài hoa 2.3 Hình ảnh thiên nhiên mang tâm trạng con người CH ƯƠ NG 3. NGH Ệ THU ẬT THANH HI ÊN THI TẬP CHƯƠ ƯƠNG NGHỆ THUẬ HIÊ 3.1 Hình tượng nghệ thuật trong thơ 3.2 Thời gian nghệ thuật 3.3 Không gian nghệ thuật 3.3.1 Không gian sinh hoạt, hoạt động 3.3.2 Không gian lữ thứ, lưu lạc 3.4 Ngôn ngữ 3.4.1 Ngôn ngữ trong câu 3.4.2 Cách sử dụng hư từ và từ xưng hô độc đáo ẦN KẾT LU ẬN PH PHẦ LUẬ ỆU THAM KH ẢO TÀI LI LIỆ KHẢ MỤC LỤC 2 ẦN MỞ ĐẦ U PH PHẦ ĐẦU ọn đề tài 1. Lí do ch chọ Nguyễn Du là nhà thơ của thế kỉ XVIII, tác giả của cuốn truyện thơ Nôm nổi tiếng – Truyện Kiều. Đi vào lòng người đọc bằng những vần thơ dân tộc, Nguyễn Du chiếm một vị trí quan trọng trên thi đàn văn học Việt Nam, là một trong những đại thi hào cổ điển Việt Nam. Ngoài tác phẩm Đoạn Trường tân thanh ông vẫn còn nhiều sáng tác khác, đặc biệt là mảng sáng tác thơ bằng chữ Hán. Nếu Truyện Kiều là kiệt tác văn chương kết tinh từ những tinh hoa văn hóa và truyền thống dân tộc thì thơ chữ Hán lại là những vần thơ chân thành về cuộc đời của nhà thơ. Vậy mà gần như người ta không nhớ đến nó, không nghĩ về nó, có thể gì chữ Hán không phải là chữ của người Việt và sự thật có rất ít người biết chữ Hán, ngoại trừ các sĩ tử, vua quan ngày trước. Thực tế, thơ chữ Hán Nguyễn Du thật đáng để ta quan tâm, với ba tập thơ chữ Hán ở đây xin nói về Thanh Hiên thi tập. Thanh Hiên thi tập là một trong ba tập thơ chữ Hán, chiếm 78 bài thơ trong 249 bài thơ chữ Hán (tính chung ba tập). Đúng với tính chất ở ba tập giọng thơ chủ đạo là buồn nhưng cái buồn không gây nhàm chán cho người đọc và cái buồn ấy đáng để cho chúng ta xem xét tìm hiểu nhiều vấn đề. Thanh Hiên thi tập là cảm xúc tự thán của nhà thơ, những lời tâm tình làm xao động lòng người, không phải và không cần biết nhiều về chữ Hán mà chúng ta vẫn có thể đọc nó ở phần dịch thơ cũng có thể thấu hiểu nỗi đau thiên tài. Hoàn cảnh thời đại chi phối con người rất lớn Nguyễn Du cũng vậy, trong Thanh Hiên thi tập chúng ta bắt gặp vô số những lần ông buồn thương, tiếc nhớ, chán chường bằng cách riêng của mình ông đã đưa nó vào thơ để những nỗi niềm hòa tan vào từng từ ngữ và dâng khắp tập thơ. Tuy vậy, ông vẫn giữ đúng những niêm luật, quy phạm trong thơ chữ Hán, nhà thơ ấy không để lòng mình làm xáo trộn thơ văn mà lời tâm sự của ông vẫn đi vào thơ rất tự nhiên, nhẹ nhàng mà đầy tinh tế, không có sự gò ép, vi phạm nào. Nguyễn Du từng thốt lên trong bài thơ Độc Tiểu Thanh kí: Bất tri tam bách dư niên hậu Thiên hạ hà nhân khắp Tố Như? (Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa, 3 Người đời ai khóc Tố Như chăng?) Không đợi đến ba trăm năm, hậu thế đã khóc vì Nguyễn Du, khóc rất nhiều, họ khóc vì nàng Kiều có cuộc đời đau khổ, khóc cho nàng Tiểu Thanh có số phận ngắn ngủi, khóc cho thân phận nhân tài. Không ít những công trình nghiên cứu, những con người miệt mài tìm lại sáng tác của ông, tuy nhiên chủ yếu là những công trình về tác phẩm Truyện Kiều. Bài nghiên cứu của chúng tôi chọn đề tài là Nội dung và nghệ thuật trong Thanh Hiên thi tập của Nguyễn Du với mong muốn nhắc cho hậu thế đừng mải mê đi trau chuốt về mỗi Thúy Kiều mà quên đi Nguyễn Du còn cả thơ chữ Hán, đặc biệt là Thanh Hiên thi tập, tập thơ đáng được trân trọng, gìn giữ, thông qua đó nói lên sự quan tâm của con người hiện tại cũng như tấm lòng của hậu thế đó với nhà thơ thiên tài này. 2. Lịch sử vấn đề Nguyễn Du một trong những trụ cột của thơ ca trung đại Việt Nam, người có cống hiến to lớn cho sự sáng tạo và phát triển ngôn ngữ dân tộc, người để lại đỉnh cao với kiệt tác Truyện Kiều và các sáng tác bằng chữ Hán đồ sộ. Trong những năm qua, những người nghiên cứu, khảo sát tìm hiểu các tác phẩm của Nguyễn Du không phải là ít, nhưng việc tìm hiểu thơ chữ Hán thì còn chậm và rất ít. Mặc dù vậy, mỗi công trình nghiên cứu về thơ chữ Hán của Nguyễn Du đều đã đưa ra những vấn đề lớn mang tầm khái quát, các công trình nghiên cứu có liên quan đến tập Thanh Hiên vẫn ít ỏi có thể kể đến: n với th ơ ch ữ Hán Nguy Cuốn Đế Đến thơ chữ Nguyễễn Du do Ngô Viết Dinh tuyển chọn và biên tập với suy nghĩ “Nếu chúng ta không đến với thơ chữ Hán Nguyễn Du và Văn Chiêu hồn thì ta tự làm nghèo hồn mình ở phía cánh bướm cụ Tiên Điền đã bỏ hoa vào nằm nghiêng trong sách đang lật mở nói cùng ta… như tri âm tri kỉ” [10; tr. 6]. Công trình từ nhiều tác giả này là một trong những đóng góp quan trọng có liên quan đến Thanh Hiên thi tập, đặc biệt về mặt nội dung. ơ cổ điển Vi Cuốn Ba nh nhàà th thơ Việệt Nam của Xuân Diệu, nhắc đến tác giả Nguyễn Du với các tập thơ chữ Hán, công trình nêu rõ ý nghĩa của mảng thơ chữ Hán của nhà thơ và việc tìm hiểu nhà thơ Nguyễn Du qua các sáng tác bằng chữ Hán. Cuốn Nguy Nguyễễn Du tác gi giảả và tác ph phẩẩm với một số bài viết có liên quan đến tập thơ Thanh Hiên: 4 ơ ch ữ Hán của Hoài Thanh, người Tâm tình Nguy Nguyễễn Du qua một số bài th thơ chữ nghiên cứu đã dẫn dắt chúng ta đi vào thơ chữ Hán Nguyễn Du qua những bài thơ tiêu biểu chủ yếu lấy từ tập Thanh Hiên, Hoài Thanh không có những nhận xét riêng về thơ chữ Hán mà muốn “tìm Tố Như để thấy Nguyễn Du, để soi vào văn Kiều và Văn Chiêu Hồn; yêu thương quốc văn, yêu thương những tài tử lớn, họ vượt qua những hạn chế của thời đại cũ, đóng góp tiếng nói lớn cho dân tộc Việt Nam, cho nhân loại như Nguyễn Du.” [11; tr. 61] ới nh ơ ch ữ Hán của Công trình Nguy Nguyễễn Du và th thếế gi giớ nhâân vật của ông trong th thơ chữ Nguyễn Huệ Chi người nghiên cứu đã đi vào từng nhân vật của Nguyễn Du, có người hát rong, có ca kĩ, những quan lại… và cả bản thân Nguyễn Du dựa trên những cơ sở đó để khẳng định “Thơ Nguyễn Du luôn luôn vang lên âm thanh, bừng lên màu sắc của sự sống, hằn lên những đường nét sắc cạnh của bức tranh hiện thực đa dạng. Và giữa những âm thanh, màu sắc đường nét vô cùng phong phú đó, con người nhà thơ sẽ hiện ra: vừa dạt dào yêu thương vừa bừng bừng căm giận. Đấy là chỗ đặc sắc và cũng là chỗ tích cực nhất trong nghệ thuật của Nguyễn Du, từ thơ chữ Hán đến Truyện Kiều, nó tạo nên cái sức sống kì lạ của hầu hết tác phẩm của ông mà ngày nay chúng ta vẫn đọc mải mê không biết chán.” [1; tr. 88] ơ ch ữ Hán Nguy Công trình Th Thơ chữ Nguyễễn Du của Mai Quốc Liên là công trình tập thơ nghiên cứu cả phần nội dung và nghệ thuật từ ba tập thơ chữ Hán. Tác giả khẳng định giá trị mà thơ chữ Hán mang lại: “Thơ chữ Hán Nguyễn Du là áng văn chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vô tận về ý nghĩa. Nó mới lạ và độc đáo trong một nghìn năm thơ chữ Hán của ông cha ta đã đành, mà cũng độc đáo so với thơ chữ Hán của Trung Quốc nữa” [11; tr. 130] ơ ch ữ Hán của Trương Chính, công Công trình Tâm sự của Nguy Nguyễễn Du qua th thơ chữ trình tìm hiểu về Nguyễn Du không phải chỉ dựa vào gia phả mà còn dựa vào những bài thơ chữ Hán của ông, khẳng định sự tinh tế trong sáng tác văn chương của tác giả, thái độ Nguyễn Du đối với các triều đại và những nỗi niềm không bày tỏ cùng ai. ững bài th ơ ch ữ Hán của Đào Xuân Qúy, người nghiên Nguy Nguyễễn Du trong nh nhữ thơ chữ cứu đã đưa ra những ý kiến của mình về phần thơ chữ Hán Nguyễn Du thông qua một số bài thơ cụ thể để khẳng định: “Thơ Nguyễn Du không phải là một loại thơ thù tạc, tiêu khiển. Thơ Nguyễn Du là tất cả tâm hồn và tư tưởng của người. Vì vậy, người đọc 5 Nguyễn Du cũng không thể hời hợt, chỉ một lúc mà mong hiểu được chỗ sâu xa của tác giả, mà bắt buộc phải suy nghĩ, chiêm nghiệm. Và càng chiêm nghiệm, suy nghĩ bao nhiêu lại càng thấy hay, càng thấy thâm thúy bấy nhiêu. Càng đọc Nguyễn Du chúng ta lại càng sung sướng, tự hào mà nhận ra rằng: Có được Nguyễn Du, đó chính là một niềm vui lớn của dân tộc.” [11; tr. 129] ơ ch ữ Hán Nguy Cuốn Đặ Đặcc điểm ngh nghệệ thu thuậật th thơ chữ Nguyễễn Du của Lê Thu Yến là công trình góp phần quan trọng vào việc nghiên cứu nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du. “Thơ chữ Hán Nguyễn Du là một thành tựu rực rỡ song song với Truyện Kiều. 250 bài thơ là kết qủa những suy tư, trăn trở, dặn vặt, bi thiết của cả một đời người. 250 bài thơ còn là một thể nghiệm nghiên túc và độc đáo, những sáng tạo nghệ thuật cho thấy Nguyễn Du có những hướng đi riêng, khác với các nhà văn khác.” [20; tr. 274] Đây là công trình đầu tiên đi sâu vào phân tích nghệ thuật thơ chữ Hán của Nguyễn Du đứng ở góc độ thi pháp học. Công trình mang đến những hiểu biết mới mẻ cho người đọc về những đặc sắc nghệ thuật thi pháp thơ chữ Hán Nguyễn Du. Các công trình trên đây là những nghiên cứu tiêu biểu có liên quan đến Thanh Hiên thi tập riêng về việc nghiên cứu tập thơ này một cách độc lập thì chưa có nghiên cứu nào. ch, yêu cầu 3. Mục đí đích, Nghiên cứu đề tài Nội dung và nghệ thuật Thanh Hiên thi tập của Nguyễn Du chúng tôi hướng tới những mục tiêu: Từ trước đến nay, khi nhắc đến Nguyễn Du người ta thường chỉ nhớ đến Truyện Kiều mà quên đi ông vẫn còn ba tập chữ Hán. Thanh Hiên thi tập là tập thơ chữ Hán đầu tay của Nguyễn Du viết trong những năm lưu lạc tha hương, nó là cuốn nhật kí của nhà thơ. Đi vào tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của tập thơ để làm sáng tỏ những đặc sắc của tập thơ. Tìm hiểu về cách sử dụng chữ Hán và việc sáng tạo ngôn từ của Nguyễn Du để góp phần vào việc nghiên cứu thơ chữ Hán nói riêng, nghiên cứu cách dùng chữ Hán của người Việt xưa nói chung. Đóng góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu tác phẩm của một danh nhân đất Việt. Đồng thời, phục vụ việc học tập và nghiên cứu cho những thế hệ sau, đó cũng là định hướng cho việc nghiên cứu những đề tài về Nguyễn Du và thơ chữ Hán sau này. 6 ạm vi nghi 4. Ph Phạ nghiêên cứu Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi tìm đọc những tác phẩm trong tập Thanh Hiên thi tập, có nhiều bản khác nhau, chúng tôi chọn bản Thơ chữ Hán Nguyễn Du (in lại theo bản 1969) do cụ Lê Thước và Trương Chính chủ biên. Bên cạnh tìm đọc văn bản chính chúng tôi cũng tìm hiểu và nghiên cứu thêm những công trình bài viết có liên quan về nhà thơ, thơ chữ Hán và đặc biệt những bài luận bàn về tập Thanh Hiên thi tập. ươ ng ph áp nghi 5. Ph Phươ ương phá nghiêên cứu Bài nghiên cứu của chúng tôi vận dụng các phương pháp nghiên cứu văn học vào để tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của tập thơ. Bài nghiên cứu vận dụng thường xuyên một số thao tác: Phương pháp phân tích: thao tác này là thao tác được sử dụng nhiều nhất trong bài viết. Việc tìm hiểu để đưa ra những lí lẽ, luận điểm, dẫn chứng ở từng phần để đi sâu vào nội dung và nghệ thuật phần quan trọng nhất của Luận văn. Phương pháp tổng hợp: Sau quá trình phân tích và đưa ra những những dẫn chứng cho lí lẽ, luận điểm của mình chúng tôi sử dụng thao tác tổng hợp để rút ra những nhận định mang tính chất khái quát về hai vấn đề chính về nội dung cũng như nghệ thuật trong Thanh Hiên thi tập của Nguyễn Du mà bài viết muốn làm rõ. Phương pháp liệt kê: Dùng thao tác liệt kê cũng làm một phương pháp rất được quan tâm trong bài viết. Ở đây thao tác này được vận dụng thể hiện liệt kê từng khổ thơ làm dẫn chứng cho quá trình phân tích những luận điểm, đó cũng là những bằng chứng làm thuyết phục người đọc và xem bài viết. 7 ẦN NỘI DUNG PH PHẦ ƯƠ NG 1. NH ỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CH CHƯƠ ƯƠNG NHỮ u th 1.1 Sơ lượ ượcc văn học Vi Việệt Nam nửa cu cuốối th thếế kỉ XVIII nửa đầ đầu thếế kỉ XIX u 1.1.1 Tình hình văn học Vi Việệt Nam nửa cu cuốối th thếế kỉ XVIII nửa đầ đầu th thếế kỉ XIX Thế kỉ XVIII đến thế kỉ XIX là giai đoạn xảy ra mâu thuẫn sâu sắc trong lòng xã hội Việt Nam. Nội chiến giữa hai đàng và các phong trào đấu tranh của nhân dân nổ ra liên tục. Nguyễn Ánh lên ngôi tình hình càng trở nên tệ hơn khi những chính sách của triều đại nhà Nguyễn không hề quan tâm đến nhân dân mà chủ yếu chỉ phục vụ gia tộc. Điều kiện lịch sử đã ảnh hưởng một phần không nhỏ đến văn học Việt Nam, lực lượng sáng tác thời kì này đa dạng, không chỉ là vua quan, kẻ sĩ, mà còn cả tầng lớp bình dân. Các tác giả có thể kể đến là: Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều, Đoàn Thị Điểm, Ngô Gia Văn Phái, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Tự Đức… Nội dung chính của thơ văn thời kì này phê phán chế độ phong kiến suy tàn, chà đạp thân phận con người với những tác phẩm như Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác vẽ lại bức tranh của phủ chúa Trịnh sa hoa lộng lẫy và tất cả những người trong đấy không ai làm gì chỉ lo ăn chơi. Không khí ở đây hoàn toàn khác với sự sống của dân chúng bên ngoài. Các tác phẩm lên tiếng tố cáo chế độ phong kiến thối nát, những người phụ nữ phải xa chồng vì cuộc chiến phi nghĩa, những nàng cung nữ suốt đời bị giam cầm trong cung điện: Mây mưa mấy giọt chung tình Đỉnh trầm hương khóa một cành mẫu đơn. (Cung oán ng ngââm - Nguyễn Gia Thiều) Nội dung thứ hai trong sáng tác thơ văn giai đoạn này là sự thông cảm sâu sắc với những số phận con người. Đặc biệt là thơ chữ Hán Nguyễn Du, tác giả dành cả 8 một phần sáng tác nói về những số phận con người bất hạnh. Truyện Kiều một kiệt tác văn chương Việt Nam, qua tác phẩm này Nguyễn Du đã tố cáo xã hội phong kiến chà đạp lên thân phân người phụ nữ, những số phận con người tài hoa, bạc mệnh. Còn một nội dung cũng quan trọng trong sáng tác giai đoạn này là mảng sáng tác tình yêu và cuộc sống trần tục, với các truyện thơ Nôm nổi tiếng Hoa Tiên, Bích câu kì ngộ, Từ Thức… tình yêu tự do được ca ngợi, phản đối lại hôn nhân thời phong kiến, ủng hộ tình yêu cá nhân. Tình yêu mãnh liệt, trong sáng, táo bạo: Cửa ngoài vội rũ rèm the Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình (Truy (Truyệện Ki Kiềều - Nguyễn Du) Về mặt nghệ thuật, ngôn ngữ sử dụng cho sáng tác giai đoạn này là cả chữ Nôm và chữ Hán, chữ Nôm giai đoạn này chiếm một vị trí quan trọng trong sáng tác văn chương. Các thể thơ, lục bát, song thất lục bát, Đường luật, phú… Văn xuôi chữ Hán, văn tế… đa dạng nhiều thể loại. Đây là giai đoạn lịch sử xảy ra nhiều biến cố. Vấn đề chủ nghĩa nhân đạo trở thành một trong những khuynh hướng chi phối sáng tác văn chương giai đoạn này. Đây cũng là thời kì văn học chống lại những tư tưởng Nho giáo lỗi thời, lạc hậu, lên tiếng bênh vực những con người bị vùi lấp dưới vũng bùn nô lệ, đặc biệt tình yêu cá nhân có được một sự đồng điệu của các tác giả. Thời kì này có nhiều biến cố lịch sử nhưng cũng là thời kì văn học trung đại lên ngôi với những tác phẩm văn học trở thành mẫu mực, có giá trị vĩnh cữu cho nền văn học Việt Nam. ữ Hán trong sáng tác văn ch ươ ng giai đoạn nửa 1.1.2 Vị tr tríí của ch chữ chươ ương u th cu cuốối th thếế kỉ XVIII, nửa đầ đầu thếế kỉ XIX “Chữ Hán là loại chữ đơn âm tiết. Mỗi chữ tương đương với một tiếng, giống tiếng Việt cho nên đơn vị căn bản của chữ Hán là tự (chữ). Chữ ấy được tạo bởi các nét và sắp xếp trong một ô vuông theo trật tự cố định.” [18; tr. 9] Chữ Hán đi vào nước ta với mục đích đồng hóa người Việt của các triều đại Trung Hoa ngày trước, từ lâu nó đã mặc nhiên tồn tại và được dùng chính thức bởi các vua quan, kẻ sĩ những tầng lớp trên thời phong kiến hầu hết người bình dân đều không biết chữ này. Chữ Hán được dùng thi cử, chiếu, biểu của vua quan. Từ lâu, chữ Hán 9 chiếm vị trí độc tôn nhưng người Việt hiển nhiên có tinh thần dân tộc sâu sắc, chữ Hán chỉ là chữ tạm bợ và một nước không thể không có chữ chính thức của nước mình, với những ý nghĩ đó chữ Nôm xuất hiện tuy chỉ là dựa vào văn tự Hán nhưng nó được phổ biến ở dân chúng, người bình dân nhưng không được triều đình chấp nhận nên dù có từ lâu cũng chẳng được dùng đến như chữ Hán, thi cử, cáo thị… vẫn là chữ Hán như trước. Đến giai đoạn nửa cuối XVIII nửa đầu XIX, chữ Hán bị “thất sủng” hơn trước, những bước tiến quan trọng khi vua Quang Trung lên ngôi, cho sử dụng chữ Nôm là chữ chính thức của người Việt. Nhưng sau đó, nhà Nguyễn thắng Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi bãi bỏ những chính sách nhà Tây Sơn chữ Nôm lại quay về vị trí của nó. Mặc dù vậy, chữ Nôm cũng đã có sự phát triển mạnh. Chữ Hán dù ít ai biết nhưng những đóng góp về mặt chữ vẫn hết sức quan trọng, thơ ca của chúng ta chủ yếu là bằng chữ Hán với những sáng tác thơ văn chữ Hán như Đại cáo bình ngô của Nguyễn Trãi, những tác phẩm của vua Lê Thánh Tông… Đến đây, dù chữ Hán đã mai một nhưng còn rất nhiều tác giả biết và sáng tác thơ văn bằng chữ Hán, như thơ chữ Hán của Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Đặng Trần Côn, văn xuôi chữ Hán của Lê Hữu Trác … và đó cũng là những tác phẩm có ý nghĩa hết sức quan trọng về mặt thi ca Việt Nam nói chung, thơ ca thế kỉ XVIII nói riêng. 1.2 Về tác gia Nguy Nguyễễn Du ộc đờ 1.2.1 Vài nét về cu cuộ đờii Nửa đêm qua huyện Nghi Xuân Bâng khuâng nhớ cụ, thương thân nàng Kiều Kính gửi cụ Nguy (K Nguyễễn Du - Tố Hữu) “Cụ” được nhắc đến ở câu thơ trên chính là Nguyễn Du. Truyện Kiều là tác phẩm làm nên tên tuổi thi hào cũng là tác phẩm đánh dấu sự phát triển về tư tưởng quan niệm của nhà thơ. Nguyễn Du không có một cuộc đời êm ả, sung túc như bao đứa con quý tộc, từ lúc sinh ra đất nước trải qua quá nhiều biến cố. Vì vậy, nhà thơ phải sống một cuộc đời chìm nổi, phiêu bạt, đôi khi cơm ăn không no, áo mặc không ấm, giấc mộng công danh cũng hóa thành ảo mộng. Nhà thơ Nguyễn Du sinh năm 1765, tên chữ là Tố Như, hiệu Thanh Hiên. Quê 10 nhà thơ ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, trấn Nghệ An, nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh. Nhưng nhà thơ được sinh trưởng tại Thăng Long. Nguyễn Du thuộc dòng dõi quý tộc. Ông thân sinh là Nguyễn Nghiễm, nhà thơ, nhà nghiên cứu sử học, quan văn và là Tể tướng triều Lê. Mẹ là bà Trần Thị Tần, người xã Hoa Thiều, huyện Đông Ngàn, xứ Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh ngày nay, là vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm. Năm 1775, người anh lớn cùng mẹ Nguyễn Du mất, năm sau cha ông cũng qua đời, hai lễ tang liên tiếp khiến bà quá đau buồn nên lâm bệnh ba năm sau bà mất, năm ấy bà Trần Thị Tần mới 39 tuổi. Nguyễn Du từ đây bắt đầu đến nương tựa nhà người anh khác mẹ là Nguyễn Khản một Tả thị lang Bộ hình kiêm Hiệp trấn xứ Sơn Tây, sau vì liên quan đến chính trị với Trịnh Tông nên bị gián chức và bị giam. Đây là thời gian gia đình Nguyễn Du gặp nhiều biến cố, mặc dù vậy vì tuổi còn nhỏ nhà thơ vẫn đi học và đi thi. Năm 1783, Nguyễn Du thi hương đỗ Tam trường, sau thì không thi tiếp nữa, về sau ông giữ chức quan võ ở Thái Nguyên, chức này là do lúc trước Nguyễn Du có một người cha nuôi họ Hà sau khi ông mất Nguyễn Du được kế nhiệm. Năm 1789, Tây Sơn kéo quân ra Bắc đánh tan quân Thanh, Lê Chiêu Thống bỏ chạy theo tàn quân xâm lược sang Trung Quốc. Ba anh em Nguyễn Du cũng chạy theo nhưng không kịp. Từ đấy, nhà thơ bắt đầu về ở quê vợ Thái Bình, sống nhờ nhà anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn một thần dân của Tây Sơn. Cũng trong thời gian này nhà thơ có âm mưu chống lại Tây Sơn nhưng việc không thành, ông còn bị bắt giam một thời gian. Những ngày tháng sau này Nguyễn Du về quê Tiên Điền sống, đến thu năm 1802, Nguyễn Ánh đánh đổ vương triều Tây Sơn lên ngôi vua gọi Nguyễn Du ra làm quan. Đây là thời gian công nghiệp của nhà thơ có nhiều thăng tiến. Tháng 8 năm 1802, ông được bổ tri huyện Phù Dung rồi được thăng chức tri phủ Thường Tín. Năm 1803, ông được cử lên Nam Quan đón tiếp sứ nhà Thanh. Năm 1805, ông được thăng Đông các học sĩ tước Du đức hầu, vào Phú Xuân làm quan. Năm 1814, ông được thăng làm Cần Chánh điện học sĩ, rồi được cử đi sứ Trung Quốc, lo việc cống tuế. Năm 1814, ông trở về Phú Xuân. Năm 1815, ông được đặc cách thăng chức hữu tham tri bộ lễ. Năm 1820, vua Minh Mệnh lên ngôi, Nguyễn Du được chọn làm chánh sứ cầu phong. Nhưng khi chuẩn bị đi thì bệnh dịch hoành hành, ông mất vì bị nhiễm bệnh dịch năm ấy, Nguyễn Du thọ 55 tuổi. 11 Có lẽ vì cuộc đời có quá nhiều thăng trầm, biến cố ngay từ khi còn nhỏ nên mặc dù xuất thân quý tộc nhưng Nguyễn Du là một con người thấu hiểu lẽ đời, yêu thương những người nghèo khổ. Nhà thơ đã thể hiện mình thật sự là một nhân tài, với mỗi lời thơ đều thấm nhuần một tinh thần nhân đạo sâu sắc. Văn thơ Nguyễn Du nói lên tiếng nói phản kháng cái xấu, bênh vực những số phận đau khổ, những bậc anh hùng khí tiết trong xã hội. Mỗi bài thơ thể hiện phong cách một nhân tài thi ca. Nguyễn Du là nhà thơ đã có những đóng góp hết sức tích cực cho nền văn học Việt Nam nói chung, thơ ca trung đại Việt Nam nói riêng. 1.2.2 Sự nghi nghiệệp sáng tác Trong suốt cuộc đời mình Nguyễn Du đã cống hiến hết vào thơ ca dân tộc, mỗi tác phẩm là một lời tâm tình sâu sắc gửi cho con người, cả người sống và người chết, thơ ông đúc kết ý nghĩa cuộc sống, thấu hiểu cái con người cần với những dồn nén của họ trong tư tưởng phong kiến lỗi thời. Thơ văn Nguyễn Du có âm hưởng của “cái tôi” cá nhân vang lên, đặc biệt là Truyện Kiều và phần thơ chữ Hán. Tuy ít sáng tác mà vẫn đạt được độ thâm thúy, thấm nhuần của thơ văn và lòng người. Những sáng tác tiêu biểu của nhà thơ: Truyện Kiều hay còn tên gọi khác là Đoạn trường tân thanh dựa vào bản Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân ở Trung Hoa. Kim Vân Kiều truyện là tác phẩm thuộc thể loại tiểu thuyết chương hồi. Câu chuyện được Nguyễn Du kể lại bằng thể thơ dân tộc thơ lục bát, câu chuyện không phải dịch lại mà trên cơ sở chỉ lấy cốt truyện của Thanh Tâm Tài nhân để viết một câu chuyện của riêng mình. Truyện Kiều là kiệt tác văn chương đến vạn đời sau vẫn không sao khám phá hết. Tác phẩm này theo một số nhà nghiên cứu cho là được sáng tác khoảng năm 1805 đến 1809. Thác lời trai phường nón bài thơ tỏ tình của chàng trai phường nón, được viết theo thể lục bát mang âm hưởng và phong vị dân gian. Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu viết theo lối văn tế. Văn chiêu hồn bài văn tế được viết để tịnh độ những cô hồn đã khuất. Thơ chữ Hán, có ba tập thơ: Thanh Hiên thi tập có 78 bài thơ Nam trung tạp ngâm có 40 bài thơ 12 Bắc hành tạp lục với 131 bài thơ Cả ba tập thơ mang giọng chủ đạo là buồn. Không gian thường là buổi chiều cô đơn hay đêm vắng lặng. Một số bài thơ còn có phương hướng thoát li, ẩn dật nhưng chỉ là mong muốn, thực tế nhà thơ chưa bao giờ từ bỏ đời sống hiện tại của mình. ơ Thanh Hi 1.3 Về tập th thơ Hiêên thi tập Thanh Hiên thi tập là tập thơ chữ Hán đầu tiên, được sáng tác trong thời kì ở Thái Bình. Thanh Hiên thi tập có 78 bài thơ, có thể chia thành ba giai đoạn: “Mười năm gió bụi (từ năm 1786 đến khi trở về quê nhà ở Hồng Lĩnh). Dưới chân núi Hồng (từ năm 1796 đến năm 1802). Giai đoạn cuối ra làm quan ở Bắc Hà (từ năm 1802 đến cuối năm 1804)” [17; tr. 15, 16]. Thanh Hiên thi tập là tập thơ tâm sự của Nguyễn Du trong những năm tháng sống ở Thái Bình và ở Tiên Điền. Phần lớn âm điệu của tập thơ là buồn, cuộc sống ở Thái Bình cực khổ, khó khăn, phải ăn nhờ ở đậu người ta, những bài thơ ở giai đoạn này mang cảm giác trĩu nặng sự chán ngán, đôi lúc bi quan nhà thơ muốn đi ở ẩn, muốn hành lạc nhưng sự thật đó chỉ là dự tính không bao giờ được thực hiện. Thời gian ra làm quan cũng chẳng vui vẻ gì hơn, tuy đường quan lộ thênh thang hơn nhiều người nhưng vẫn không khởi sắc về tinh thần và vật chất, chức tước không làm thay đổi được cuộc đời nhà thơ, ông vẫn buồn, than thở về cuộc đời, về sự sống. Nguyễn Du nhìn thấy cuộc đời con người chỉ là một bể khổ. Phần lớn nội dung thơ mang tính chất tâm tình, riêng tư, đôi lúc bi quan, chán nản. Thanh Hiên thi tập hiện nay không được in riêng mà in cùng với hai tập Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục các tác giả thường gọi chung là tập Thơ chữ Hán Nguyễn Du. Hiện có 9 văn bản, bản dịch phần thơ chữ Hán Nguyễn Du, ở đây chúng tôi nêu lên những bản được xem đầy đủ nhất do các tác giả tập hợp có thể kể đến là: Bản Thơ chữ Hán Nguyễn Du của Lê Thước, Trương Chính, gồm 249 bài thơ, trong đó có 78 bài của tập Thanh Hiên. Cuốn Thơ chữ Hán Nguyễn Du của Đào Duy Anh tập hợp, có 79 bài của Thanh Hiên thi tập. Cuốn Nguyễn Du toàn tập của Mai Quốc Liên, có 78 bài thơ của tập Thanh Hiên. Trong Luận văn này chúng tôi chọn bản Thơ chữ Hán Nguyễn Du do hai cụ Lê Thước và Trương Chính biên soạn. 13 ƯƠ NG HAI. NỘI DUNG CỦA THANH HI ÊN THI TẬP CH CHƯƠ ƯƠNG HIÊ ộc sống xa qu ng, vất vả, bệnh tật và nh ững tri 2.1 Cu Cuộ quêê hươ ương, nhữ triếết lí về sự ốn hành lạc, tho sống, mong mu muố thoáát tục ộc sống xa qu ng, vất vả, bệnh tật với cái ngh 2.1.1 Cu Cuộ quêê hươ ương, nghèèo đeo ng đẳ đẳng Thanh Hiên thi tập là tiếng nói tận đáy lòng của Nguyễn Du, lời tâm sự mộc mạc của con người phải sống, phải đi cùng những năm tháng khó khăn, những điều ấy trở thành nỗi ám ảnh trong sáng tác văn chương của Nguyễn Du giai đoạn này. Cuộc đời gặp lúc loạn li chỉ mong tính mệnh bảo toàn. Tấm thân phó mặc mưa gió, nhà thơ không mơ ước lầu cao vọng nguyệt chỉ hi vọng bản thân hết bệnh, trong nhà có thuốc trị. Trong bài thơ Mạn hứng I nhà thơ nói về thân thế mình như một gánh nặng tang bồng: 百 年 身 世 委 風 塵 旅 食 江 津 又 海 津 Bách niên thân thế ủy phong trần Lữ thực giang tân hựu hải tân (Kiếp phong trần trăm năm thân thế, Khắp bờ sông bãi bể lang thang.) Cuộc đời trải qua bao vất vả khiến Nguyễn Du - một chàng công tử quý tộc danh gia trở thành một người không nơi về, phải trải qua những cơn đau ốm không thuốc men, lời tâm sự chân tình của nhà thơ “Ngựa còm xe nhỏ, thẹn anh láng giềng” thẹn vì bản thân sống đời trôi nổi, thẹn vì mình chẳng có công cán gì chỉ còn lại “Sống trong trời đất kiếp bình bồng”. Nhà thơ than trách và bày tỏ cuộc sống hiện tại: 行 腳 無 根 任 轉 蓬 江 南 江 北 一 囊 空 Hành cước vô căn nhiệm chuyển bồng Giang nam giang bắc nhất nang không (Chân không bén rễ bước bông lông, 14 Đất bắc trời nam túi rỗng không.) (M (Mạạn hứng II) Bản thân không phải là người thích cuộc sống xê dịch vậy mà trong lúc này nhà thơ tự ví mình chỉ như “ngọn cỏ bồng” không một nơi cố định luôn luôn phải dịch chuyển, nhưng không phải đi với túi đầy mà là “một chiếc túi rỗng không”, không biết đi đâu, về đâu hết nam lại bắc, đầu sông cuối sông. Trong khi đó bệnh tật kéo đến từng ngày, trong bài thơ Xuân dạ Nguyễn Du viết: 江 湖 病 到 經 時 久 風 雨 春 隨 一 夜 深 Giang hồ bệnh đáo kinh thời cửu Phong vũ xuân tùy nhất dạ thâm (Ốm liệt giang hồ bao tháng trải, Xuân về mưa gió suốt đêm trong.) Rõ ràng, tên tác phẩm là Xuân dạ nhưng đọc đoạn thơ ta chẳng thấy mùa xuân ở đâu chỉ thấy không gian u ám mờ mịt bao trùm và trong cái không gian ấy có một con người bệnh tật, một người xa quê lâu mang nặng nỗi đau tinh thần lẫn thể xác, con người một mình trong đêm xuân, cô đơn giữa không gian bao la, chỉ thấy nỗi đau khổ trào dâng. Bức tranh hiện thực về cuộc sống nhà thơ hiện ra trước mắt người đọc, bài Thu chí: 簾 垂 小 閣 西 風 動 雪 暗 窮 村 曉 角 哀 Liêm thùy tiểu các tây phong động Tuyết ám cùng thôn hiểu giác ai (Gió tây gác nhỏ rèm rung động, Còi sớm làng xa tuyết phủ đầy.) Một cuộc sống không ai mong đến với mình lại đến với một Nguyễn Du, một du khách đã mệt mỏi và “Tuế Giang nằm bệnh suốt năm chầy” ốm đau, bệnh tật đối với một người bình thường đã là cơ cực, đối với Nguyễn Du một người phải sống lênh 15 đênh không chốn nương thân phải ăn nhờ ở đậu lại càng đau khổ hơn, nỗi ám ảnh về căn bệnh đã đi theo ông – tác giả Truyện Kiều không còn sức chống lại chỉ biết sống cùng nó. Một chỗ khác, sự khốn khó của cuộc sống được lột trần qua câu thơ “Chớm lạnh đã hay không áo khổ” nhà thơ còn nghe được cả đâu đó “Tiếng ai nệm vải bông chiều đưa” đó là câu thơ đầy hi vọng, một sự khát khao gia đình, chờ mong một tấm áo khi mùa rét bắt đầu vì con người ấy rất cô đơn và trơ trọi giữa cuộc sống. Sự ngao ngán trước cái nghèo, trước đây dù chỉ là một viên quan nhỏ nhưng cuộc sống cũng không khó khăn còn hiện tại nhà thơ thốt lên tiếng nói tâm tình của một kẻ khất thực “Áo cơm buồn những chịu ơn người”. Con người trước kia sống với văn chương, yêu văn chương, chữ nghĩa giờ đây lại nói “Chữ nghĩa ích gì cho cuộc sống”, tâm sự đau đớn nếu không phải gì cuộc sống quẩn bách, tuyệt vọng thì chẳng bao giờ nhà thơ nói ra điều ấy, vì với nhà thơ văn chương là bạn đường là lẽ sống nhưng lẽ sống ấy giờ đây bị nhấn chìm vì mưu sinh, giờ thì ngoài sách ra ông chẳng có gì trong nhà, sách trở thành “Sách chồng cạnh gối đỡ thân mệt”. Nguyễn Du không thể như Hộ - Đời thừa của nhà văn Nam Cao có thể viết những thứ văn sau khi đọc xong người ta cũng quên đi để kiếm tiền, Nguyễn Du chỉ có thể dùng thơ văn để bày tỏ lòng mình. Từ một người yêu lẽ sống, quý cuộc đời giờ đây trở nên cay cú với bản thân vì chẳng làm được gì lúc này, cô đơn trong đêm lạnh, người khách dò theo từng bước đi thời gian mà cất lên những lời xé lòng trong bài Trệ khách: 滯 客 淹 留 南 海 中 寂 寥 良 夜 與 誰 同 Trệ khách yêm lưu Nam Hải trung Tịch liêu lương dạ dữ thùy đồng (Miền Nam đất khách nằm dài, Đêm thanh vắng vẻ ấy ai bạn cùng?) Hay: 風 塵 隊 裡 留 皮 骨 客 枕 蕭 蕭 兩 鬢 蓬 Phong trần đội lí lưu bì cốt 16 Khách chẩm tiêu tiêu lưỡng mấn bồng. (Phong trần còn mảnh xương da, Bù xù trên gối tóc xòa mái sương.) Người khách với tấm thân chỉ còn da bọc xương trong hàng nghìn người phong trần không ai biết đến. Thậm chí, trong bài thơ đôi khi nhà thơ nói về cuộc sống không có cả một bầu rượu “Nhà nghèo Bắc Hải rượu không là thường” và ông chỉ có gió trăng làm bạn nhưng gió trăng lại không biết nói năng gì làm không khí cả không gian trở nên tĩnh lặng. Mỗi bài thơ là cung bậc cảm xúc của Nguyễn Du về cuộc sống bản thân, đó là lời tâm sự chân thành của con người lúc đói nghèo, khi bệnh tật, trong buồn đau kiếp người. Tuy tuổi ông chỉ ngoài ba mươi nhưng tóc bạc và bệnh tật luôn đeo đẳng tấm thân bệnh tật ấy sống trong lo âu, buồn bả trước cuộc đời. Trong bài Ngọa bệnh I nhà thơ nói đến cái ốm đau những căn bệnh đeo bám, ông tự nhận mình là người hay bệnh tật lại có tinh thần không thư thái: 多 病 多 愁 氣 不 舒 十 旬 困 臥 桂 江 居 Đa bệnh đa sầu khí bất thư Thập tuần khốn ngọa Quế giang cư (Bệnh sầu, sầu bệnh cứ liên miên, Sông Quế nằm co mấy tháng liền) Nhà nghèo lại bệnh tật đến nổi chuột phải leo lên giường gặm sách vì trong nhà chẳng có gì để ăn được “bếp không đỏ lửa” thậm chí, nhìn hoa cúc ngoài vườn tưởng có thể ăn được. Ngoài sách ra Nguyễn Du chẳng có gì, cuộc sống của ông lúc này thật đáng buồn. Cô đơn, quạnh hiu lúc gian truân và dù sau nhiều năm tháng vất vả, nhà thơ ra làm quan triều Nguyễn, cuộc sống cũng chẳng khấm khá hơn, những chi tiết ông nói về cuộc sống những ngày sau này, vẫn bần cùng, vẫn một bầu không rượu, làm thân lữ khách, cuộc sống khắc khoải lo âu, vụng đường sinh kế, nghe có vẻ không hợp lí những đó là sự thật, tuy được mời về làm quan nhưng ông luôn giữ thân vì sợ sẽ gây ra bất trắc, ông phải luồng cúi trước những quan lớn khác, thậm chí phải nhỏ nhẹ với những tên lính của mình. Nguyễn Du không phải nhút nhát mà ông đang sống rất hiểu đời vì cuộc đời thế sự giờ đây đổi dời không còn cái gọi là công lí. Tác giả Thanh 17 Hiên thi tập thấu hiểu và chia sẻ số phận với những con người cực khổ, những người dân bần cùng, nghèo đói, tấm lòng của ông đi vào thơ như lời trần tình, đồng điệu. Chính cuộc sống khổ cực lúc đầu mà ông xa rời nhân dân nhưng cũng vì nó sau này ông lại hiểu dân yêu dân, thấu hiểu những đau khổ của họ cũng chính như đau khổ vất vả mình trải qua. Cuộc sống bần hàn nhưng vẫn giữ mình thanh liêm, đôi khi nhà không đủ no nhưng không nghĩ đến chuyện phải lạm dụng quan chức để thu lợi cho mình dù là nhỏ. Chính tính cách đó góp phần làm cho những tác phẩm của nhà thơ sống mãi với thời gian. ườ 2.1.2 Tri Triếết lí sự sống đờ đờii ng ngườ ườii và mong mu muốốn hành lạc, tho thoáát tục Trải qua cuộc dâu bể đời người, Nguyễn Du có khuynh hướng hành lạc thoát tục, điều này thể hiện trong sáng tác của ông nhưng một minh chứng cho một con người phải đến đường cùng dù đôi khi đường cùng đó là mình tự đi vào: 何 能 落 髮 歸 林 去 臥 聽 松 風 響 半 雲 Hà năng lai phát quy lâm khứ Ngọa thính tùng phong hưởng bán vân (Những ước cạo đầu vào núi ẩn, Đàn thông nằm lắng tiếng lưng trời.) ự th (T (Tự tháán II) Cái ước mơ tưởng chừng như đơn giản với bao người mà đối với Nguyễn Du thật khó, làm sao ông có thể “gọt tóc” khi bản thân còn mang nặng món nợ hồng trần, làm sao nghe được tiếng thông reo khi trong lòng chất đầy những nỗi lo, tâm đang đau xé những chuyện cuộc đời. Nhà thơ thường hay nhắc đến chuyện kiếp sau, nghiệp chướng của đạo Phật để bày tỏ tâm trạng, trong bài Ức gia huynh có đoạn: “Gặp nhau âu đành kiếp khác chờ” hay chữ nghiệp của con người trong Thôn dạ: 老 去 未 知 生 計 拙 障 消 時 覺 夙 心 空 Lão khứ vị tri sinh kế chuyết 18 Chướng tiêu thời giác túc tâm không (Lối sinh kế già còn khờ dại, Nghiệp chướng tiêu, thư thái đòi khi.) Nguyễn Du quan niệm sống là trả nợ kiếp trước, vì kiếp trước tạo nghiệp nên kiếp này phải trả, trả xong tâm mới tịnh nhưng đó chỉ là một lí do để sống trên đời và để Nguyễn Du tiếp tục sống. Trong Điếu La thành giả ca nhà thơ nhắc chuyện nàng ca nữ, cô bị mắc nghiệp phấn son nên chết đi vẫn phải trả, sống không ai hiểu mình chết về cõi hư không tìm người bầu bạn “Suối vàng đành bạn với Kì Khanh”, nhà thơ đang nói chuyện ca kĩ mà ngỡ như đang nói chính mình rất đau xót: 胭 脂 不 洗 生 前 障 風 月 空 留 死 後 名 Yên chi bất tẩy sinh tiền chướng, Phong nguyệt không lưu tử hậu danh. (Phấn son lúc sống chưa rồi nợ, Trăng gió đời sau luống để dành.) Một bài thơ khác nhà thơ lại nghĩ đến những chuyện trăm năm, nghìn năm, ông nghĩ đến vòng tuần hoàn của con người, xem chuyện đời là một vòng quay lẩn quẩn không lối thoát, già yếu bệnh tật, nghèo túng là chuyện thường vậy mà vẫn thấy buồn vì nhà thơ không làm được, không bỏ được, dù ở ẩn tâm cũng chẳng yên, chỉ có say, say để quên đi việc đời: 百 期 但 得 終 朝 醉 世 事 浮 雲 真 可 哀 Bách kì đãn đắc chung triêu túy Thế sự phù vân chân khả ai (Trăm năm miễn được say hoài, Kìa làn mây nổi việc đời khá thương.) (Đố Đốii tửu) Dù biết đó là những chuyện của đất trời, chuyện của thế nhân dù muốn thoát 19
- Xem thêm -