Nk thép ở cty cp tổng bh - bộ tm

  • Số trang: 68 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 13 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

Chuyªn ®Ò thùc tËp chuyªn ngµnh LỜI NÓI ĐẦU Hiện nay xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, ở cả cấp độ khu vực và thế giới, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, sự phụ thuộc lẫn nhau về thương mại và kinh tế giữa các quốc gia ngày càng sâu sắc. Việt Nam đã và đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước đưa nền kinh tế hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới. Việt Nam đang còn là nước nông nghiệp lạc hậu, còn nhiều hạn chế về trình độ khoa học và công nghệ, cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước thì chúng ta phải nhanh chóng tiếp cận, đi tắt đón đầu các công nghệ và kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Để thực hiện được điều này thì hoạt động nhập khẩu đóng vai trò rất quan trọng. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai đang đổi mới phát triển cơ sở hạ tầng xây dựng, phát triển sản xuất, cho nên nhu cầu về vật liệu xây dựng nói chung trong đó nhu cầu về vật liệu sắt thép nhằm đáp ứng nhu cầu sắt thép trong xây dựng và phục vụ trong các ngành sản xuất khác là rất lớn. Trong khi ngành sản xuất thép của nước ta chưa đáp ứng được phôi thép và các loại thép thành phẩm cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước. Do vậy nhập khẩu thép hiện nay đóng vai cho rất quan trọng đối với các ngành có nhu cầu sử dụng nguyên liệu thép nói riêng và toàn nền kinh tế nói chung. Trước bối cảnh đó đã đặt ra cho các ngành trong nền kinh tế nói chung và ngành thương mại nói riêng cũng như các công ty thương mại kinh doanh xuất nhập khẩu trong đó có Công ty Cổ phần Tổng Bách hoá - Bộ Thương mại những cơ hội và thách thức lớn lao. Công ty Cổ phần Tổng Bách hoá - Bộ Thương mại là một công ty thương mại kinh doanh tổng hợp trong đó có chức năng kinh doanh nhập NguyÔn V¨n Th«ng Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 44 Chuyªn ®Ò thùc tËp chuyªn ngµnh khẩu vật tư, máy móc thiết bị. Qua một thời gian thực tập tại phòng kinh doanh tổng hợp I, Công ty Cổ phần Tổng Bách hoá, cùng với những kiến thức được trang bị trong nhà trường, với mục đích tìm hiểu thêm về tình hình nhập khẩu vật liệu và máy móc thiết bị tại Công ty, em đã chọn đề tài: “Hoạt động nhập khẩu thép của Công ty Cổ phần Tổng Bách hoá Bộ Thương mại:Thực trạng và giải pháp”, cho chuyên đề thực tập chuyên ngành của mình. Mục đích của chuyên đề là trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh nhập khẩu sắt thép tại Công ty để tìm ra những mặt đã đạt được và những mặt còn hạn chế chủ yếu trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu thép của Công ty, từ đó đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh doanh nhập khẩu sắt thép tại công ty. Kết cấu của chuyên đề ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, chuyên đề gồm 3 chương chính sau: Chương 1: Cơ sở lý luận chung về nhập khẩu hàng hoá. Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh nhập khẩu sắt thép tại Công ty. Chương 3: Dự báo và một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh doanh nhập khẩu sắt thép tại Công ty . NguyÔn V¨n Th«ng Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 44 Chuyªn ®Ò thùc tËp chuyªn ngµnh Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ 1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hoạt động nhập khẩu 1.1.1 Khái niệm Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của hoạt động ngoại thương, là một trong hai hoạt động cơ bản cấu thành nên hoạt động ngoại thương. Có thể hiểu nhập khẩu là quá trình mua hàng hoá và dịch vụ từ nước ngoài để phục vụ cho nhu cầu trong nước và tái nhập nhằm mục đích thu lợi nhuận. Nhập khẩu có thể bổ sung những hàng hoá mà trong nước không thể sản xuất được hoặc chi phí sản xuất quá cao hoặc sản xuất nhưng không đáp ứng được nhu cầu trong nước. Nhập khẩu cũng nhằm tăng cường cơ sở vật chất kinh tế, công nghệ tiên tiến hiện đại ….tăng cường chuyển giao công nghệ, tiết kiệm được chi phí sản xuất, thời gian lao động, góp phần quan trọng phát triển sản xuất xã hội một cách có hiệu quả cao. Mặt khác nhập khẩu tạo ra sự cạnh tranh giữa hàng hoá nội địa và hàng hoá ngoại nhập từ đó tạo ra động lực thúc đẩy các nhà sản xuất trong nước phải tối ưu hoá tổ chức sản xuất, tổ chức bộ máy để cạnh tranh được với các nhà sản xuất nước ngoài. 1.1.2 Đặc điểm cơ bản của nhập khẩu Nhập khẩu là hoạt động buôn bán giữa các quốc gia, nhập khẩu là việc giao dịch buôn bán giữa các cá nhân, tổ chức có quốc tịch khác nhau ở các quốc gia khác nhau, hoạt động nhập khẩu phức tạp hơn rất nhiều so với kinh doanh trong nước: thị trường rộng lớn; khó kiểm soát; chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như môi trường kinh tế, chính trị, luật pháp… của các quốc gia khác nhau; thanh toán bằng đồng tiền ngoại tệ; hàng hoá được vận chuyển qua biên giới quốc gia; phải tuân theo những tập quán buôn bán quốc tế. Nhập khẩu là hoạt động lưu thong hàng hoá, dịch vụ giữa các quốc gia, nó rất phong phú và đa dạng, thường xuyên bị chi phối bởi các yếu tố NguyÔn V¨n Th«ng Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 44 Chuyªn ®Ò thùc tËp chuyªn ngµnh như chính sách, luật pháp, văn hoá, chính trị, ….của các quốc gia khác nhau. Nhà nước quản lý hoạt động nhập khẩu thông qua các công cụ chính sách như: Chính sách thuế, hạn ngạch, các văn bản pháp luật khác, qui định các mặt hang nhập khẩu,….. 1.1.3 Vai trò của hoạt động nhập khẩu Nhập khẩu góp phần đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại của thế giới vào trong nước, góp phần quan trọng vào thực hiện mục tiêu đi tắt đón đầu, xoá bỏ tình trạng độc quyền, phá vỡ một nền kinh tế đóng, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả nền kinh tế trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu và phát triển các ngành nghề, thành phần kinh tế trong nước. Nhập khẩu hàng hoá tạo ra nguồn hàng đầu vào cho các ngành, công ty sản xuất chế biến trong nước, nhập khẩu cung cấp những mặt hàng mà trong nước còn thiếu hoặc chưa thể sản xuất được, đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu dùng. Nhập khẩu cung cấp đầu vào cho các công ty sản xuất, làm phong phú hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hoá thương mại. Hoạt động nhập khẩu có hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh của các công ty thương mại. Hoạt động nhập khẩu giúp cho các công ty trong nước có điều kiện cọ sát với các doanh nghiệp nước ngoài, nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp. Khi có sự xuất hiện của các mặt hàng nhập khẩu trên thị trường nội địa sẽ dẫn đến sự cạnh tranh giữa hàng hoá nội địa và hàng hoá ngoại nhập. Để tồn tại và phát triển các công ty trong nước phải nỗ lực tìm mọi biện pháp để tối ưu hoá trong sản xuất cũng như trong quản lý để tạo ra những sản phẩm với chất lượng tốt, giá cả hấp dẫn có khả năng cạnh tranh cao và nâng cao vị thế của mình. NguyÔn V¨n Th«ng Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 44 Chuyªn ®Ò thùc tËp chuyªn ngµnh Hoạt động nhập khẩu là cầu nối thông suốt nền kinh tế thị trường trong và ngoài nước với nhau, tạo điều kiện cho phân công lao động và hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng hơn. Đối với các công ty thương mại là một mắt xích quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế, do vậy hoạt động kinh doanh nhập khẩu có hiệu quả sẽ mang lại lợi nhuận cho công ty, giúp cho công ty có thể đầu tư kinh doanh vào các lĩnh vực khác, mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh. 1.2 Các hình thức nhập khẩu chủ yếu 1.2.1 Nhập khẩu trực tiếp Nhập khẩu trực tiếp là hoạt động nhập khẩu độc lập của một doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu trên cơ sở nghiên cứu kỹ thị trường trong nước và quốc tế, tính toán chính xác các chi phí, đảm bảo hiệu quả kinh doanh nhập khẩu, tuân thủ đúng các chính sách, luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế. Trong hình thức nhập khẩu trực tiếp này doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu phải trực tiếp làm các hoạt động tìm kiếm đối tác, đàm phán, ký kết hợp đồng,…. Và phải tự bỏ vốn ra để thực hiện tổ chức kinh doanh hàng nhập khẩu. Ưu điểm: Nhà nhập khẩu có thể chủ động được các công việc trong quá trình nhập khẩu hàng hoá của mình như về thời gian, địa điểm giao nhận hàng, thuê phương tiện vận tải, mua bảo hiểm hàng hoá,...Nhà nhập khẩu có thể chủ động trong việc làm các thủ tục hành chính cho hàng nhập khẩu, chủ động hơn trong kinh doanh nhập khẩu. Nhược điểm: Nhập khẩu trực tiếp đòi hỏi nhà nhập khẩu phải có một lượng vốn lớn hơn so với các hình thức nhập khẩu khác cho việc thanh toán hàng hoá nhập khẩu. Nhâp khẩu trực tiếp cũng đòi hỏi nhà nhập khẩu phải có chuyên môn nghiệp vụ cao, có kinh nghiệm trong kinh doanh quốc tế. Hình thức này phù hợp hơn đối với những Công ty nhập khẩu chuyên nghiệp, có vốn lớn NguyÔn V¨n Th«ng Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 44 Chuyªn ®Ò thùc tËp chuyªn ngµnh 1.2.2 Nhập khẩu uỷ thác Nhập khẩu uỷ thác là hoạt động nhập khẩu được hình thành giữa một doanh nghiệp trong nước có vốn ngoại tệ riêng, có nhu cầu nhập khẩu thiết bị toàn bộ, uỷ thác cho một doanh nghiệp có chức năng xuất nhập khẩu trực tiếp giao dịch ngoại thương tiến hành nhập khẩu thiết bị toàn bộ theo yêu cầu của mình. Bên nhận uỷ thác phải tiến hành với đối tác nước ngoài để làm các thủ tục nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu của bên uỷ thác và sẽ nhận được một khoản thù lao gọi là phí uỷ thác. Ưu điểm: Nhà nhập khẩu có thể nhập khẩu được hàng hoá thông qua một đối tác khác, nhà nhập khẩu không cần phải làm các thủ tục nhập khẩu hàng hoá mà uỷ thác cho đối tác nhập khẩu làm. Vốn trực tiếp bỏ ra ban đầu để nhập khẩu hàng hoá không lớn. Hình thức này phù hợp hơn đối với các Công ty mới nhập khẩu hàng hoá chư có nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh quốc tế. Nhược điểm: Nhà nhập khẩu không chủ động được thời gian chính xác, địa điểm, thủ tục....giao nhận hàng nhập khẩu mà phụ thuộc vào nhà nhập khẩu uỷ thác. 1.2.3 Gia công quốc tế Gia công quốc tế là một hoạt động kinh doanh thương mại trong đó một bên (gọi là bên nhận gia công) nhập khẩu nguyên kiệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác (gọi là bên đặt gia công) để chế biến thành ra thành phấm, giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao (gọi là phí gia công). Trong gia công quốc tế hoạt động xuất nhập khẩu gắn liền với hoạt động sản xuất. Gia công quốc tế ngày nay rất phổ biến trong buôn bán thương mại quốc tế. Ưu điểm: Đối với bên đặt gia công, giúp họ tận dụng được giá rẻ về nguyên liệu phụ và nhân công rẻ của nước nhận gia công. Đối với bên nhận gia công, giúp họ giải quyết được công ăn việc làm cho người lao động trong nước hoặc nhận được thiết bị công nghệ hiện đại vào trong nước mình. Trong thực tế nhiều nước đang phát triển nhờ thực NguyÔn V¨n Th«ng Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 44 Chuyªn ®Ò thùc tËp chuyªn ngµnh hiện phương thức gia công quốc tế đã góp phần xây dựng nên một nền công nghiệp hiện đại như Hàn Quốc, Thái Lan, Singapo,.... Các hình thức gia công quốc tế chủ yếu: * Xét về quyền sở hữu nguyên liệu, gia công quốc tế có thể có các hình thức sau: - Bên đặt gia công giao nguyên kiệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận gia công và sau một khoảng thời gian sản xuất, chế tạo sẽ nhập lại thành phẩm và trả phí gia công cho bên nhận gia công. Đối với trường hợp này thì trong thời gian gia công chế tạo quyền sở hữu về nguyên liệu vẫn thuộc về bên đặt gia công. - Bên đặt gia công bán đứt nguyên liệu cho bên nhận gia công và sau thời gian gia công sản xuất chế tạo, bên đặt gia công sẽ mua lại thành phẩm. Trong trường hợp này quyền sở hữu nguyên liệu chuyển từ bên đặt gia công sang bên nhận gia công. Ngoài ra có thể áp dụng hình thức kết hợp, trong đó bên đặt gia công chỉ giao những nguyên liệu chính, còn bên nhận gia công cung cấp nguyên liệu phụ. * Xét về mặt giá cả gia công, có hai hình thức gia công chính. - Hợp đồng thực chi thực thanh, trong đó bên nhận gia công thanh toán với bên đặt gia công toàn bộ những chi phí thực tế của mình cộng với tiền thù lao gia công. - Hợp đồng khoán, trong đó người ta xác định một giá định mức cho mỗi sản phẩm, bao gồm chi phí định mức và thù lao định mức. Hai bên thanh toán với nhau theo giá định mức. * Xét về số bên tham gia quan hệ gia công, có hai hình thức chính. - Gia công hai bên, trong đó chỉ có bên đặt gia công và bên nhận gia công. - Gia công nhiều bên, trong đó bên nhận gia công là một số doanh nghiệp mà sản phẩm gia công của đơn vị trước là đối tượng gia công của đơn vị sau, còn bên đặt gia công chỉ có một. NguyÔn V¨n Th«ng Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 44 Chuyªn ®Ò thùc tËp chuyªn ngµnh 1.2.4 Nhập khẩu đổi hàng ( Nhập khẩu đối lưu) Nhập khẩu đổi hàng là một phương thức giao dịch trao đổi hàng hoá, trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng giao đi có giá trị tương đương với lượng hàng nhập về. Đặc tính của nhập khẩu đổi hàng là cân bằng về mặt hàng hoá, cân bằng về giá cả, cân bằng về tổng giá trị, cân bằng về các điều kiện và cơ sở giao hàng. Phương thức này trước kia được áp dụng nhiều, là phương thức nhập khẩu chủ yếu đối với những nước đang và kém phát triển thiếu ngoại tệ mạnh để nhập khẩu. Ngày nay phương thức này không được áp dụng phổ biến lắm trong thương mại quốc tế. 1.3 Nội dụng chủ yếu của hoạt động nhập khẩu hàng hoá 1.3.1 Nghiên cứu thị trường Nghiên cứu thị trường nhằm có được một hệ thống thông tin về thị trường đầy đủ, chính xác và kịp thời làm cơ sở cho doanh nghiệp có những quyết định đúng đắn, đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Đồng thời thông tin thu được từ việc nghiên cứu thị trường làm cơ sở để doanh nghiệp lựa chọn được đối tác thích hợp và còn làm cơ sở cho quá trình giao dịch, đàm phán, ký kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng sau này có hiệu quả. Doanh nghiệp chỉ có thể phản ứng linh hoạt, có những quyết định đúng đắn kịp thời trong quá trình đàm phán giao dịch khi có sự nghiên cứu, tìm hiểu các thông tin chính xác và tương đối đầy đủ. Ngoài việc nghiên cứu nắm vững tình hình thị trường trong nước, các chính sách, luật pháp quốc gia có liên quan đến hoạt động kinh tế đối ngoại thì doanh nghiệp còn phải nắm vững mặt hàng kinh doanh, thị trường nước ngoài. Nghiên cứu thị trường bao gồm cả hoạt động nghiên cứu thị trường trong nước và nghiên cứu thị trường nước ngoài. Trong đó nghiên cứu thị trường trong nước bao gồm các hoạt động: Nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu, nghiên cứu dung lượng thị trường và các NguyÔn V¨n Th«ng Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 44 Chuyªn ®Ò thùc tËp chuyªn ngµnh nhân tố ảnh hưởng, nghiên cứu đối thủ cạnh tranh, nghiên cứu sự vận động của môi trường kinh doanh. Nghiên cứu thị trường nước ngoài bao gồm các hoạt động: Nghiên cứu nguồn cung cấp hàng hoá trên thị trường quốc tế, nghiên cứu giá cả trên thị trường quốc tế, … 1.3.2 Lập phương án kinh doanh Dựa trên cơ sở nghiên cứu thị trường sau đó tiến hành lập phương án kinh doanh hàng nhập khẩu . Phương án kinh doanh là một kế hoạch hành động cụ thể của một giao dịch mua bán hàng hoá hoặc dịch vụ. Phương án kinh doanh là cơ sở cho các cán bộ nghiệp vụ thực hiện các nhiệm vụ, phân chia mục tiêu lớn thành các mục tiêu nhỏ cụ thể để lãnh đạo doanh nghiệp quản lý và điều hành liên tục, chặt chẽ. Lập phương án kinh doanh bao gồm các bước chủ yếu sau: Nhận định tổng quát về tình hình diễn biến thị trường Đánh giá khả năng của doanh nghiệp Xác định thị trường, mặt hàng nhập khẩu và số lượng mua bán Xác định đối tượng giao dịch để nhập khẩu Xác định thị trường và khách hàng tiêu thụ Xác định giá cả mua bán trong nước Đề ra các biện pháp thực hiện 1.3.3 Giao dịch, đàm phán và ký kết hợp đồng Giao dịch: Sau giai đoạn nghiên cứu thị trường, lựa chọn được khách hàng, mặt hàng kinh doanh, lập phương án kinh doanh, bước tiếp theo là doanh nghiệp cần phải tiến hành tiếp cận với đối tác bạn hàng để tiến hành giao dịch mua bán. Quá trình giao dịch là quá trình trao đổi thông tin về các điều kiện thương mại giữa các bên tham gia. Giao dịch bao gồm các bước: Hỏi giá, chào hàng, phát giá, đặt hàng, hoàn giá, chấp nhận, xác nhận. Đàm phán: là việc bàn bạc, trao đổi với nhau các điều kiện mua bán giữa các nhà doanh nghiệp xuất nhập khẩu để đi đến thống nhất ký kết hợp NguyÔn V¨n Th«ng Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 44 Chuyªn ®Ò thùc tËp chuyªn ngµnh đồng. Đàm phán thường có các hình thức: Đàm phán qua thư tín, đàm phán qua điện thoại, đàm phán bằng cách gặp trực tiếp. Ký kết hợp đồng: Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên, bên bán (người xuất khẩu) có nhiệm vụ giao hàng và chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua (người nhập khẩu), bên mua có nhiệm vụ thanh toán toàn bộ số tiền theo hợp đồng. Hợp đồng có thể coi như đã ký kết chỉ trong trường hợp các bên ký vào hợp đồng. Các bên phải có tư cách pháp lý, địa chỉ ghi rõ trong hợp đồng. Hợp đồng được coi như đã ký kết chỉ khi người tham gia có đủ thẩm quyền ký vào các văn bản đó, nếu không thì hợp đồng không được công nhận là văn bản có cơ sở pháp lý. Nhiều trường hợp có ký kết hợp đồng ba bên trở lên có thể thực hiện bằng tất cả các bên cùng ký vào một văn bản thống nhất hoặc bằng một văn bản hợp đồng tay đôi có trích dẫn trong từng hợp đồng đó với hai hợp đồng khác. 1.3.4 Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu Giai đoạn này bao gồm các công việc như sau: thuê phương tiện vận tải, mua bảo hiểm hàng hoá, làm thủ tục hải quan, nhận hàng, kiểm tra hàng hoá nhập khẩu, làm thủ tục thanh toán, khiếu nại và giải quyết khiếu nại nếu có. Một là, thuê phương tiện vận tải: tuỳ theo đặc điểm hàng hoá kinh doanh, doanh nghiệp lựa chọn phương thức thuê phương tiện vận tải cho phù hợp như: thuê tàu chợ, tàu chuyến hay tàu bao. Nếu nhập khẩu thường xuyên với khối lượng lớn thì nên thuê tàu bao, nếu nhập khẩu không thường xuyên nhưng với khối lượng lớn thì nên thuê tàu chuyến, nếu nhập khẩu với khối lượng nhỏ thì nên thuê tàu chợ. Hai là, mua bảo hiểm hàng hoá: Bảo hiểm là một sự cam kết của người bảo hiểm bồi thường cho người được bảo hiểm về những mất mát, hư hỏng, thiệt hại của đối tượng bảo hiểm do những rủi ro đã thoả thuận NguyÔn V¨n Th«ng Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 44 Chuyªn ®Ò thùc tËp chuyªn ngµnh gây ra, với điều kiện người mua bảo hiểm đã mua cho đối tượng đó một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm. Ba là, hợp đồng bảo hiểm có thể là hợp đồng bảo hiểm bao hoặc hợp đồng bảo hiểm chuyến. Khi mua bảo hiểm bao, doanh nghiệp ký kết hợp đồng từ đầu năm còn đến khi giao hàng xuống tàu xong doanh nghiệp chỉ gửi đến công ty bảo hiểm một thông báo bằng văn bản gọi là “ Giấy báo bắt đầu vận chuyển”. Bốn là, làm thủ tục hải quan: Thủ tục hải quan gồm có 3 nội dung chủ yếu: Khai báo hải quan: Chủ hàng phải khai báo chi tiết về hàng hoá vào tờ khai hải quan một cách trung thực và chính xác, đồng thời chủ hàng phải tự xác định mã số hàng hoá, thuế suất, giá tính thuế của từng mặt hàng nhập khẩu, tự tính số thuế phải nộp của từng loại thuế trên tờ khai hải quan Xuất trình hàng hoá: hải quan được phép kiểm tra hàng hoá nếu thấy cần thiết Thực hiện các quyết định của hải quan: sau khi kiểm tra các giấy tờ và hàng hoá, hải quan đưa ra quyết định cho hàng được phép qua biên giới (thông quan) hoặc cho hàng đi qua với một số điều kiện kèm theo hay hàng không được chấp nhận cho nhập khẩu….chủ hàng phải thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của hải quan. Năm là, nhận hàng: doanh nghiệp nhập khẩu cần phải thực hiện các công việc như: Ký kết hợp đồng uỷ thác cho cơ quan vận tải về việc nhận hàng; xác nhận với cơ quan vận tải kế hoạch tiếp nhận hàng hoá về lịch tàu, cơ cấu hàng hoá, điều kiện kỹ thuật khi bốc dỡ, vận chuyển, giao nhận; cung cấp tài liệu cần thiết cho việc nhận hàng như vận đơn, lệnh giao hàng … nếu tàu biển không giao những tài liệu đó cho cơ quan vận tải; theo dõi việc giao nhận, đôn đốc cơ quan vận tải lập biên bản (nếu cần) về hàng hoá và giải quyết trong phạm vi của mình những vấn đề phát sinh trong việc giao nhận; thanh toán cho cơ quan vận tải các khoản phí tổn về giao nhận, NguyÔn V¨n Th«ng Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 44 Chuyªn ®Ò thùc tËp chuyªn ngµnh bốc xếp, bảo quản và vận chuyển hàng hoá nhập khẩu;thông báo cho các đơn vị đặt hàng chuẩn bị tiếp nhận hàng; chuyển hàng hoá về kho của doanh nghiệp hoặc trực tiếp giao cho các đơn vị đặt hàng. Sáu là, kiểm tra hàng hoá nhập khẩu: Hàng hoá nhập khẩu về qua cửa khẩu dược kiểm tra. Mỗi cơ quan tiến hành kiểm tra theo chức năng, quyền hạn của mình. Nếu phát hiện thấy dấu hiệu không bình thường thì mời bên giám định đến lập biên bản giám định. Bảy là, làm thủ tục thanh toán: Có nhiều phương thức thanh toán như: thanh toán bằng tiền mặt, thanh toán bằng phương thức chuyển tiền, thanh toán bằng phương thức nhờ thu, thanh toán bằng thư tín dụng (L/C), …Việc thanh toán theo phương thức nào cần phải được qui định rõ cụ thể trong hợp đồng mua bán hàng hoá. Doanh nghiệp phải tiến hành thanh toán theo đúng qui định trong hợp đồng mua bán hàng hoá đã ký. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại: Khi thực hiện hợp đồng nhập khẩu, nếu chủ hàng nhập khẩu phát hiện thấy hàng hoá bị tổn thất, đổ vỡ, thiếu hụt, mất mát không đúng như trong hợp đồng đã ký thì doanh nghiệp cần lập hồ sơ khiếu nại. Tuỳ theo nội dung khiếu nại mà người nhập khẩu và bên bị khiếu nại có các cách giải quyết khác nhau. Nếu không tự giải quyết được thì làm đơn gửi đến trọng tài kinh tế hoặc toà án kinh tế theo quy định trong hợp đồng. 1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu 1.4.1 Các nhân tố bên trong Công ty 1.4.1.1 Nhân tố Bộ máy quản lý hay tổ chức hành chính Hoạt động nhập khẩu đòi hỏi cần phải có một bộ máy lãnh đạo hoàn chỉnh, có tổ chức phần cấp quản lý, phân công lao động trong doanh nghiệp sao cho phù hợp với đặc trưng của một doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu. Nếu bộ máy quản lý cồng kềnh không cần thiết sẽ làm cho việc kinh doanh của doanh nghiệp không có hiệu quả và ngược lại. NguyÔn V¨n Th«ng Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 44 Chuyªn ®Ò thùc tËp chuyªn ngµnh 1.4.1.2 Nhân tố con người Trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu nói chung và hoạt động nhập khẩu nói riêng, tất cả các công đoạn từ khâu nghiên cứu tìm hiểu thị trường đến khâu kí kết và thực hiện hợp đồng đòi hỏi cán bộ nhập khẩu cần phải nắm vững các chuyên môn nghiệp vụ, năng động, đặc biệt khi kinh doanh với các đối tác nước ngoài. Nhân tố con người đóng vai trò quyết định đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đến sự tồn tại và thành công của doanh nghiệp. 1.4.1.3 Nhân tố vốn và công nghệ Vốn và công nghệ có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của Công ty nói chung cũng như hoạt động kinh doanh nhập khẩu nói riêng. Vốn và công nghệ quyết định đến lĩnh vực kinh doanh cũng như quy mô hoạt động kinh doanh của Công ty, vốn và công nghệ giúp cho hoạt động kinh doanh nhập khẩu được của Công ty được thực hiện có hiệu quả cao. Vốn và công nghệ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nếu công ty có nguồn lực tài chính lớn (nhiều vốn), đặc biệt là vốn lưu động thì sẽ mua được (có được) công nghệ hiên đại nâng cao năng suất và hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và ngược lại. 1.4.2 Các nhân tố bên ngoài công ty 1.4.2.1 Nhân tố chính trị, luật pháp Trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu nói chung và hoạt động nhập khẩu nói riêng là hoạt động giao dịch buôn bán trao đổi thương mại mang tính chất quốc tế cho nên nó chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố chính trị, luật pháp của mỗi quốc gia cũng như của quốc tế. Các công ty kinh doanh nhập khẩu đòi hỏi phải tuân thủ các qui định của các quốc gia có liên quan, các tập quán và luật pháp quốc tế. NguyÔn V¨n Th«ng Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 44 Chuyªn ®Ò thùc tËp chuyªn ngµnh Môi trường chính trị ổn định, luật pháp thông thoáng chặt chẽ không thay đổi thường xuyên có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của nền kinh tế nói chung và hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng. Môi trường ổn định thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế giữa các quốc gia với nhau và giữa các chủ thể kinh tế ở các quốc gia với nhau. Ngược lại, khi môi trường chính trị, luật pháp không ổn định nó sẽ hạn chế rất lớn tới hoạt động thương mại quốc tế của quốc gia nói chung và hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp nói riêng. 1.4.2.2 Tỷ giá hối đoái và tỷ suất ngoại tệ của hàng nhập khẩu Tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền Việt Nam với các đồng ngoại tệ có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu nói chung và hoạt động nhập khẩu nói riêng, nó ảnh hưởng đến việc lựa chọn đồng tiền thanh toán. Tỷ giá hối đoái nhiều khi không cố định, nó sẽ thay đổi lên xuống. Chính vì vậy các doanh nghiệp cần phải có sự nghiên cứu và dự đoán xu hướng biến động của tỷ giá hối đoái để đưa ra các quyết định phù hợp cho việc nhập khẩu như lựa chọn bạn hàng, lựa chọn đồng tiền tính toán, lựa chọn đồng tiền thanh toán,…. Cũng như vậy, tỷ suất ngoại tệ có thể làm thay đổi chuyển hướng giữa các mặt hàng, giữa các phương án kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu. 1.4.2.3 Yếu tố thị trường trong nước và ngoài nước Tình hình và sự biến động của thị trường trong và ngoài nước như sự thay đổi của giá cả, khả năng cung cấp hàng hoá, khả năng tiêu thụ và xu hướng biến động dung lượng của thị trường …. Tất cả các yếu tố này đều có ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu. Sự thay đổi lên xuống của giá cả sẽ làm ảnh hưởng tới khả năng tiêu thụ hàng nhập khẩu. Khi giá cả hàng nhập khẩu mà tăng lên thì nhu cầu tiêu thụ hàng nhập khẩu sẽ có xu hướng giảm xuống, người tiêu dùng sẽ chuyển hướng sang tiêu dùng các loại hàng hoá cùng loại hay tương tự NguyÔn V¨n Th«ng Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 44 Chuyªn ®Ò thùc tËp chuyªn ngµnh trong nước khi đó nó sẽ ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu hàng hoá của doanh nghiệp, chỉ trừ những hàng hoá nhập khẩu mà thị trường trong nước không có khả năng cung cấp thì khi đó giá cả sẽ biến động theo thị trường. Sự biến động của nguồn cung và dung lượng thị trường có ảnh hưởng đến sự biến động của giá cả hàng nhập khẩu, từ đó ảnh hưởng đến khả năng tiêu dùng và hoạt động nhập khẩu của công ty. 1.4.2.4 Yếu tố cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá quốc tế Các yếu tố hạ tầng phục vụ hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá quốc tế có ảnh hưởng trực tiếp đến nhập khẩu như: Hệ thống giao thông, cảng biển: nếu hệ thống này được trang bị hiện đại sẽ cho phép giảm bớt thời gian bốc dỡ, thủ tục giao nhận cũng như đảm bảo an toàn cho hàng hoá được mua bán. Hệ thống Ngân hàng: Hệ thống ngân hàng càng phát triển thì các dịch vụ của nó cang thuận tiện cho việc thanh toán quốc tế cúng như trong huy động vốn. Ngân hàng là một nhân tố đảm bảo lợi ích cho nhà kinh doanh bang các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng. Hệ thống bảo hiểm, kiểm tra chất lượng: Cho phép các hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế được thực hiện một cách an toàn hơn đồng thời giảm bớt được rủi ro cũng như mức độ thiệt hại có thể xảy ra cho các nhà kinh doanh trong buôn bán thương mại quốc tế. NguyÔn V¨n Th«ng Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 44 Chuyªn ®Ò thùc tËp chuyªn ngµnh Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NHẬP KHẨU THÉP CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TỔNG BÁCH HOÁ 2.1 Tình hình sản xuất và chính sách nhập khẩu thép của Việt Nam 2.1.1 Tình hình sản xuất thép của Việt Nam * Tổng giá trị - sản lượng Theo báo cáo của Tổng Công ty Thép Việt Nam (VSC), mỗi năm các doanh nghiệp trong nước sản xuất và cung cấp cho thị trường khoảng 3 triệu tấn thép xây dựng. Ngành thép Việt Nam đã tự sản xuất được khoảng 20% lượng phôi thép, nhưng nguyên liệu để sản xuất ra lượng phôi trên chủ yếu phải nhập khẩu. Theo Hiệp hội Thép Việt Nam, hiện tại năng lực cán thép của tất cả các doanh nghiệp trong nước thuộc mọi thành phần kinh tế đạt khoảng 5,8 triệu tấn. * Các Nhà máy sản xuất thép và công suất sản xuất Hiện nay cả nước có 20 nhà máy sản xuất thép lớn thuộc Hiệp hội thép Việt Nam với công suất trên 5 triệu tấn một năm. Công ty gang thép Thái Nguyên 300.000 tấn/ năm, Công ty Thép Miền Nam 400.000 tấn/năm, Công ty Pomina 300.000 tấn/ năm, Công ty Vinakasai tại Hải Phòng 300.000 tấn phôi/năm. Hiện nay cả nước có 3 Công ty sản xuất được phôi thép đó là Công ty gang thép Thái Nguyên, Công ty thép Miền Nam, Công ty thép Đà Nẵng. Sản lượng phôi thép đạt 700.000 tấn/ năm, thép cán VSC đạt 1.030.000 tấn, cả nước đạt 3,2 – 3,3 triệu tấn. * Về chủng loại sản xuất Hiện nay ngành thép mới chỉ sản xuất được một số loại thép như thép cuộn cán nóng, thép cuộn cán nguội và phôi thép( mới chỉ sản xuất NguyÔn V¨n Th«ng Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 44 Chuyªn ®Ò thùc tËp chuyªn ngµnh được khoảng 20% nhu cầu phôi thép trong nước). Riêng đối với loại thép tấm và thép lá hiện nay Việt Nam phải nhập khẩu 100% từ nước ngoài. * Về nhu cầu trong nước Theo Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), năm 2005 nhu cầu phôi thép cho sản xuất thép xây dựng từ khoảng 3,4 triệu tấn đến 3,55 triệu tấn. * Về nhu cầu nhập khẩu Hiện nay nhu cầu nhập khẩu phôi thép của Việt Nam là tương đôía lớn, theo kết quả tổng kết hàng năm của Tổng Công ty Thép Việt Nam thì hàng năm Việt Nam nhập khẩu khoảng 80% lượng phôi thép phục vụ cho sản xuất trong nước. Các loại thép phục vụ các ngành công nghiệp như: thép tấm, thép lá, hiện nay vẫn phải nhập khẩu hoàn toàn với khối lượng khoảng 3 triệu tấn/ năm. Theo Hiệp hội Thép Việt Nam, hiện tại năng lực cán thép của tất cả các doanh nghiệp trong nước thuộc mọi thành phần kinh tế đạt khoảng 5,8 triệu tấn, trong đó nhu cầu tiêu thụ vào khoảng 3,2 đến 3,4 triệu tấn. Do vậy hàng năm nhu cầu nhập khẩu khoảng 2,4 đến 2,6 triệu tấn. Theo sự đánh giá của các chuyên gia, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thép trong nước ở mức thấp, do không chủ động được nguồn nguyên liệu, giá thành cao, nhiều loại thép vẫn phải nhập khẩu 100% từ nước ngoài. Theo Hiệp hội Thép Việt Nam nguyên nhân chính dẫn đến những yếu kém về năng lực cạnh tranh của ngành thép là do các doanh nghiệp trong nước không chú trọng đầu tư sản xuất phôi mà chỉ tập chung đầu tư vào các dây chuyền cán thép nhằm thu hồi vồn và lợi nhuận nhanh chóng. Trong khi đó công tác giám sát việc thực hiện phát triển ngành thép theo đúng quy hoạch của các cơ quan chức năng chưa được quan tâm đúng mức. Để từng bước chủ động trong sản xuất nguồn phôi và tăng năng lực cạnh tranh sản phẩm, vừa qua Tổng Công ty Thép Việt Nam (VSC) đã tập NguyÔn V¨n Th«ng Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 44 Chuyªn ®Ò thùc tËp chuyªn ngµnh trung đầu tư vào một số dự án trọng điểm như cải tạo mở rộng nhà máy Gang thép Thái Nguyên, Nhà máy thép Phú Mỹ. Việc đưa vào sản xuất các nhà máy này sẽ nâng công suất của Tổng Công ty lên 1,6 triệu tấn thép một năm và đưa năng lực sản xuất phôi lên 1,2 triệu tấn một năm. Trong thời gian tới ngành thép tập chung phát triển công nghệ sản xuất thép từ khai thác quặng, đặc biệt là triển khai hai dự án khai thác mỏ Quý Xa ( Thép Lào Cai) liên doanh với Trung Quốc, và dự án khai thác mỏ quặng sắt Thạch Khê – Hà Tĩnh với công suất 5 triệu tấn một năm. 2.1.2 Chính sách nhập khẩu thép của Việt Nam Chính sách nhập khẩu đối với mặt hàng thép nói chung Nhà Nước không quy định hạn ngạch nhập khẩu, hầu hết các loại phôi và thép thành phẩm nhập khẩu từ các nước trong khu vực Đông Nam Á có thuế suất 0% hoặc thuế suất thấp dưới 5% theo chương trình cắt giảm thuế quan chung (CEPT), trừ một số loại sắt, thép không hợp kim được cán mỏng, có chiều rộng từ 600mm trở lên, đã phủ mạ, hoặc tráng hiện đang có mức thuế suất từ 5% đến 20%. Việc quản lý nhập khẩu, Nhà nước quản lý các đơn vị nhập khẩu thép thông qua Tổng Công ty Thép Việt Nam. Các đơn vị nhập khẩu trực thuộc Tổng Công ty khi nhập khẩu đều phải xin phép, khai báo lên Tổng Công ty. Tổng Công ty căn cứ vào tình hình sản xuất và tiêu thụ thép trong nước để lập kế hoạch và quản lý nhập khẩu. 2.1.2.1 Biểu thuế nhập khẩu mặt hàng thép Hiện nay đa số các loại thép nhập khẩu đều có thuế suất thấp 0%, một số loại có thuế suất dưới 5% và một số loại có thuế suất từ 5% đến 20%. Mức thuế suất của một số mặt hàng sắt thép được thể hiện qua biểu thuế nhập khẩu dưới đây. NguyÔn V¨n Th«ng Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 44 Chuyªn ®Ò thùc tËp chuyªn ngµnh Bảng 2.1 Biểu thuế nhập khẩu mặt hàng sắt thép Thuế M· HS Mô tả hàng hoá Ký suất ưu đãi (%) 72 7201 Thuế suất CEPT (%) hiệu 02 03 04 05 06 Chương 72 Sắt và thép I- Nguyên liệu chưa qua chế biến Gang thỏi và gang kính dạng thỏi, dạng khối hoặc dạng thô khác. 7201.10.00 - Gang thỏi không hợp kim có chứa hàm 0 I 0 0 0 0 0 lượng phốt pho bằng hoặc dưới 0,5 % 7201.20.00 - Gang thỏi không hợp kim có chứa hàm 0 I 0 0 0 0 0 0 I 0 0 0 0 0 0 0 I I 0 0 0 0 0 0 0 0 0 lượng phốt pho trên 0,5% 7201.50.00 - Gang thỏi hợp kim, gang kính 7202 Hợp kim sắt - Sắt măng gan 7202.11.00 - - có chứa hàm lượng các bon trên 2% 7202.19.00 - - Loại khác 0 - Sắt si – líc 7202.21.00 - - Có chứa hàm lượng si – líc trên 55% 7202.29.00 - - Loại khác 7202.30.00 - Sắt si – líc măng gan - Sắt Crôm 7202.41.00 - - Có chứa hàm lượng các bon trên 4% 7202.49.00 - - Các loại khác 7202.50.00 - Sắt si – líc crôm II- Sắt và thép không hợp kim 7206 Sắt và thép không hợp kim ở dạng thỏi 0 0 0 I I I 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 10 0 0 I I I 5 0 0 5 0 0 5 0 0 5 0 0 5 0 0 I I 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 I 1 1 1 1 1 I 1 1 1 1 1 I 3 3 3 3 3 hoặc các dạng thô khác 7206.10.00 - Dạng thỏi 1 7206.90.00 - Loại khác 1 7207 Sắt thép không hợp kim ở dạng bán thành phẩm - Có chứa hàm lượng các bon dưới 0,25% 7207.11.00 - - Mặt cắt ngang hình chữ nhật, có kích 10 thước chiều rộng nhỏ hơn hai lần chiều dày 7207.12.00 - - Loại khác có mặt cắt ngang hình chữ 1 nhật 7207.12.10 - - - Phôi dẹt 7207.12.90 - - - Loại khác NguyÔn V¨n Th«ng 3 10 Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 44 Chuyªn ®Ò thùc tËp chuyªn ngµnh 7207.19.00 - - Loại khác 10 7207.20.00 - Có chứa hàm lượng các bon bằng hoặc 1 I I 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 3 10 I 1 3 1 3 1 3 1 3 1 3 1 3 10 I 1 3 1 3 1 3 1 3 1 3 1 0 I 0 0 0 0 0 7208 7208.26.00 - - Chiều dày từ 3 m m đến 4,75 m m 0 7208.27.00 - - Chiều dày dưới 3 m m 0 - Loại khác, ở dạng không cuộn, chưa I I 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 I I 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 trên 0,25% - - Có chứa hàm lượng các bon từ 0,6% trở 7207.20.11 7207.20.19 7207.20.91 7207.20.99 lên - - - Phôi dẹt - - - Loại khác - - Loại khác - - - Phôi dẹt - - Loại khác 7208.25.00 - - Chiều dầy từ 4,75 m m trở lên Các sản phẩm sắt hoặc thép không hợp kim được cán mỏng, có chiều rộng từ 600 mm trở lên, được cán nóng, chưa phủ, mạ hoặc tráng được gia công quá mức cán nóng 7208.51.00 - - chiều dày trên 10 m m 0I0000072 - - Chiều dày từ 4,75 m m đến 10 m m 0 0 08.52.00 NguyÔn V¨n Th«ng Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 44
- Xem thêm -