Những thuận lợi , khó khăn và giải pháp nhằm thực hiện tốt chính sách việc làm ở tỉnh thừa thiên huế

  • Số trang: 14 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 42 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH CƠ SỞ HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH MIỀN TRUNG BÀI TIỂU LUẬN MÔN: HOẠCH ĐỊNH VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH CÔNG Đề tài: NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN VÀ GIẢI PHÁP NHẰM THỰC HIỆN TỐT CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM Ở TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Giảng viên: PGS.TS. NGUYỄN HỮU HẢI Học viên: Hoàng Thị Thu Hương Lớp: HCC 16M Huế, tháng 4, năm 2013 1 MỤC LỤC MỞ ĐẦU NỘI DUNG I. Sự cần thiết và ý nghĩa của giải quyết việc làm: II. Thực trạng về chính sách giải quyết việc làm tại tỉnh Thừa Thiên Huế: II. Một số giải pháp, kiến nghị nhằm thực hiện tốt chính sách việc làm ở tỉnh Thừa Thiên Huế: KẾT LUẬN 2 NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN VÀ GIẢI PHÁP NHẰM THỰC HIỆN TỐT CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM Ở TỈNH THỪA THIÊN HUẾ MỞ ĐẦU Việc làm là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia trên thế giới và là một nội dung quan trọng trong định hướng, đường lối, chủ trương phát triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ của mỗi nước. Việc làm gắn với tăng trưởng, phát triển kinh tế và ổn định xã hội. Ở nước ta trong những năm qua cùng với quá trình đổi mới của đất nước, bên cạnh những biện pháp thúc đẩy kinh tế phát triển, Đảng và nhà nước ta đã chú trọng nhiều đến các biện pháp tạo việc làm, nhằm làm cho chính sách việc làm thực sự là động lực thúc đẩy phát riển kinh tế, ổn định chính trị xã hội. Nằm trong bối cảnh chung của đất nước, tỉnh Thừa Thiên Huế đã và đang chú trọng đến công tác tạo việc làm ổn định và bền vững, có chất lượng nhằm giúp cho người lao động có thu nhập đảm bảo cuộc sống và ngày càng nâng cao, góp phần xoá đói giảm nghèo, hạn chế tệ nạn xã hội, góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà. NỘI DUNG I. Sự cần thiết và ý nghĩa của giải quyết việc làm: Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng của mỗi quốc gia có tác động không chỉ đối với sự phát triển kinh tế mà còn đối với đời sống xã hội của mỗi quốc gia. Việc làm vừa là tiền đề, vừa là điều kiện để thiết lập quan hệ lao động, vừa là điều kiện để quan hệ lao động tồn tại. Việc làm có thể hiểu như là cách thức kiếm sống của mỗi người, hoặc có thể hiểu đó là sự kết hợp sức lao động và tư liệu sản xuất để tạo ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu của con người. 3 Việc làm và giải quyết việc làm là vấn đề có ý nghĩa to lớn cả về kinh tế, xã hội và pháp lý, cả góc độ quốc gia và mỗi cá nhân người lao động. Chính vì vậy, Bộ luật lao động có quy định rõ ràng, đầy đủ về khái niệm, nội dung và trách nhiệm của nhà nước, trách nhiệm của từng thành viên trong xã hội đối với vấn đề việc làm. “Giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của nhà nước, của các doanh nghiệp và của toàn xã hội”. Đối với nước ta, người có việc làm là những người từ đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế, đang làm việc để nhận tiền lương tiền công, hoặc đang làm công việc dịch vụ cho bản thân, gia đình và các việc sản xuất kinh doanh của hộ gia đình. Giải quyết tốt việc làm cho người lao động là một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và phát triển con người. Vì vậy, giải quyết việc làm cho người lao động có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, là cơ sở cho sự tiến bộ, công bằng xã hội và khắc phục các tệ nạn xã hội, đảm bảo giữ trật tự kỷ cương và an toàn xã hội. Để giải quyết việc làm cho người lao động cần phải có chính sách việc làm. Vậy, chính sách việc làm và ý nghĩa của nó như thế nào? Chính sách việc làm là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các mục tiêu, các giải pháp và công cụ nhằm sử dụng lực lượng lao động và tạo việc làm làm cho lực lượng lao động đó. Nói cách khác, chính sách việc làm là sự thể chế hoá pháp luật của nhà nước trên lĩnh vực lao động và việc làm, là hệ thống các quan điểm, phương hướng mục tiêu và các giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động. Chính sách việc làm là một trong những chính sách xã hội cơ bản của mọi quốc gia nhằm góp phần đảm bảo an toàn ổn định và phát triển xã hội. Đối với nước ta, tạo thêm việc làm cho người lao động, kiềm chế thất nghiệp ở tỷ lệ thấp là 4 một trong những mục tiêu kinh tế vĩ mô mà Nhà nước thường xuyên quan tâm thực hiện. Chính sách việc làm tác động tới một vấn đề nhạy cảm, vừa có ý nghĩa về mặt kinh tế, vừa có ý nghĩa về mặt chính trị và xã hội. Chính sách việc làm có mối quan hệ biện chứng với các chính sách kinh tế- và các chính sách xã hội khác, đặc biệt là mối quan hệ chặt chẽ giữa chính sách việc làm với các chính sách như: chính sách dân số, chính sách giáo dục- đào tạo, chính sách cơ cấu kinh tế, chính sách công nghệ. Thực hiện tốt chính sách việc làm, nguồn nhân lực được sử dụng có hiệu quả thì hiện tượng thất nghiệp sẽ giảm đi, như vậy chính sách bảo hiểm xã hội sẽ giảm được chi phí cho các trợ cấp thất nghiệp. Khi chính sách việc làm chưa được giải quyết tốt, nhất là vào thời kỳ kinh tế suy thoái, nạn thất nghiệp sẽ tăng lên và cùng với nó là tình trạng đói nghèo, các tệ nạn xã hội sẽ dễ dàng phát sinh. Khi đó gánh nặng đối với các chính sách về bảo trợ xã hội, an ninh xã hội sẽ tăng lên, thậm chí có thể gây ra bất ổn định về chính trị, xã hội. Chính vì thế, để giữ vững ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xức của nhân dân thì giải quyết việc làm là yếu tố hết sức quan trọng. II. Thực trạng về chính sách giải quyết việc làm tại tỉnh Thừa Thiên Huế: Thừa Thiên Huế là một tỉnh ở vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung, với diện tích tự nhiên 5.054km2, dân số 1,1 triệu người, trong đó lao động 660.000 người;tỉnh có 9 đơn vị hành chính gồm 1 thành phố, 2 thị xã và 6 huyện. Thừa Thiên Huế là một tỉnh có tiềm năng thế mạnh được xác định tại Kết luận 48 của Bộ Chính trị, đó là : Thừa Thiên Huế là trung tâm thương mại, dịch vụ và giao dịch quốc tế và là một trong những đầu mối giao thông của khu vực miền Trung, Tây 5 nguyên và cả nước; một trong những trung tâm Khoa học và công nghệ lớn, một trong 3 trung tâm Y tế chuyên sâu của cả nước; là trung tâm giáo dục đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực chất lượng cao. Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội, chính sách việc làm và việc giải quyết việc làm cho người lao động được các cấp, các ngành và toàn xã hội quan tâm và đã đạt được những kết quả quan trọng, bình quân hàng năm (thời kỳ 2007 - 2012) đã giải quyết việc làm mới cho hơn 15.000 lao động. Riêng năm 2012, theo báo cáo của Sở Lao động- Thương binh và xã hội tỉnh đã giải quyết cho để giải quyết việc làm mới cho 16.769 lao động vào các lĩnh vực kinh tế- xã hội cũng như thông qua các chương trình vay vốn giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động và một phần vào khu vực hành chính sự nghiệp. Cụ thể: - Tạo việc làm thông qua phát triển kinh tế - xã hội, chương trình khuyến công, khuyến nông và các chương trình, dự án khác Năm 2012, tình hình kinh tế - xã hội của Tỉnh ổn định tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh qua đó đã thu hút thêm 11.477 lao động. Bên cạnh đó với các nguồn vốn từ chương trình khuyến công taọ việc làm cho 953 lao động, lao động làm việc trong lĩnh vực phi kết cấu tăng 1.600 lao động; ... và sự ổn định của nền kinh tế cũng đã tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động. - Về vốn vay giải quyết việc làm Dự án vay vốn giải quyết việc làm từ Quỹ Quốc gia về việc làm đóng vai trò hỗ trợ đắc lực tạo và tự tạo việc làm cho người lao động, góp phần nâng cao nhận thức của nhân dân và toàn xã hội về việc làm. Năm 2012 nguồn vốn vay giải quyết việc làm 33.106 triệu đồng đưa số người được thu hút từ nguồn vốn này lên khoảng 2.000 lao động. 6 - Việc hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài Năm 2012 tình hình xuất khẩu gặp nhiều bất lợi do tình hình chính trị một số nước chưa ổn định, tuy nhiên trong năm đưa được 80 lao động đi làm việc theo hợp đồng có thời hạn ở nước ngoài, chủ yếu là thị trường Nhật bản, Malayxia. - Ngoài ra khu vực hành chính sự nghiệp cũng đã thu hút được 677 người vào làm việc. Quá trình thực hiện chính sách việc làm ở Thừa Thiên Huế có những thuận lợi và khó khăn sau: * Về thuận lợi: - Thừa Thiên Huế là địa phương có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế, trong nhiều năm qua kinh tế được duy trì ổn định và có sự tăng trưởng khá cao, bình quân tốc độ tăng trưởng (GDP) bình quân hàng năm thời kỳ 2005 - 2010 đạt 12,2%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ du lịch tăng từ 78,6% ( năm 2005) lên 84,5%( năm 2010) và tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 21,6% xuống còn 15,4%. Năm 2012 cơ cấu kinh tế của tỉnh là : dịch vụ, du lịch chiếm 48%; công nghiệp- xây dựng chiếm 37,8%; nông- lâm- ngư nghiệp : 14,2%. Với sự phát triển nhanh, đa dạng và mở rộng của các ngành kinh tế cùng với nó là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý đã tạo ra lượng cầu lớn về lao động - đó là thuận lợi cơ bản, có tính chất quyết định để thực hiện chính sách việc làm cho người lao động. - Thừa Thiên Huế đã và đang trở thành trung tâm giáo dục - đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, có thương hiệu của miền Trung và cả nước. Đại học Huế bao gồm 11 trường đại học thành viên và cơ sở đào tạo trực thuộc, 6 trung tâm đào tạo 7 và phục vụ đào tạo; hệ thống ngành nghề đào tạo không ngừng phát triển với 93 ngành đào tạo cử nhân, 64 ngành đào tạo thạc sĩ và 22 ngành đào tạo tiến sĩ. Công tác đào tạo nghề không ngừng mở rộng về quy mô và loại hình đào tạo; toàn tỉnh có 5 trường cao đẳng, 8 trường trung học chuyên nghiệp, trung cấp nghề và 23 cơ sở dạy nghề, hàng năm đào tạo hơn 15.000 lao động đảm bảo nguồn cung lao động có tay nghề và chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh, đây là thuận lợi lớn không phải địa phương nào cũng có được. - Tỉnh uỷ, HĐND, UBND, các cấp, các ngành và toàn xã hội rất quan tâm đến công tác giải quyết việc làm cho người lao động.Tỉnh đã ban hành chương trình mục tiêu quốc gia về giải quyết việc làm và xây dựng kế hoạch thực hiện hàng năm. Nhận thức và tư duy về việc làm không ngừng được đổi mới, đã chuyển từ trách nhiệm chính là Nhà nước lo sang toàn xã hội, mọi người và từng người lao động cùng lo- điều đó đã tạo ra khả năng và cơ hội lớn về giải quyết việc làm trong toàn xã hội. * Về khó khăn: - Tuy kinh tế và cơ cấu kinh tế của tỉnh có sự phát triển và chuyển dịch tích cực nhưng khả năng thu hút lao động còn chậm. Ngay cả ngành công nghiệp là nơi có khả năng thu hút lao động lớn nhưng thời gian qua và hiện tại lao động tham gia trong ngành chưa nhiều; toàn tỉnh có 6 khu công nghiệp với diện tích quy hoạch 2.168 ha nhưng đến nay cũng chỉ mới thu hút được 14.000 lao động. Trong nông nghiệp và nông thôn, quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá và hiện đại hoá đã làm thu hẹp dần đất nông nghiệp cùng với nó là việc áp dụng máy móc, kỹ thuật vào sản xuất đã làm cho lao đông trong nông nghiệp, nông thôn dôi dư ngày càng nhiều, thời gian nông nhàn, thiếu việc làm này càng lớn nhưng việc chuyển đổi nghề nghiệp, khôi phục và phát triển ngành nghề trong nông thôn còn nhiều khó 8 khăn và hạn chế. Trong điều kiện như thế nhưng nguồn cung bổ sung vào độ tuổi lao động hàng năm trên địa bàn tỉnh khá lớn khoảng 20.000 người, chưa kể số lao động chưa có việc làm từ các năm trước và số lao động ở địa phương đi làm ăn xa muốn về địa phương cũng khá lớn ( theo thống kê hiện có hơn 60.000 người đang đi làm ở các tỉnh, thành khác trong cả nước)- Điều đó đã tạo một áp lực không nhỏ trong việc thực hiện chính sách việc làm cũng như giải quyết việc làm cho người lao động ở địa phương. - Thừa Thiên Huế có hệ thống giáo dục- đào tạo và ngành nghề phát triển nhưng giữa đào tạo và sử dụng chưa có sự gắn kết chặt chẽ, đào tạo theo kế hoạch hơn là đào tạo theo địa chỉ; giữa doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và tổ chức, cơ sở đào tạo còn có khoảng cách. Hạn chế đó một phần do tầm nhìn và công tác quản lý, nhưng một phần quan trọng là do văn hoá và nhận thức của gia đình và người lao động, người lao động muốn học nghề mình thích hơn là học những nghề thực tế xã hội đang cần; không biết có phải nét riêng của Huế hay không nhưng đối với các gia đình ở Huế đều muốn con em mình làm thầy hơn làm thợ, bằng mọi cách cho con em mình thi vào các trường đại học, không đậu năm nầy thì thi năm khác, không muốn cho con em đi học nghề, điều đó làm cho việc phân luồng học sinh từ phổ thông khó thực hiện; kết quả đưa đến một cơ cấu ngành nghề được đào tạo trong đội ngũ người lao động thiếu hợp lý vì vậy tình trạng người lao động được đào tạo ra không tìm được việc làm là khá phổ biến và khá đông trên địa bàn của tỉnh. - Tính cách và tâm lý người dân Huế là ít mạo hiểm, thích tích luỹ và tiết kiệm, thiếu mạnh dạn bỏ vốn đầu tư, hơn nữa thích có công ăn việc làm ổn định nên mong muốn được làm việc trong khu vực Nhà nước hơn vào làm việc ở khu vực tư do đó cơ hội tự tạo việc làm của người lao động bị thu hẹp. 9 - Công tác quản lý, chính sách ưu đãi, hỗ trợ tạo việc làm, thị trường lao động còn có những hạn chế, chưa thực sự thông thoáng. II. Một số giải pháp, kiến nghị nhằm thực hiện tốt chính sách việc làm ở tỉnh Thừa Thiên Huế: Theo báo cáo của Sở Lao động- Thương binh và xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế, dân số trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ cao và ngày một tăng theo sự gia tăng của dân số, mỗi năm nguồn nhân lực được bổ sung thêm khoảng 20.000 lao động, cộng với số người chưa được giải quyết việc làm của năm trước và lực lượng lao động dôi dư do quá trrình sắp xếp đổi mới doanh nghiệp; quá trình đô thị hoá làm thu hẹp đất sản xuất nông nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị vẫn ở mức cao và có xu hướng ngày càng tăng; tình trạng thiếu việc làm, thời gian nông nhàn ở nông thôn còn quá nhiều. Điều đó đã đặt ra những vấn đề bức xúc trong xã hội, từ tình hình bức xúc đó, đòi hỏi để giải quyết việc làm cho người lao động, phải giải quyết nhiều vấn đề như tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho tất cả các thành phần kinh tế, đầu tư phát triển rộng rãi các cơ sở sản xuất, kinh doanh, tạo nhiều việc làm và phát triển thị trường lao động; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội phù hợp với cơ cấu kinh tế. Tỉnh Thừa Thiên Huế đề ra nhiều chủ trương, chính sách, chương trình kinh tế- xã hội nhằm giải quyết việc làm cho người lao động. Đó chính là một quá trình đổi mới chính sách về việc làm cả từ tư duy, nhận thức đến hành động, đổi mới cả về nội dung và hình thức, từ chỗ vấn đề giải quyết việc làm do nhà nước lo là chủ yếu, nay đã thay đổi cơ bản ở chỗ giải quyết việc làm là trách nhiệm của mọi ngành, mọi cấp, mọi tổ chức và mọi người trong xã hội, bản thân người lao động được tự do lựa chọn việc làm phù hợp. Sự đổi mới chính sách về việc làm 10 thực sự tác động có hiệu quả đến thực tiễn, dần làm giảm bớt tính bức xúc của vấn đề việc làm cho người lao động trong xã hội. Tuy nhiên đó chỉ là bước đầu, quá trình thực hiện chính sách về việc làm, thực tiễn luôn đòi hỏi và đặt ra những vấn đề mới. Bên cạnh những kết quả và thuận lợi, chính sách và việc thực hiện chính sách việc làm ở tỉnh Thừa Thiên Huế vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức. Trong quá trình học tập và từ thực tiễn ở địa phương, bản thân có mong muốn và cố gắng tìm hiểu, phân tích những thuận lợi, khó khăn trong thực hiện chính sách việc làm ở tỉnh nhà, qua đó đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm thực hiện tốt chính sách việc làm ở địa phương. Cụ thể như sau: Một là, nghiên cứu, xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sách về lao động, việc làm và thị trường lao động phù hợp tình hình thực tế của tỉnh nhà; đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng minh bạch, công khai và đơn giản; tăng cường phân cấp, nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương nhằm tạo hành lang pháp lý cho hoạt động trong lĩnh vực lao động - việc làm. Hai là, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước và quốc tế cho đầu tư phát triển, nhất là những vùng, ngành, lĩnh vực có khả năng thu hút nhiều lao động như: các vùng kinh tế trọng điểm, khu vực dân doanh, trước hết là các doanh nghiệp vừa và nhỏ; kinh tế trang trại, hợp tác xã, làng nghề, xã nghề tiểu thủ công nghiệp ...; khu vực dịch vụ, nhất là các dịch vụ thu hút nhiều lao động kết hợp khai thác tiềm năng, thế mạnh của tỉnh. Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa để tạo thêm nhiều việc làm tại chỗ, góp phần giảm bớt áp lực về lao động ra thành phố làm việc. 11 Ba là, tăng cường sự hỗ trợ của Nhà nước trong giải quyết việc làm và phát triển thị trường lao động thông qua việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, thực hiện lồng ghép có hiệu quả Chương trình với các chương trình mục tiêu quốc gia khác (về giáo dục - đào tạo, về giảm nghèo...) và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trên địa bàn cấp tỉnh, thành phố. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động nhằm mục đích xóa nghèo bền vững. Quan tâm công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, coi đây là một trong những giải pháp góp phần tạo việc làm cho người lao động. Bốn là, hoàn thiện và phát triển thị trường lao động, góp phần vào việc hình thành đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đó, tập trung vào các nội dung như: xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động nhằm phổ biến rộng rãi cho mọi đối tượng có nhu cầu; phát triển đồng bộ hệ thống giao dịch trên thị trường theo hướng quy hoạch tổng thể hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm và các cơ sở giới thiệu việc làm, đầu tư nâng cao năng lực các trung tâm, đa dạng hóa các "kênh" giao dịch trên thị trường lao động; tổ chức thường xuyên, định kỳ các sàn giao dịch việc làm để có thể kết nối hoạt động giao dịch trên phạm vi toàn quốc. Năm là, tăng cường công tác đào tạo nghề, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cả về trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng tay nghề; thực hiện liên thông giữa các cấp trình độ; giáo dục - đào tạo theo định hướng gắn với cầu lao động, đồng thời, nâng cao hiểu biết về pháp luật, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp và nâng cao thể lực đảm bảo cung cấp đội ngũ lao động có chất lượng cả về thể lực và trí lực, đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất công nghiệp. Đây là một quá trình lâu dài với nhiều cơ chế, chính sách thích hợp, đòi hỏi có sự tham gia của tất cả các cấp, các ngành và phải thực hiện ngay từ bậc học phổ thông. 12 Sáu là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người lao động, các doanh nghiệp, các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội trong giải quyết việc làm. Làm cho người lao động có nhận thức mới về học nghề và giải quyết việc làm; loại dần ý thức "thích làm thầy, không thích làm thợ", muốn làm việc trong các cơ quan và doanh nghiệp Nhà nước, không muốn làm việc trong các thành phần kinh tế khác, trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước,... Nâng cao nhận thức đối với lãnh đạo các ngành, các cấp, các tổ chức chính trị xã hội và toàn dân trong công tác giải quyết việc làm cho lao động. Việc đầu tư phát triển phải gắn liền với mục tiêu giải quyết việc làm cho lao động. Tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để mọi người lao động có cơ hội tìm việc làm và tạo việc làm cho mình thông qua cơ chế chính sách hỗ trợ vốn, dạy nghề, phát triển hạ tầng,... Bảy là, hoàn thiện và phát triển hệ thống an sinh xã hội. Phải mở cửa thị trường, thực hiện theo các quy luật của thị trường, kèm theo đó là chúng ta sẽ đối mặt với những tác động tiêu cực từ thị trường, nhất là trong vấn đề xã hội. Tám là, tăng cường công tác giám sát đánh giá. Phát huy đồng bộ các hệ thống giám sát, đánh giá chất lượng đào tạo, năng lực đào tạo theo nhiều hình thức như: Giám sát từ trên xuống, giám sát từ cơ sở, tự giám sát, ... Vì vậy, hệ thống an sinh xã hội là một công cụ quan trọng để góp phần ngăn ngừa và hạn chế những tiêu cực này. Trong thời gian tới, hệ thống an sinh xã hội cần tập trung vào các chính sách đối với lao động nông thôn bị mất việc làm, thiếu việc làm do quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, đối với lao động dôi dư và các chính sách về bảo hiểm xã hội, đặc biệt là bảo hiểm thất nghiệp, ... tạo cơ hội cho mọi đối tượng đều được hưởng thành quả từ hội nhập, thực hiện mục tiêu phát triển vì con người của Đảng ta. 13 KẾT LUẬN Nói tóm lại, việc làm và chính sách giải quyết việc làm là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lực lao động, góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước nói chung và tỉnh thừa Thiên Huế nói riêng. Cho nên chúng ta cần đồng thời phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp cơ bản và hữu hiệu để việc thực hiện chính sách việc làm ở trên địa bàn tỉnh ngày càng hiệu quả hơn. Qua quá trình học tập và nghiên cứu, bản thân đã cố gắng để hoàn thành nhiệm vụ của mình nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được sự góp ý của quý Thầy để bản thân học hỏi thêm. Em xin chân thành cảm ơn Thầy nhé! 14
- Xem thêm -