Những giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT huyện Như Xuân tỉnh Thanh Hoá

  • Số trang: 64 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 35 |
  • Lượt tải: 0
tranphuong

Đã đăng 58976 tài liệu

Mô tả:

LUẬN VĂN: Những giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT huyện Như Xuân tỉnh Thanh Hoá Lời Mở đầu Với mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà Nước, trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà Nước, nền kinh tế nước ta đã có những bước phát triển, tăng trưởng toàn diện và bền vững. Biểu hiện ở tốc độ tăng GDP đạt ở mức tương đối cao, những năm gần đây luôn ở mức gần 10%, từ đó thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành nghề, đồng thời cải thiện được nhiều lĩnh vực đời sống của nhân dân. Có được những thành tựu đó một phần không nhỏ là sự đống góp của các NHTM. Với các chức năng của mình đặc biệt là chức năng trung gian tín dụng, các NHTM thực sự là đòn bẩy thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Bên cạnh những đóng góp chung cho nền kinh tế, bản thân các NHTM còn tìm kiếm lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của mình. Khi đó tất yếu họ phải đối mặt với những rủi ro. Với các NHTM thực hiện quá trình kinh doanh nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận nhưng việc tìm kiếm lợi nhuận vẫn chủ yếu từ hoạt động tín dụng.Các NHTM hiện nay đều có chiến lược mở rộng thị phần tín dụng vì thế RRTD sẽ gây ra những thiệt hại rất lớn cho các NH và nó trở thành vấn đề nổi cộm cần được các NH quan tâm giải quyết. Để đảm bảo an toàn cho hoạt động của các NH trên con đường tìm kiếm lợi nhuận thì việc phòng ngừa và hạn chế RRTD là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, từ đó đảm bảo an toàn vốn, kết hợp ở mức tối ưu những lợi nhuận và rủi ro, nâng cao mức cạnh tranh, từ đó bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển bền vững của mỗi NH. Do đó phòng ngừa và hạn chế RRTD đã và đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu của các NHTM hiện nay. Từ những nhận thức đó cùng với những gì đã được học ở trường CĐ Tài chínhQuản trị kinh doanh và sự hướng dẫn nhiệt tình của cô giáo em đã chọn đề tài” Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT Huyện Như Xuân Tỉnh Thanh Hoá” để làm chuyên đề tốt nghiệp của mình. Thực hiện đề tài này giúp em đánh giá được những vấn đề mang tính lý luận về RRTD trong HĐKD của NHTM nói chung từ đó vận dụng thực tiễn vào quá trình công tác sau khi ra trường. Kết cấu khoá luận gồm 3 chương: Chương I: Những lý luận cơ bản về rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường Chương II: Thực trạng rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT huyện Như Xuân tỉnh Thanh Hoá. Chương III: Những giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT huyện Như Xuân tỉnh Thanh Hoá. chương I những lý luận cơ bản về rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường 1. hoạt động của NHTM trong nền kinh tế thị trường và rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM. 1.1- Hoạt động cơ bản của NHTM trong nền kinh tế thị trường. 1.1.1- Khái niệm NHTM. NHTM là loại hình tổ chức tín dụng được tham gia thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và hoạt động khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận. Theo pháp lệnh Ngân hàng ngày 23/3/1990: NHTM là 1 tổ chứckinh doanh tiền tệ mà hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Các NHTM có thể được tổ chức dưới các hình thức sở hữu khác nhau như: NH sở hữu NN, NH cổ phần, NH liên doanh, chi nhánh NH nước ngoài. Hoạt động truyền thống của các NHTM là huy động vốn, nhận tiền gửi không ký hạn, làm trung gian thanh toán, cho vay ngắn, trung và dài hạn. 1.1.2- Vai trò của NHTM - Trung gian tín dụng: NHTM tập trung thu hút những nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội tạo thành quỹ cho vay, trên cơ sở đó để cho vay, đáp ứng mọi nhu cầu về vốn cho nền kinh tế. Với vai trò này NHTM đã khắc phục được hạn chế từ TD trực tiếp. Để thực hiện vai trò này NHTM cần giải quyết câu hỏi: Thu hút vốn từ lĩnh vực nào? chủ thể nào? đáp ứng vốn cho nhu cầu gì? chủ thể nào? - Trung gian thanh toán: Xuất phát từ hoạt động thường xuyên và chủ yếu của NHTM là nhận tiền gửi, từ đó NH trở thành thủ quỹ cho mọi chủ thể trong xã hội, như vậy nó trở thành trung gian thanh toán. Với vai trò này NHTM đã góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông, tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn. - Góp phần tăng cường thu hút vốn đầu tư nứơc ngoài và mở rộng đầu tư ra nước ngoài. +Thu hút vốn đầu tư nước ngoài: Đầu tư trực tiếp (FDI): Hệ thống các NHTM cung cấp các dịch vụ NH, qua đó tạo lập cơ sở hạ tầng về tài chính, đây là một trong những yếu tố mà nhà đầu tư nước ngoài cân nhắc khi họ đưa ra quyết định. Đầu tư gián tiếp (đầu tư vào các danh mục chứng khoán): NHTM tham gia hoạt động trên thị trường chứng khoán với tư cách môi giới, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư, tư doanh, từ đó góp phần vào sự phát triển của thị trường chứng khoán và tạo môi trường thu hút vốn đầu tư nước ngoài. + Đầu tư nước ngoài: Bằng việc mở rộng hoạt động ra nước ngoài, các NHTM sẽ có khả năng tiếp tục cung ứng các dịch vụ NH cho các nhà đầu tư ra nước ngoài, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư vốn ra nứơc ngoài. - Cung cấp các dịch vụ tài chính khác cho nền kinh tế. + Kinh doanh dịch vụ: Chuyển tiền, tư vấn, uỷ thác(nhận uỷ thác trong việc quản lý TS, phân chia TS, bảo quản TS), kinh doanh dịch vụ bảo hiểm. + Thực hiện các nghiệp vụ phái sinh: Đó là các giao dịch về kỳ hạn, tương lai quyền chọn, hoán đổi... + Nghiệp vụ ngoại bảng: Là các nghiệp vụ bảo lãnh NH, các cam kết khác. 1.1.3- Hoạt động cơ bản của NHTM. Hoạt động thường xuyên và chủ yếu của NHTM là nhận tiền gửi và kinh doanh tiền tệ. Thể hiện: Trên báo cáo cân đối TS: Tổng huy động tiền gửi cho tổng vốn; Tổng cho vay trên tổng TS chiếm tỷ trọng lớn. Trên báo cáo thu nhập, chi phí: Thu lãi cho vay, trả lãi tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn nhất. Từ đó chúng ta có thể nhận xét: Để đảm bảo sự tồn tại và phát triển NH cần quan tâm đến các biện pháp bảo đảm an toàn trong kinh doanh, qua đó duy trì uy tín với khách hàng. 1.2- Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM. 1.2.1- Rủi ro lãi suất. - Khái niệm: RR lãi suất là tổn thất mà ngân hàng gặp phải khi có sự biến động về lãi suất trên thị trường. - Nguyên nhân gây ra RR lãi suất: + Do sự không cân xứng về kỳ hạn TS có và kỳ hạn TS nợ. + Do lãi suất trên thị trường thay đổi làm dịch chuyển đường cầu tiền hoặc đường cung tiền. 1.2.2- Rủi ro hối đoái. - Khái niệm: RR hối đoái là khoản lỗ tiềm tàng mà ngân hàng phải gánh chịu khi có sự thay đổi về tỉ giá hối đoái trên thị trường. - Nguyên nhân: + Do trạng thái loại tiền không cân xứng (chênh lệch về TS có ngoại tệ và TS nợ ngoại tệ). + Do tỷ giá thay đổi: Tỷ giá thay đổi từ các nguyên nhân như: Chênh lệch giá cả hàng hoá các quốc gia, chênh lệch lãi suất 2 đồng tiền, thị hiếu người tiêu dùng, chính sách chính phủ... 1.2.3- Rủi ro tín dụng. - Khái niệm: RRTD là khoản lỗ tiềm tàng mà Ngân hàng gặp phải khi cấp tín dụng cho khách hàng. - Các loại RRTD: +Rủi ro đọng vốn: Liên quan về mặt thời gian khi đến hạn khách hàng không trả được nợ ngay ảnh hưởng đến kế hoạch KD. + Rủi ro mất vốn: Liên quan về mặt số lượng. Khách hàng không trả một phần hoặc toàn bộ nợ cho NH. 1.2.4- Rủi ro khác. -Rủi ro thanh khoản: RR thanh khoản là khoản lỗ tiềm tàng mà ngân hàng phải gánh chịu khi không có đủ vốn đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Nguyên nhân dẫn đến RR thanh khoản: Do sự không cân xứng về kỳ hạn; dân chúng mất lòng tin vào ngân hàng do sự thay đổi lãi suất trên thị trường; do sự thay đổi sở thích của các nhà đầu tư; do trình độ quản lí của các nhà quản trị NH. -RR hoạt động ngoại bảng: Là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng phải sử dụng vốn kinh doanh của mình để thực hiện nghĩa vụ phát sinh theo cam kết trong hợp đồng ngoại bảng. -RR công nghệ và hoạt động: RR công nghệ phát sinh khi những khoản đầu tư cho phát triển công nghệ không tạo ra được những khoản tiết kiệm không chi phí như đã tính khi mở rộng quy mô hoạt động. RR hoạt động xảy ra khi hoạt động của ngân hàng không được thông suốt lam phát sinh những nguồn chi phí ngoài dự tính (thường bị ảnh hưởng bởi do rủi ro công nghệ). -RR quốc gia: Là những RR mà ngân hàng gặp phải khi chịu sự điêu chỉnh không có lợi từ pháp luật, chính sách của quốc gia. Thông thường liên quan đến việc thu hồi tài sản của NH. 2. rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. 2.1- Khái niệm về rủi ro tín dụng. RRTD phát sinh trong trường hợp NH không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng hạn. Trong trường hợp người vay tiền phá sản thì việc thu hồi gốc và lãi TD đầy đủ là không chắc chắn, do đó NH có thể gặp RRTD. Như vậy: RRTD là khoản lỗ tiềm tàng mà Ngân hàng gặp phải khi cấp tín dụng cho khách hàng. Hay chúng ta còn có thể khái niệm về RRTD một cách đầy đủ như sau: “RRTD là những thiệt hại, mất mát mà Ngân hàng phải gánh chịu do người vay vốn hay người sử dụng vốn của Ngân hàng không trả đúng hạn, không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng tín dụng với bất kì lí do nào.” Đối với NHTM hiện nay hoạt động TD vẫn là hoạt động chủ yếu, nó đem lại lợi nhuận lớn nhất trong HĐKD của NHTM, tuy nhiên nó cũng tiềm ẩn RR rất lớn. Vì vậy, việc mở rộng hoạt động cấp TD cần phải có căn cứ phân tích hết sức chặt chẽ để hạn chế RRTD ở mức chấp nhận được. 2.2- Các loại RRTD. RRTD được đánh giá trên cơ sở thu hồi vốn vay, các NHTM có thể gặp phải các trường hợp như thu hồi không đủ vốn, thu hồi đủ vốn nhưng không đúng kỳ hạn, thu hồi không đủ vốn và không đúng kỳ hạn. Như vậy chúng ta có thể đánh giá RRTD theo 2 loại là RR đọng vốn và RR mất vốn. 2.2.1- Rủi ro đọng vốn. RR đọng vốn xảy ra khi Ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng mà đến kì hạn trả nợ khách hàng không trả nợ ngay như đã cam kết, từ đó ảnh hưởng đến kế hoạch HĐKD của Ngân hàng. RR đọng vốn liên quan về mặt thời gian trả nợ. Đối với NHTM thì việc khách hàng trả nợ đúng hạn lại rất quan trọng, nó liên quan đến khả năng thanh khoản của NH. Việc khách hàng chậm trả nợ sẽ có thể dẫn đến NH thiếu đi khả năng thanh toán những hợp đồng huy động vốn đáo hạn. Khi gặp RR đọng vốn, những ảnh hưởng cơ bản mà NHTM phải gánh chịu đó là: - Về kinh tế: NHTM khi thiếu hụt khả năng thanh khoản sẽ không chủ động được vốn, cách giải quyết thông thường là các NHTM sẽ đi vay hoặc chủ bán chứng khoán đầu tư...cho dù giải quyết bằng cách nào đi nữa thì chúng ta cũng có thể nhìn thấy rằng chi phí biên cho hình thức này sẽ cao hơn việc NH tự cân đối vốn theo KHKD. Một mặt phải tăng chi phí huy động vốn mới, mặt khác các món vay đọng vốn rất khó có khả năng thu đủ lãi, từ đó vừa gia tăng chi phí vừa giảm thu nhập cho các NHTM. Bên cạnh đó là việc phát sinh nợ quá hạn buộc NHTM phải tăng chi phí cho việc trích lập dự phòng RRTD. - Về quản lý: Khi gặp RR đọng vốn, nhà quản lý sẽ bị động, không thực hiện đúng theo KHKD, tất yếu chính sách quản lý sẽ cần đựơc thay đổi cho phù hợp với điều chỉnh KHKD. - Về uy tín NH: Trong môi trường KD hiện nay việc giữ uy tín là vấn đề hết sức quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của NHTM. Khi gặp RR đọng vốn nếu không giải quyết kịp thời để có nguồn vốn bù đắp phần vốn đọng, thanh toán đúng thời hạn cho các hợp đồng huy động vốn đáo hạn thì NHTM sẽ mất uy tín với khách hàng. 2.2.2- Rủi ro mất vốn. RR mất vốn khi NH cấp tín dụng cho khách hàng mà đến kỳ hạn trả nợ khách hàng không hoàn trả một phần hoặc toàn bộ nợ cho NH. RR mất vốn liên quan về mặt số lượng tiền vay: NH không thu được một phần hoặc toàn bộ nợ vay khách hàng. Khi gặp RR mất vốn NH gặp phải những thiệt hại như sau: - Về kinh tế: Hiệu quả KD giảm, NH bị thất thoát vốn đồng thời làm giảm vốn tự có, đến một mức nào đó NHTM có thể phải đứng trước nguy cơ phá sản. Bên cạnh việc mất vốn thì những khoản nợ này cũng sẽ không thu hồi đủ lãi, việc này sẽ làm thu hẹp chênh lệch lãi suất của NHTM. - Về quản lý: Nhà quản lý sẽ không chủ động về vốn, không thực hiện được KHKD. Mất vốn thường được đánh giá do khả năng quản lý yếu kém. - Về uy tín: Các NHTM có tỷ lệ vốn bị thất thoát cao sẽ mất uy tín trên thị trường tiền tệ, thị trường liên NH, thị trường chứng khoán và mất cả uy tín với khách hàng gửi tiền vì họ thấy khả năng quản lý vốn kém của NH. Như vậy: RR đọng vốn và mất vốn đều khiến các NHTM gặp nhiều thiệt hại lớn về kinh tế, quản lý và uy tín. Việc xây dựng một tỷ lệ RR cho phép là rất cần thiết đối với các NHTM. 2.3- Một số chỉ tiêu và mô hình đo lường RRTD. 2.3.1- Các chỉ tiêu đo lường RRTD Để có mức độ RRTD hợp lý trong HĐKD của NHTM thì việc đo lường RRTD sẽ là cần thiết từ đó giúp các nhà quản lý có được biện pháp phòng ngừa và hạn chế RRTD, việc đo lường đó phải mang tính chất thường xuyên, có phân tích đánh giá qua sự kết hợp với các số liệu lịch sử. Các chỉ tiêu cơ bản để đo lường RRTD gồm: + Cơ cấu dư nợ và kết cấu nợ theo ngành nghề: Thực tế chúng ta có thể thấy rằng: Đối với việc quản lý nợ ngắn hạn sẽ chặt chẽ hơn nợ trung và dài hạn, chính vì vậy với một NH có tỷ trọng nợ trung và dài hạn cáng lớn thì sẽ tiềm ẩn nhiều RR hơn. Đối với kết cấu dư nợ: Nếu dư nợ tập trung quá vào một khách hàng, một ngành nghề, thành phần kinh tế...sẽ tiềm ẩn nhiều RR. Chính vì vậy viẹc đề ra giới hạn cho vay tối đa là hết sức quan trọng cho việc chia sẻ RR. + Tỷ lệ nợ xấu: Theo QĐ 493 thì nợ xấu bao gồm: Nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn. Ba nhóm nợ này là cơ sở để đo lường chất lượng TD của NHTM. Tỷ lệ nợ xấu càng cao thì nợ có vấn đề càng lớn, tuy nhiên không phải khoản nợ xấu nào cũng dẫn đến RRTD vì về mặt định tính có thể có những món nợ nằm trong nhóm này nhưng không phải do đọng vốn cũng không hẳn đã mất vốn. + Tỷ lệ: Nợ xấu có khả năng tổn thất/ Tổng nợ xấu: Đây là chỉ tiêu trực tiếp phản ánh RR, với nợ nhóm 5 thì mức độ RR gần như 100%, với nhóm này do thời gian quá hạn dài, hoặc những món nợ đánh giá theo định tính có mức RR 100%, như vậy kết quả xử lý thu hồi và qua đánh giá thì nợ nhóm này rất khó thu. Với loại này sau khi đã xử lý TSBĐ để thu hồi nợ mà không đủ sẽ phải dùng đến quỹ DPRR nợ khó đòi để xử lý. + Tỷ lệ: Quỹ DPRR/ Nợ có khả năng mất vốn: Tỷ lệ này phản ánh khả năng chống đỡ RRTD từ quỹ dự phòng. Thông thường thì tỷ lệ này lớn hơn 100% vì riêng nợ nhóm 5 đã phải trích đủ 100% số tiền để đưa vào quỹ dự phòng RR nợ khó đòi. Tuy nhiên về mặt lý thuyết chúng ta có thể thấy nếu một NHTM có nợ nhóm 5 quá lớn, giả sử khi đó khả năng tài chính không đủ để trích dự phòng, khi đó sẽ không đủ quỹ dự phòng để xử lý RRTD và NHTM phải đối mặt với nguy cơ phá sản. Vì thế chỉ tiêu này càng lớn càng đảm bảo tính an toàn trong HDKD của NHTM. + Tỷ lệ: Lãi treo/ Tổng dư nợ: Lãi treo là số tiền khách hàng không trả được khi đến hạn thanh toán lãi. Lãi treo cáng lớn thì quỹ dự phòng lãi phải thu càng cao. Đây cũng là một dấu hiệu quan trọng để nhận biết RRTD vì lãi không thu được thông thường sẽ dẫn đến mất vốn. Trên thực tế đa số các NHTM thay tỷ lệ này bằng tỷ lệ lãi suất đầu ra để so sánh với lãi phải thu. 2.3.2- Mô hình đo lường RRTD Các nhà kinh tế, nhà phân tích NH đã sử dụng nhiều mô hình khác nhau để đánh giá khả năng TD. Các mô hình này rất đa dạng bao gồm các mô hình phản ánh về mặt định lượng và những mô hình phản ánh về mặt định tính. Thông thường các NH sử dụng đồng thời nhiều mô hình để phân tích, đánh gía mức độ RR. - Mô hình định tính về RRTD: + Phân tích TD: Đối với mỗi đề nghị vay vốn, CBTD cần phải trả lời được các câu hỏi căn bản sau: Người vay có thể tín nhiệm? CBTD biết họ như thế nào? Hợp đồng TD có được ký kết một cách đúng đắn và hợp lệ không? Người xin vay có khả năng hoàn trả nợ vay không? Trong trường hợp khách hàng không trả nợ liệu NH có thể thu hồi nợ bằng TS, thu nhập của người vay một cách nhanh chóng với chi phí và RR thấp? + Kiểm tra TD: Kiểm tra TD rất cần thiết để hình thành chính sách cho vay của NH một cách lành mạnh. Nó không ngừng giúp cho nhà quản lý nhânj ra những vấn đề một cách nhanh chóng mà còn có tác dung kiểm tra thường xuyên xem CBTD có chấp hành đúng chính sách cho vay của NH không. Với lý do này đồng thời tăng cường tính khách quan của công tác TD, kiểm tra TD độc lập giúp nhà quản lý đánh giá toàn bộ tiềm ẩn RR đối với NH. Từ đó đề ra các biện pháp phòng chống cũng như định hướng chính sách quỹ dự trữ bù đắp RR, chiến lược tăng vốn chủ sở hữu của NH trong tương lai. + Xử lý TD có vấn đề: Giải pháp tối ưu là phải bảo đảm thu hồi được nợ đồng thời tạo cơ hội cho khách hàng có thể duy trì hoạt động tiếp theo một cách bình thường. Một hợp đồng TD của NH thì khi trở thành khoản TD có vấn đề, nhưng mặt khác, một hợp đồng TD không đúng đắn, có sai sót có thể góp phần làm cho khách hàng gặp phải các vấn đề về tài chính và là nguyên nhân khiến cho khách hàng có thể trở nên bị vỡ nợ. + Hệ thống chỉ tiêu tài chính đánh giá khách hàng: Hệ thống chỉ tiêu này gồm: Nhóm chỉ tiêu thanh khoản, nhóm chỉ tiêu hoạt động, nhóm chỉ tiêu đòn bẩy, nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời. Tóm lại: TD luôn là chức năng kinh tế cơ bản của NH, nhưng đồng thời cũng chứa đựng tiềm ẩn RR cao. Để có thể kiểm soát được RRTD thì chức năng cho vay của NH phải được thực hiện một cách chặt chẽ nhằm tuân thủ chính sách và thực hành TD của NH. Ngoài ra để kiểm soát RRTD các NH thường xây dựng một chính sách TD và quy trình nghiệp vụ cấp TD. - Mô hình lượng hoá RRTD: + Mô hình điểm số Z: Theo mô hình này chúng ta có thể thấy cho điểm TD đối với các DN, đại lượng Z là thước đo tổng hợp để phân loại RRTD đối với người vay. Cụ thể: Z = 1,2 X1 + 1,4X2 + 3,3 X3 + 0,6X4 + 1,0X5 Trong đó: X1= Tỷ số Vốn lưu động ròng/ Tổng tài sản X2= Tỷ số Lợi nhuận giữ lại/ Tổng tài sản. X3= Tỷ số Lợi nhuận trước thuế và lãi/ Tổng tài sản. X4= Tỷ số Trị giá cổ phiếu / Giá trị ghi sổ của nợ dài hạn X5= Tỷ số Doanh thu / Tổng tài sản. Các hệ số biểu hiện tầm quan trọng của các chỉ số trong việc xác định suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ. Theo mô hình này bất cứ công ty nào có điểm số Z thấp hơn 1,81 phải được xếp vào nhóm có nguy cơ RR cao. Thực tế mô hình này còn có những hạn chế nhất định như: chỉ phân loại khách hàng thành 2 nhóm, các biến số X không phải là bất biến, mô hình không đề cập tới một số nhân tố quan trọng như danh tiếng khách hàng, quan hệ khách hàng với ngân hàng, chu kì kinh tế.... + Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng: Đó là mô hình cho điểm khách hàng theo những tiêu chí nhất định. Qua các hạng mục cho điểm, NH sẽ chấm điểm khách hàng từ đó ra quyết định tín dụng. Mô hình này đã loại bỏ được phán xét chủ quan trọng quá trình cho vay, giảm đáng kể thời gian các tín dụng của NH.Tuy nhiên nó có nhược điểm là cứng nhắc không điều chỉnh nhanh để thích ứng với thay đổi của nền kinh tế. + Mô hình cấu trúc kì hạn RRTD. Đây là phương pháp dựa trên các yếu tố thị trường để đánh giá RRTD và phân tích mức chấp nhận RR gắn liền với mức sinh lời của khoản nợ công ty hay khoản vay NH. Với mô hình này chúng ta sẽ đánh giá về RRTD đối với NH khi mua trái phiếu có kỳ hạn 1 năm và trái phiếu dài hạn. 2.4- Nguyên nhân dẫn đến RRTD. RRTD xảy ra do rất nhiều nguyên nhân. Cho dù nguyên nhân từ đâu thì RRTD tất yếu làm giảm hiệu quả KD của NH, điêù tệ hại có thể dẫn đến mất vốn và nguy cơ phá sản. Chính vì thế việc phân tích nguyên nhân dẫn đến RRTD sẽ là cơ sở để chúng ta đưa ra những giải pháp hữu hiệu nhằm phòng ngừa hạn chế RRTD. 2.4.1- Nguyên nhân từ môi trường bên ngoài. a) Môi trường tự nhiên. Nguyên nhân từ môi trường tự nhiên tác động đến điều kiện kinh doanh của khách hàng, làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng, đây là những nguyên nhân bất khả kháng, nằm ngoài dự kiến của NH như thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh... Nguyên nhân từ môi trường tự nhiên thường khó lường trước được mức độ ảnh hưởng, từ đó làm ảnh hưởng đến kế hoạch trả nợ của khách hàng. Vì vậy một biện pháp đánh giá được coi là hiệu quả đó là kinh nghiệm và thừa kế các số liệu lịch sử. b) Môi trường kinh tế. Mỗi chu kỳ của nền kinh tế đề có tác động đến hoạt động KD của NH, trong đó hoạt động TD cũng chịu ảnh hưởng đáng kể qua sự biến động của chu kỳ kinh tế. Với môi trường kinh tế suy thoái sẽ có xác suất RRTD cao nhất vì ở môi trường kinh tế này khả năng tài chính của người vay bị ảnh hưởng rất lớn từ đó ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng. Trong giai đoạn nền kinh tế tăng trưởng các DN SXKD có lãi từ đó khả năng trả nợ NH sẽ tốt hơn và sẽ là yếu tố cơ bản kích cầu TD. c) Môi trường pháp lí, chính trị, xã hội. Hệ thống pháp luật tạo ra hành lang pháp lý cho HĐKD của NH. Một hệ thống pháp luật rõ ràng sẽ đảm bảo một cơ chế cho vay, cơ chế xử lý nợ, xử lý tài sản ĐBTV thuận lợi. Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động TD của NH từ khi cho vay đến khi thu hồi nợ. Chính trị ban hành pháp luật, mặt khác một hệ thống chính trị ổn định sẽ thu hút đầu tư, thúc đẩy SXKD phát triển. Ngược lại, một hệ thống chính trị không ổn định sẽ ảnh hưởng đến SXKD, làm suy giảm khả năng trả nợ của khách hàng, làm tăng RRTD. Với môi trường XH như phong tục tập quán, thói quen tiêu dùng của người dân mà DN không thích nghi được sẽ ảnh hưởng đến khả năng tiêu thụ sản phẩm của DN đó, làm giảm khả năng trả nợ của khách hàng. d) Thông tin không cân xứng. Thông tin cân xứng giữa NH và khách hàng sẽ giúp NH có những quyết định đầu tư có hiệu quả, đồng thời giảm thiểu được RRTD. Tuy nhiên trong thực tế vì nhiều lý do khác nhau mà gây ra tình trạng không cân xứng về thông tin. NH không có đầy đủ thông tin về khách hàng như thông tin về bản thân khách hàng, về kế hoạch KD, về quản lý KD, về tình hình thực hiện phương án dự án. Ngược lại khách hàng cũng không có đầy đủ thông tin về NH như về quy mô, các dịch vụ đáp ứng, cách thức giao dịch, giá cả... Có 2 loại RR do thông tin không cân xứng: + RR do lựa chọn đối nghịch: Trước khi cấp TD, NH đã đánh giá khách hàng không chính xác từ đó dẫn đến sự lựa chọn cho vay không đúng với thực trạng cảu khách hàng, làm tăng khả năng RRTD. + RR do đạo đức: Thường xảy sau khi cấp TD. RR đạo đức xảy ra do NH cố tình làm đẹp thông tin về mình để cung cấp cho NH. Bản thân NH lấy thông tin đó làm cơ sở cho quyết định cấp TD thì việc xảy ra RRTD là không tránh khỏi. e) Môi trường công nghệ thay đổi. Yếu tố công nghệ quyết định năng suất lao động. Sự thay đổi môi trường công nghệ trong điều kiện hiện nay rất nhanh. DN theo kịp sự thay đổi đó không những đáp ứng nhu cầu cho SXKD mà còn là điều kiện tối cần thiết đảm bảo cho sự cạnh tranh. Nhưng không phải DN nào cũng có đủ điều kiện về thời gian và tài chính để theo kịp sự thay đổi đó. Vì thế một công nghệ lạc hậu sẽ làm giảm đi năng lực cạnh tranh, khả năng SXKD của DN từ đó làm suy giảm khả năng tài chính, việc trả nợ NH khó khăn hơn, tất yếu dẫn tới RRTD. 2.4.2- Nguyên nhân từ phía Ngân hàng. a) Chính sách tín dụng không hợp lí. Chính sách TD là một hệ thống định hướng tổng thể cho công tác TD từ khi điều tra khảo sát khách hàng, lựa chọn khách hàng, quy trình xét duyệt cho vay... cho đến cơ chế xử lý thu hồi nợ. Như vậy chính sách TD là nhân tố ảnh hưởng đầu tiên đến chất lượng TD của NH. Một chính sách TD không hợp lý thể hiện: + Cơ chế để thiết lập cơ cấu TD không hợp lý: Không căn cứ trên cơ cấu kinh tế điạ bàn, khả năng của NH, tình hình kinh tế xã hội, môi trường cạnh tranh... + Chính sách lãi suất không phù hợp, thiếu tính cạnh tranh... + Quy trình nghiệp vụ thiếu chặt chẽ, không nâng cao được tinh thần trách nhiệm của CBNH, dễ tạo sơ hở cho khách hàng. + Cơ chế giám sát CB không phù hợp. Nhìn chung khi chính sách TD không hợp lý sẽ tạo khe hở cho khách hàng hoặc sự không chặt chẽ đối với quy chế tác nghiệp của CBTD, cả 2 điều này đề dẫn đến RRTD. b) Quy trình tín dụng thiếu chặt chẽ và không phù hợp. Quy trình TD là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của NH kể từ khi chuẩn bị hồ sơ đề nghị cấp TD cho đến khi chấm dứt quan hệ TD. Quy trình TD phù hợp phải thể hiện đủ các bước sau: Thiế t lập hồ sơ Phân tích TD Quyế t định TD Giải ngân Nguyên nhân thiếu chặt chẽ trong việc thực hiện quy trình TD: + Thông tin trong từng bước thực hiện không chi tiết và đầy đủ. Giám sát, than h lý TD + Quan hệ giữa các bước thiếu logic + Thiết lập hồ sơ thiếu cơ sở pháp lý, thiếu tính đầy đủ đối với các yếu tố ghi trên hồ sơ. + Việc phân tích TD: Không lựa chọn đúng khách hàng do không cân xứng về thông tin, đánh giá không đúng mức độ RR của từng khách hàng, từng khoản vay, không hạn chế được sự vi phạm đạo đức nghề nghiệp của CBTDNH. + Việc quyết định TD: Việc thiếu chặt chẽ trong khâu quyết định TD có thể là: Khi quyền quyết định TD tập trung vào một hoặc một nhóm người trong NH sẽ không nâng cao được vai trò trách nhiệm của người quyết định cho vay; khi quyền quyết định TD được quy định cho từng CBTD thì việc thiếu chặt chẽ sẽ thể hiện ở việc do CBTD thiếu trình độ hoặc do vi phạm đạo đức nghề nghiệp mà không được kiểm soát bởi người thứ 2. + Việc giải ngân: Việc giải ngân bằng tiền mặt thông thường khó kiểm soát được mục đích vay vốn, đây cũng là nguyên nhân có thể dẫn đến RRTD. + Giám sát và thanh lý TD: Quá trình giám sát sử dụng vốn không thường xuyên có thể dán tới việc khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, là nguyên nhân dẫn đến suy giảm khả năng trả nợ của khách hàng. Khi xảy ra trường hợp phải xử lý TSBĐ để thu hồi nợ mà hồ sơ BĐTV thiếu chặt chẽ, các điều kiện xử lý nợ không thuận lợi cho NH sẽ dẫn đến không thu hồi được nợ, dẫn đến RR mất vốn. c) Trang thiết bị không đáp ứng đựơc yêu cầu công việc. Với mỗi trang thiết bị lạc hậu sẽ ảnh hưởng rất lớn đến HĐKD của NH như: Hạn chế việc hỗ trợ quản lý điều hành, thiếu thông tin hoặc việc cập nhật thông tin chậm, nếu đó là thông tin phòng ngừa RR thì rất nguy hiểm cho NH, NH sẽ ra những quyết định không đúng đắn, không những thế mà NH còn bỏ lỡ các cơ hôi KD, cơ hội xử lý nợ... d) Cán bộ Ngân hàng trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp kém. Sự hạn chế về trình độ chuyên môn nghiệp vụ và đặc biệt là sự thiếu hiểu biết về lĩnh vực KD của khách hàng sẽ dẫn đến những quyết định sai lầm trong việc cấp TD như chọn khách hàng không đúng, xác định mức cho vay vượt quá nhu cầu vốn thực tế, đánh giá TSBĐ nợ vay thiếu chính xác. Đối với CB quản lý thiếu trình độ chuyên môn sẽ thiếu đi khả năng kiểm soát, quản lý. CBNH không có đạo đức nghề nghiệp sẽ có những hành vi dẫn đến RRTD như: Cố tình thiết lập hồ sơ sai thành đúng nhằm trục lợi cá nhân, thông đồng với khách hàng để vay ké...để chiếm dụng vốn của NH dẫn đến RRTD. 2.4.3- Nguyên nhân từ phía khách hàng. a) Đối với khách hàng là các doanh nghiệp. - Nguyên nhân phi tài chính: + Do RR đạo đức: DN cố tình sử dụng vốn sai mục đích, cố tình không trả nợ NH. + Do sự thay đổi chủ sở hữu hoặc thay đổi nhân sự ảnh hưởng cơ cấu ban quản lý của NH. + Do môi trường cạnh tranh: DN không thường xuyên nắm bắt, tìm hiểu công nghệ và sản phẩm của đối tượng cạnh tranh; do sự phát triển của hàng nhái, hàng giả trên thị trường; do DN ngủ quên trên chiến thắng và quên làm mới mình; do thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh của các DN. - Nguyên nhân tài chính. + Do khả năng quản lý kém, người lãnh đạo DN thiếu năng lực quản lý và trình độ chuyên môn dẫn đến SXKD lãng phí, không hiệu quả, khả năng trả nợ giảm. + Do đòn bẩy tài chính quá cao, DN quá lệ thuộc vào nguồn tài trợ bên ngoài dẫn đến giảm tính linh hoạt và nhạy bén trong KD, đồng thời làm cho chi phí tăng, nguy cơ RR cao. + Khả năng thanh toán của một DN giảm sút. + Khả năng tiêu thụ sản phẩm giảm do sản phẩm kém phẩm chất, không phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Do đó mức cầu sản phẩm trên thị trường nhỏ hơn mức cung, khả năng tạo doanh thu từ sản phẩm dịch vụ không hiệu quả. + Khả năng quản lý hàng tồn kho, quản lý ngân quỹ, các khoản phải thu có vấn đề. b) Đối với khách hàng là cá nhân. + Do cá nhân có thu nhập không ổn định. + Khách hàng bị thất nghiệp và mất việc làm, từ đó mất nguồn thu nhập để trả nợ. + Không dự tính được những chi tiêu so với ngân quỹ của khách hàng. NH không dánh giá được những chi tiêu của khách hàng đồng nghĩa với việc không xác định được mức tiết kiệm của họ, từ đó xác định sai nguồn trả nợ dẫn đến địng kỳ hạn không đúng, đây là nguyên nhân xảy ra RR đọng vốn. + Do tư cách của khách hàng vay vốn: Người vay không có thiện chí trả nợ dù họ có khả năng, khách hàng có thể sử dụng vốn sai mục đích, cố tình lừa đảo... + Khách hàng bị chết hoặc mắc các chứng bệnh làm mất sức lao động, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay của khách hàng. 2.4.4- Nguyên nhân từ bảo đảm tiền vay. - Đối với bảo đảm bằng tài sản: Chúng ta biết rằng, một TS dùng làm bảo đảm tiền vay phải hội đủ các điều kiện sau: + Điều kiện pháp lý: . TS phải thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người vay. . TS được phép giao dịch chuyển nhượng. . TS không có tranh chấp. . TS được mua bảo hiểm khi pháp luật có quy định. + Điều kiện kinh tế: . TS có tính thị trường cao, dễ chuyển nhượng. . TS có giá trị tương đối ổn định. . TS có đủ giá trị để bảo đảm khi cho vay. Như vậy tất cả các điều kiện trên đều để đảm bảo tính an toàn cho NH khi cấp TD cho khách hàng. Chỉ cần thiếu một trong những điều kiện trên thì việc xử lý TSBĐ để thu hồi nợ sẽ rất khó khăn, và điều khó tránh khỏi sẽ là RRTD. - Đối với bảo lãnh: Người bảo lãnh không đủ uy tín, năng lực pháp lý, năng lực tài chính, TSBĐ của người bảo lãnh không đủ điều kiện làm BĐTV, đây là nguyên nhân dẫn đến RRTD khi người bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ của mình. 2.5- Hậu quả RRTD. 2.5.1- Đối với nền kinh tế. NHTM hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ TD, nó có quan hệ trực tiếp và thường xuyên với nhiều chủ thể kinh tế. Khi RRTD xảy ra với NH tất yếu gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với nền kinh tế và đời sống xã hội. Khách hàng khi phát sinh RR thường nằm trong tình trạng KD sa sút hoặc bên bờ vực phá sản, còn NH khi gặp RR thì hiệu quả KD giảm, thậm chí thua lỗ phải dùng vốn tự có để bù đắp uy tín và vị thế trên thị trường giảm...Nếu RRTD kéo dài sẽ mất lòng tin hoàn toàn với khách hàng cùng với việc 1 thất thoát một lượng vốn lớn khiến NH có thể mất khả năng thanh toán và đi đến phá sản. Các NHTM có mối liên quan chặt chẽ, điều này làm hậu quả của RRTD càng trầm trọng hơn. Khi một NH lớn gặp RR có nguy cơ phá sản sẽ dể kéo theo tình trạng khủng hoảng của các NH khác trên thị trường tiền tệ( hiệu ứng đôminô). Hiệu ứng đỗ vỡ dây chuyền này sẽ gây khủng hoảng cho nền kinh tế, đặc biệt trong điều kiện mọi hoạt động thanh toán đều được thực hiện qua NH. Các DN chủ yếu dựa vào vốn vay NH. Khi NH gặp RR sẽ làm chậm trễ công tác thanh toán, do đó trực tiếp cản trở quá trình chu chuyển vốn, nghĩa là đã gây khó khăn cho DN trong SX và lưu thông hàng hoá dẫn đến làm giảm lợi nhuận của DN, đẩy DN đến nhiều nguy cơ tiềm ẩn. RRTD xảy ra ở mức độ cao sẽ làm cho nền kinh tế bị xáo động mất ổn định. 2.5.2- Đối với bản thân ngân hàng. Cho dù là RR mất vốn hay đọng vốn thì mức độ ảnh hưởng của nó cũng rất nghiêm trọng đối với mỗi NH khi RR ở mức độ thấp, NH có thể dùng lợi nhuận KD hoặc VTC của mình để bù đắp, chấp nhận bị giảm lợi nhuận hay thua lỗ. Nhưng nếu RR ở mức độ cao thì nguồn VTC của NH cũng không đủ bù đắp thì NH sẽ rơi vào tình trạng khủng hoảng, phá sản. Vì vậy quan tâm đến RRTD trở thành vấn đề sống còn của NHTM. 2.6- Những dấu hiệu nhận biết RRTD. Để nhận biết RRTD chúng ta căn cứ vào các dấu hiệu của 1 khoản tín dụng xấu: - Trả nợ vay không đúng kỳ hạn hoặc thất thường. Điều này cho thấy khách hàng không thực hiện đúng dự án, phương án SXKD, hoặc có thực hiện nhưng không hiệu quả. Chứng tỏ đây là khoản TD có vấn đề. - Thường xuyên sửa đổi thời hạn, xin gia hạn TD. Lúc này hoặc là khách hàng không có khả năng trả nợ đúng hạn, hoặc khách hàng không có thiện chí trả nợ dẫn đến xảy ra RR đọng vốn. - Có hồ sơ đảo nợ (mỗi lần vay mới thì nợ gốc giảm xuống một ít) Nếu không đảo nợ, NH chấm dứt cho vay sau mỗi lần vay thì trường hợp này sẽ dể phát sinh nợ quá hạn vì khách hàng không đủ khả năng trả đủ nợ gốc sau mỗi lần vay dẫn đến RR mất vốn. - Lãi suất TD cao không bình thường (để bù đắp RRTD) Nếu lãi suất TD cao không bình thường mà khách hàng vẫn chấp nhận thì đây có thể là khách hàng có vấn đề về tài chính, khách hàng cố tình vay mà không cần tính đến yếu tố lãi suất, với khách hàng này sẽ tiềm ẩn RRTD. - Tài khoản phải thu hay hàng tồn kho không bình thường. Điều đó cho thấy sự không ổn định trong SXKD và trong tài chính của khách hàng, sự không ổn định đó dẫn đến khách hàng không có nguồn thu để trả nợ. - Hệ số đòn bẩy tăng (Nợ/ Vốn CSH tăng) Điều này sẽ không tốt khi quy mô SX không đổi, khách hàng vay nợ nhiều hơn trong khi vốn CHS không tăng từ đó khả năng chống đỡ RR từ vốn CSH sẽ kém đi, dẫn đến khả năng trả nợ của khách hàng yếu kém. - Thất lạc hồ sơ, đặc biệt là các báo cáo tài chính của khách hàng. Đây là RR đạo đức, việc thất lạc báo cáo tài chính nhằm tránh sự kiểm tra kiểm soát của người quản lý đối với khách hàng có vấn đề tài chính. - Chất lượng bảo đảm TD thấp. Chất lượng bảo đảm TD bị suy giảm hoặc giá trị của TS bảo đảm TD biến động giảm mạnh làm cho giá trị của bảo đảm TD nhỏ hơn giá trị của khoản TD sẽ dẫn đến RRTD khi phải xử lý TSBĐ để thu hồi nợ. - Dựa vào đánh giá lại TS để tăng vốn CSH của khách hàng. Thực chất vốn CSH của khách hàng không tăng, việc tin tưởng vào đó có thể NH sẽ có mức phán quyết cho vay cao hơn dẫn tới tiềm ẩn RRTD. - Thiếu báo cáo lưu chuyển luồng tiền hay dự báo luồng tiền. Việc này không tạo cơ sở chắc chắn để NH xác định thời điểm nhận tiền vay, thời điểm thu nợ, có thể xảy ra RR đọng vốn. - Khách hàng dựa vào nguồn thu bất thường để trả nợ. Về nguyên tắc, việc thu nợ phải được xác định từ chính phương án, dự án vay vốn. Nếu NH căn cứ vào nguồn thu bất thường để thu nợ có nghĩa là phương án, dự án vay vốn không đủ hoặc không có khả năng sinh lời đảm bảo trả nợ, đối với khách hàng này thường không có khả năng trả nợ theo đúng hợp đồng TD. CHƯƠNG II Thực trạng rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT huyện Như Xuân tỉnh Thanh Hoá. 1. Khái quát quá trình hoạt động của NHNo&PTNT huyện Như Xuân tỉnh Thanh Hoá 1.1- Khái quát về đặc điểm kinh tế vùng. Như xuân là một huyện trung du, miền núi phía tây nam tỉnh Thanh Hoá, diện tích gần 700 km, số dân 56.700 người trong đó người đang ở độ tuổi lao động gần 27.200 người, tổng số hộ 12.315 hộ, số DN trên địa bàn 28 DN.Trong những năm vừa qua, kinh tế huyện đã đạt được kết quả phát triển nhất định. Tốc độ tăng trưởng kinh tế những năm 2003-2005 bình quân đạt 10,5% bằng mức bình quân toàn tỉnh. Tuy nhiên nền kinh tế chủ yếu vẫn là nông nghiệp, lâm nghiệp theo hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, bên cạnh đó có sự phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp tuy còn nhiều rất nhiều hạn chế. 1.2- Quá trình hình thành và phát triển của NHNo&PTNT huyện Như Xuân tỉnh Thanh Hoá NHNo& PTNT huyện Như Xuân được thành lập theo quyết định số 899/QĐ-NHNo ngày 01/12/1997 của Tổng GĐ NHNo&PTNT Việt Nam và chính thức đi vào hoạt động vào ngày 01/01/1998 sau khi chia tách huyện theo NĐ 17/NĐ-CP. Với TS và nguồn vốn ban đầu không đáng kể, qua 8 năm hoạt động NH đã đóng góp không nhỏ cho sự phát triển
- Xem thêm -