Những bài học kinh nghiệm rút ra từ vụ kiện bán phá giá cá tra và cá basa vào thị trường mỹ

  • Số trang: 87 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 17 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

LỜI NÓI ĐẦU Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ vừa được ký kết đã mở ra những cơ hội làm ăn mới cho các thương nhân của cả hai nước Việt Nam và Mỹ. Đây là một sự kiện hợp với tiến trình toàn cầu hoá và tự do thương mại đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, Hiệp định được ký chưa ráo mực thì chúng ta đã phải chứng kiến những hành động trái ngược hẳn với tinh thần tự do cạnh tranh, tự do thương mại. Đó là việc xảy ra khi cá tra, cá basa nhập khẩu vào thị trường nước Mỹ. Kể từ cuối năm 2000, Hiệp hội các chủ trại nuôi cá nheo Mỹ (CFA) tiến hành chiến dịch chống lại việc nhập khẩu khẩu cá tra, cá basa của Việt Nam vào thị trường này. Chiến dịch này có lúc lắng dịu đi vài tháng, rồi có lúc lại sôi lên. Sự ầm ĩ, nóng bỏng của nó đã khiến người Mỹ gọi nó là "chiến tranh catfish" để so sánh với "chiến tranh Hamburger", "chiến tranh ô tô" và "chiến tranh nước giải khát" đã từng xảy ra trước đây trên thị trường này. Các cuộc chiến tranh mà ta nhắc đến ở trên, nhìn chung, là biểu hiện bên ngoài của cạnh tranh và xung đột thương mại. Đây là một hiện tượng tự nhiên trong một thị trường cạnh tranh mà các đối thủ có sức mạnh kinh tế. Hiện tượng ít xảy ra nhưng một khi đã diễn ra thì gây thiệt hại vô ích về thời gian và nguồn lực của các bên. Tuy vậy nó cũng là một hiện tượng quan trọng đáng chú ý và cần được nghiên cứu. Vì những lý do như vậy, chuyên đề được cống hiến cho việc nghiên cứu xem xét hiện tượng xung đột thương mại với biểu hiện gần đây nhất của nó là CFA tiến hành cuộc "chiến tranh catfish" chống các nhà xuất khẩu Việt Nam cũng như người nuôi cá Việt Nam. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề mang tính thời sự này trong quá trình phát triển kinh tế thuỷ sản nói riêng cũng như phát triển kinh tế đất nước nói chung, đặc biệt trong tiến trình hội nhập kinh tế khu 4 vực và kinh tế quốc tế nên em đã chọn đề tài: NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ VỤ KIỆN BÁN PHÁ GIÁ CÁ TRA VÀ CÁ BASA VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ. Nội dung chính của đề tài này gồm 3 chương: CHƯƠNG I. ĐẠI CƯƠNG VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CHƯƠNG II. NỘI DUNG VỤ KIỆN CÁ TRA, CÁ BASA GIỮA VIỆT NAM VÀ MỸ CHƯƠNG III. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ VỤ KIỆN Do thiếu kinh nghiệm và nguồn thông tin còn hạn hẹp nên đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn chu đáo và sự giúp đỡ tận tình của cô giáo Lê Thị Thanh trong quá trình thực hiện đề tài này. 5 CHƯƠNG I. ĐẠI CƯƠNG VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ I . THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 1. Thương mại quốc tế 1.1 Định nghĩa. Thương mại quốc tế là việc trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa các chủ thể kinh tế có quốc tịch khác nhau (trong đó đối tượng trao đổi thường vượt ra ngoài phạm vi địa lý của một quốc gia) thông qua hoạt động mua bán, lấy tiền tệ làm môi giới. Hoạt động thương mại quốc tế ra đời sớm nhất trong các quan hệ kinh tế quốc tế và ngày nay nó giữ vị trí trung tâm trong các quan hệ kinh tế quốc tế. Sở dĩ thương mại quốc tế có vai trò quan trọng như vậy bởi vì kết quả của các quan hệ kinh tế quốc tế khác cuối cùng được thể hiện tập trung trong thương mại quốc tế và quan hệ hàng hoá-tiền tệ vẫn là quan hệ phổ biến nhất trong các quan hệ kinh tế quốc tế. (Giáo trình Kinh tế quốc tế, NXB Lao động-Xã hội, Hà Nội 2002) 1.2 Nội dung. Thương mại quốc tế bao gồm nhiều hoạt động khác nhau. Trên giác độ một quốc gia đó chính là hoạt động ngoại thương. Nội dung của thương mại quốc tế bao gồm: - Xuất và nhập khẩu hàng hoá hữu hình - Xuất và nhập khẩu hàng hoá vô hình - Gia công thuê cho nước ngoài và thuê nước ngoài gia công - Tái xuất khẩu và chuyển khẩu - Xuất khẩu tại chỗ. 2. Tranh chấp thương mại 2.1 Khái niệm. Đề tài có nói tới tranh chấp thương mại. Vậy tranh chấp thương mại là gì? Theo các nhà luật học thì tranh chấp thương mại được 6 hiểu là những mâu thuẫn, xung đột về một thực hiện pháp lý của các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật kinh tế. Đặc trưng của tranh chấp kinh tế là chúng phát sinh trực tiếp từ hoạt động kinh doanh; chủ thể tham gia tranh chấp thông thường là các doanh nghiệp; tranh chấp gắn liền với lợi ích riêng biệt của mỗi chủ thể và luôn thuộc quyền tự định đoạt của họ. Theo ý của người viết, tranh chấp thương mại có thể hiểu là những mâu thuẫn xung đột phát sinh trong quá trình thương mại. Các mâu thuẫn xung đột đó không chỉ thể hiện sự mâu thuẫn về lợi ích giữa các thương nhân hay tầng lớp thương nhân của các quốc gia như biểu hiện bề ngoài của nó. Đó là một biểu hiện của sự va chạm về lợi ích giữa các quốc gia, các nền kinh tế và trong một chừng mực nào đó là các nền sản xuất với các phương thức sản xuất khác nhau. Hãy tưởng tượng về một doanh nghiệp nhà nước, độc quyền ở ngành của mình ở trong nước, xuất khẩu hàng ra nước ngoài. Do có lợi thế độc quyền ở hậu phương nên trong giai đoạn đầu thâm nhập thị trường nước ngoài doanh nghiệp đó có thể hạ giá sản phẩm tới mức thấp hơn cả giá bán ở nước mình để chiếm thị trường. Khi đó các doanh nghiệp ở nước chủ nhà, vốn quen với một thị trường cạnh tranh tự do sẽ không đủ tiềm lực cạnh tranh. Vậy để bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp nước mình chính quyền nước sở tại có thể đưa ra luật cấm bán hàng nhập khẩu với giá thấp hơn giá bán tại nước sản xuất. Ta có thể thấy rõ đó là một tranh chấp thương mại phát sinh giữa hai nền kinh tế khác nhau: nền kinh tế thị trường và nền kinh tế không có yếu tố thị trường. 2.2 Nguyên nhân. Nguyên nhân của các tranh chấp thương mại rất đa dạng. Về cơ bản nó có nguyên nhân sau: Chính sách bảo hộ mậu dịch, bảo hộ các ngành công nghiệp trong nước. Chính phủ các nước có thể thực hiện một hệ thống chính sách mang tính bảo hộ mậu dịch. Các chính sách này tạo cho các thương nhân và nhà 7 sản xuất trong nước những lợi thế nhất định và khiến cho các thương nhân và công ty nước ngoài những khó khăn trong việc hoạt động ở thị trường này. Các chính sách đó gồm có chính sách thuế xuất nhập khẩu, phí và lệ phí, các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật, bao bì đóng gói, môi trường… Sự “hiểu nhầm” của các bên trong quá trình buôn bán. Khác biệt về các đơn vị số lượng, khối lượng… nói chung có thể xẩy ra. Một ví dụ là hệ thống đo lường tấn: có 3 kiểu đo khác nhau “long ton” (dùng bởi Anh) ngang với 2240 pao=1016,05 kg, “metric ton” hoặc “tonne” (quy chuẩn quốc tế) bằng 1000 kg, “short ton” (dùng ở Mỹ) bằng 2000 pound=907,19 kg. Nếu trong hợp đồng và bản dịch hợp đồng không quy ước rõ đơn vị “tấn” theo hệ nào thì có thể gây tranh chấp, hiểu nhầm và dẫn tới vi phạm hợp đồng. Khác biệt về tập quán thương mại có thể xẩy ra giữa hai bên thuộc hai hệ thống kinh tế có trình độ phát triển khác nhau hoặc cách biệt về mặt văn hoá, ngôn ngữ. Những thói quen mà bên này có thể coi là tất nhiên nhưng bên kia không hề biết tới. Ví dụ về ngành dệt may, giầy dép: nhà nhập khẩu Mỹ yêu cầu cung cấp 6000 đôi giầy đóng trong thùng, mỗi thùng 20 đôi, đóng gói như thông lệ. Nhà nhập khẩu Mỹ có thói quen bán hàng là từng đôi giầy được đóng gói riêng để tiện việc trưng bầy, giao bán và các bạn hàng thường xuyên của anh ta hoàn toàn đáp ứng điều này. Tuy nhiên, bạn hàng mới là nhà sản xuất Việt Nam chưa biết điều này . Anh ta đóng gói tất cả 30 đôi vào một gói cho tiện và tiết kiệm chi phí. Điều này khiến cho bạn hàng người Mỹ kiện anh ta vì vi phạm hợp đồng. Nhà sản xuất Việt Nam phản đối và kiện lại dẫn đến tranh chấp thương mại. 3. Tranh chấp thương mại quốc tế Tranh chấp thương mại bao gồm các bên chủ thể tham gia có quốc tịch khác nhau và trụ sở công ty đặt tại những quốc gia khác nhau được gọi là tranh chấp thương mại quốc tế. Những cuộc tranh chấp thương mại quốc 8 tế xuất phát từ việc bán phá giá đã xuất hiện nhiều trên thế giới như tranh chấp thương mại giữa Mỹ và EU, Nga về việc Mỹ cho rằng EU và Nga bán phá giá thép trên thị trường Mỹ, tranh chấp thương mại giữa EU và Việt Nam khi EU cho rằng Việt Nam bán phá giá bật lửa gas trên thị trường EU... II. LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA MỸ VÀ LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU) Bán phá giá là bán một món hàng xuất ra nước ngoài thấp hơn giá hiện đang thịnh hành ở thị trường nội địa và thấp hơn giá cần thiết để thu hồi chi phí sản xuất (bán dưới giá thành) để mở rộng thị trường và nó gây thiệt hại cho nền kinh tế, loại bỏ cạnh tranh và tạo thế độc quyền. Về lâu dài, thương nhân sẽ tăng giá cao để bù vào chi phí và thu lợi nhuận độc quyền. Các chính phủ đều có chú ý ngăn chặn và trừng phạt các hoạt động này. Các hiệp ước quốc tế, như thoả ước tổng quát về thương mại và thuế quan (GATT) đều cho phép làm như vậy. Sự khác biệt giữa bán phá giá với bán hàng giá rẻ do giá thành thấp, nhìn bề ngoài là rất khó xác định. Một khía cạnh của tranh chấp thương mại là xác định sự khác biệt đó. Khi có tranh chấp, một bên sẽ cố buộc tội đối thủ cạnh tranh của mình là có bán phá giá. Bên kia sẽ chứng minh là mình không bán phá giá mà là bán hàng giá rẻ, phù hợp với chi phí sản xuất của mình. 1. Luật chống bán phá giá của Mỹ Luật của Mỹ quy định rằng: nếu hàng hoá bán vào Mỹ thấp hơn giá quốc tế hoặc thấp hơn giá thị trường thì người sản xuất ở Mỹ có thể kiện ra toà, và như vậy, nước bị kiện sẽ phải chịu thuế chống bán phá giá (Ad) cao không chỉ đối với chính hàng hoá bán phá giá mà còn đối với tất cả các 9 hàng hoá khác của nước đó bán vào Mỹ. Giá thị trường của hàng hóa là giá mà hàng hóa đó thường được bán trên thị trường nước người sản xuất. Bộ thương mại Mỹ (DOC), Uỷ ban thương mại quốc tế (ITC), và Tổng cục hải quan Mỹ cùng có trách nhiệm trong việc thi hành luật chống bán phá giá. DOC chịu trách nhiệm quản lý chung về luật bán phá giá và điều tra về việc phá giá của nước ngoài cho hàng nhập khẩu. Nếu điều tra xác định sự việc là có thật, DOC sẽ quy định mức thuế đánh vào hàng hóa đó. ITC thì xác định liệu sự việc đã, hoặc có thể , ảnh hưởng đến sản xuất trong nước hay chưa, hoặc liệu một ngành sản xuất trong nước có bị ảnh hưởng ngay từ khi mới phát triển do việc bán phá giá hàng nhập khẩu hay không. Tổng cục hải quan áp dụng AD khi những mức thuế này được ban hành và ITC đã tiến hành công việc xác định cần thiết. Gần đây, Quốc hội Mỹ đã thông qua Luật Byrd sửa đổi, theo đó luật này khuyến khích doanh nghiệp Mỹ cản trở việc nhập khẩu hàng hóa từ các đối thủ cạnh tranh nước ngoài. Cụ thể là Luật Byrd sửa đổi ngăn chặn công ty nước ngoài xuất khẩu sản phẩm sang Mỹ ở mức giá thấp hơn giá họ thường tính ở thị trường trong nước, do đó, cạnh tranh không công bằng với nhà sản xuất Mỹ. (Chương I, Luật Thương mại quốc tế, Phạm Minh biên soạn, NXB Thống Kê, Tp.Hồ Chí Minh 2000). 2. Luật chống bán phá giá của Liên minh châu Âu (EU) Luật của EU được ban hành ngày 22/12/1995 dựa trên cơ sở pháp lý Hiệp định về chống bán phá giá của WTO. Một sản phẩm được xem là bị bán phá giá nếu giá xuất khẩu (tính theo giá CIF) của của sản phẩm này vào EU thấp hơn so với giá bán trong nước của sản phẩm tương tự đó tại nước xuất khẩu. Một sản phẩm được xem là có bán trong nước nếu khối 10 lượng bán trong nước chiếm từ 5% trở nên so với khối lượng sản phẩm đó xuất khẩu vào EU. Các công ty, pháp nhân, các tổ chức của EU có thể đưa đơn kiện lên Uỷ ban Châu Âu (EC), tuy nhiên có một số quy định khác mang tính kỹ thuật: Bên đi kiện phải chứng minh được rằng tổng sản phẩm của những công ty đi kiện chiếm hơn 25% tổng sản phẩm các mặt hàng đó trong khối EU; tổng sản lượng của những công ty đi kiện phải chiếm hơn 50% tổng sản lượng của những công ty không kiện (trong EU); đơn kiện sẽ bị bác bỏ nếu sản phẩm bán phá giá vào EU chỉ chiếm đưới 1% (sản phẩm của một nước) hoặc dưới 3% thị phần tại EU (nếu là sản phẩm do nhiều nước cùng xuất vào EU). Sau khi thu thập thông tin, EC sẽ tính ra giá thành sản xuất của sản phẩm, giá bán sản phẩm trong nước (bao gồm chi phí sản xuất, khấu hao, lợi nhuận…), giá xuất khẩu (giá CIF) để xem có bán phá giá hay không và tính ra mức độ phá giá (còn gọi là biên độ phá giá, là số lượng mà giá trị thông thường, hay mức giá bán trong nước vượt quá giá trị xuất khẩu). Nếu sản phẩm không bán trong nước hoặc bán trong nước nhưng chiếm sản lượng ít hơn 5% thì EC sẽ so sánh với giá bán tương tự của một công ty tương tự. Còn nếu doanh nghiệp tỏ ra bất hợp tác (từ chối tiếp cận, không cung cấp thông tin…) thì EC sẽ ban hành các phán quyết dựa trên các dữ liệu sẵn có. Thông thường, nếu nhà xuất khẩu bị kiện bán phá giá mà đang hoạt động ở một nước có nền kinh tế thị trường thì EC sẽ trực tiếp sang điều tra. Nếu nhà xuất khẩu thuộc nước không có nền kinh tế thị trường thì EC sẽ chọn một nước thứ ba có nền kinh tế thị trường để tính toán mức giá của sản phẩm đó. Tuy nhiên, EC đã ban hành quy định số 2238/2000 (ngày 9/10/2000) xác định 5 nước tuy chưa được công nhận có nền kinh tế thị trường nhưng đã có các công ty hoạt động theo cơ chế thị trường là: Nga, Trung Quốc, Việt Nam, Ukraine, Kazakhstan. Như vậy, các doanh nghiệp này sẽ được EC trực tiếp sang điều tra nếu có kiện tụng bán 11 phá giá. Việc xác minh cơ chế thị trường là nhằm chứng tỏ rằng công ty hoạt động theo đúng các điều kiện của thị trường và hệ thống sổ sách tài chính của họ là minh bạch. Quy chế về kinh tế thị trường có vai trò quan trọng ở khâu áp thuế chống bán phá giá: nếu công ty thuộc nước có nền kinh tế thị trường thì từng công ty sẽ chịu mức thuế khác nhau tuỳ thị phần/sản lượng sản phẩm vào EU, còn nếu thuộc nước có nền kinh tế phi thị trường thì tất cả công ty của nước này sẽ chịu chung một mức thuế. Để xác định mức bán phá giá của một mặt hàng nhập khẩu, theo Luật chống bán phá giá của EU, nước áp dụng, sau khi điều tra cụ thể sẽ có sự so sánh giữa giá xuất khẩu và giá trị thông thường của mặt hàng nhập khẩu. Sự so sánh này sẽ được thực hiện ở cùng cấp độ thương mại liên quan tới những vực bán hàng được tiến hành ở gần như cùng một thời điểm. Trong trường hợp giá trị thông thường và giá trị xuất khẩu được xây dựng không nằm trên cơ sở so sánh như vậy, việc xem xét hợp lý dưới dạng điều chỉnh sẽ được thực hiện trong mỗi trường hợp tuỳ thuộc vào tầm quan trọng của từng vụ việc. Bất kỳ một sự chồng chéo nào khi thực hiện việc điều chỉnh cũng cần phải được tránh, đặc biệt là sự chồng chéo liên quan tới mức khấu hao, giảm giá số lượng và cấp độ thương mại. Khi những điều kiện cụ thể được đáp ứng, các yếu tố có thể được điều chỉnh bao gồm: phí nhập khẩu và các loại thuế gián tiếp; chiết khấu, giảm giá và số lượng, chi phí vận tải, bảo hiểm, bốc dỡ; đóng gói; tiền hoa hồng... Biên phá giá là số lượng mà giá thông thường vượt quá giá trị xuất khẩu. Giá trị thông thường sẽ được tính dựa trên cơ sở những mức giá được trả hay phải trả theo tiến trình thương mại thông thường, bởi các khách hàng độc lập ở nước xuất khẩu. Tuy nhiên, trong trường hợp nhà xuất khẩu ở nước xuất khẩu không sản xuất hay không bán sản phẩm tương tự, giá trị thông thường có thể được thiết lập dựa trên cơ sở giá của những người bán hàng hay những nhà sản xuất khác. Việc bán sản phẩm tương tự ở thị trường nội địa của nước xuất 12 khẩu; hoặc việc bán hàng xuất khẩu sang một nước thứ ba, ở mức giá thấp hơn chi phí sản xuất cộng với các chi phí khác có thể được xem là không nằm trong tiến trình thương mại thông thường. Việc áp dụng được thực hiện chỉ khi nào xác định được rằng việc bán hàng như vậy nằm trong một khoảng thời gian kéo dài với một số lượng đáng kể và ở mức giá không cho phép việc thu hồi tất cả các chi phí trong khoảng thời gian hợp lý. Khoảng thời gian kéo dài thường là 1 năm nhưng trong mọi trường hợp sẽ không ít hơn 6 tháng và việc bán thấp hơn chi phí sẽ được xem là bán với một khối lượng đáng kể trong một khoảng thời gian như vậy. Giá xuất khẩu sẽ là mức giá thực được trả hay phải trả cho sản phẩm khi sản phẩm được xuất khẩu từ nước xuất khẩu vào EU. Trong trường hợp không có giá xuất khẩu hoặc dường như mức giá xuất khẩu không thể tin cậy được do có sự liên kết một thoả thuận mang tính đền bù giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu hay một bên thứ ba, giá xuất khẩu có thể được tính toán trên cơ sở mức giá tại những mặt hàng nhập khẩu đó lần đầu tiên được bán lại cho một người mua độc lập hoặc không được bán lại theo những điều kiện mà theo đó sản phẩm đã được nhập khẩu thì giá xuất khẩu sẽ được tính toán trên bất kỳ một căn cứ hợp lý nào... Việc xác định mức thiệt hại sẽ dựa trên những chứng cứ tích cực và bao gồm việc xem xét một cách khách quan (cả lượng hàng nhập khẩu được bán phá giá và tác động của việc bán phá giá hàng nhập khẩu đối với giá cả trên thị trường EU của những sản phẩm tương tự). Về lượng hàng nhập khẩu được bán phá giá sẽ phải xem xét liệu đã có một sự tăng đáng kể về số hàng nhập khẩu bị bán phá giá hay không hoặc xét về tuyệt đối so với lượng hàng sản xuất hoặc tiêu dùng trong khối EU. Những tác động của việc phá giá hàng nhập khẩu đối với giá cả sẽ phải xem xét liệu đã có một sự cắt giảm đáng kể của hàng nhập khẩu được bán phá giá so với giá của một sản phẩm tương tự của ngành thuộc EU hay không hoặc liệu tác động 13 của những mặt hàng nhập khẩu như vậy có làm giảm giá ở một mức đáng kể hay ngăn ngừa sự tăng giá ở một mức độ đáng kể hay không? (Chương I, Luật Thương mại quốc tế, Phạm Minh biên soạn, NXB Thống Kê, Tp.Hồ Chí Minh 2000). 14 III. TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VỚI MỸ VÀ CANADA 1. Tranh chấp thương mại dệt may Việt Nam–Mỹ Từ tháng 12/2002, do doanh số hàng may mặc sang thị trường Mỹ tăng rất mạnh, Hiệp hội các nhà sản xuất dệt may Mỹ (ATMI) đã liên tiếp yêu cầu chính phủ nước này có các biện pháp hạn chế nhập khẩu hàng dệt may từ các nước đang phát triển, đặc biệt là Châu Á, trong đó có Trung Quốc và Việt Nam. Các công ty sản xuất tại Mỹ cho rằng, hàng nhập khẩu từ các nước đang phát triển có sức cạnh tranh lớn, nhờ được sự hỗ trợ bởi chính sách duy trì đồng nội tệ yếu hơn đồng USD. Họ còn khẳng định , việc nhập hàng không hạn chế đã làm cho ngành dệt may Mỹ bị mất 177.000 việc làm (30% lực lượng lao động) kể từ năm 1997. Chính phủ Mỹ chưa công bố lộ trình cụ thể cho vấn đề hạn ngạch, nhưng có thể đến tháng 6/2003 sẽ bắt đầu áp dụng. Năm 2002, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt nam sang Mỹ đạt 930 triệu USD, tăng mạnh so với năm 2001. Nhưng thực tế, con số này còn quá nhỏ so với các nước trong khu vực (thậm chí không bằng Campuchia với 1 tỷ USD). Nay nếu bị chuyển từ xuất khẩu tự do sang xuất khẩu có điều kiện–theo hạn ngạch giống như qua EU–doanh ngiệp Việt nam tất nhiên sẽ chịu thiệt thòi. Việt Nam đang mong đợi cuộc đàm phán sắp tới đi đến 1 trong 2 thoả thuận: hạn ngạch Mỹ đưa ra sẽ tăng thêm 1520% so với lượng hàng đã xuất sang nước này năm 2002 hoặc áp hạn ngạch tương đương với Thái Lan, Singapore… Trong cuộc thương lượng, phía Việt Nam sẽ có sự tham gia của Tổng Công ty Dệt may và các quan chức thương mại, phía Mỹ chủ yếu là các quan chức thương mại, không có doanh nghiệp. Sau hơn nửa tháng bàn thảo tại Washington, ngày 25/4/2003, đại diện đàm phán hai nước vừa đặt bút ký kết Hiệp định Dệt may Việt-Mỹ. 15 Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực từ 1/5/2003 với mức hạn ngạch xuất khẩu cho hàng dệt may Việt Nam sang Mỹ năm nay là 1,7 tỷ USD. Mức quota nói trên sẽ được tăng thêm 7%/năm cho các năm tiếp theo. Có tất cả 38 mặt hàng dệt may của Việt Nam bị giới hạn lượng xuất, trong đó có quần và áo sợi bông, hai sản phẩm quan trọng nhất đối với thị trường Mỹ. Hạn ngạch cho các mặt hàng này lần lượt là 84 triệu và 168 triệu chiếc. Trong trường hợp cả hai phía không đột ngột chấm dứt thực thi hiệp định, việc áp dụng hạn ngạch sẽ tiếp tục kéo dài đến cuối năm 2004. Nếu đến thời điểm đó mà Việt Nam chưa gia nhập WTO, hiệp định sẽ có hiệu lực thêm 1 năm nữa. Nhiều nhà nhập khẩu Mỹ tỏ ra không hài lòng với nội dung và đặc biệt là thời hạn thực thi hiệp định (trước đó, họ đã đề nghị thực hiện từ 1/7/2003). Họ cho rằng việc áp quota ngay từ 1/5/2003 là không hợp lý bởi phần lớn đơn đặt hàng đã được ký kết từ 6 tháng trước đây. (Hải Vân, Thời báo Kinh tế Việt Nam , số ra ngày 25/4/2003) 2. Tranh chấp thương mại giày Việt Nam–Canada Ngày 26/4/2002, Cơ quan Hải quan và Thuế vụ Canada (CCRA) bắt đầu điều tra theo đơn kiện của Hiệp hội các nhà sản xuất giày Canada (SMAC) về hàng xuất khẩu từ Macao, Hồng Kông và Việt Nam. CCRA gửi 92 câu hỏi, hai Bộ Thương Mại và Bộ Công Nghiệp Việt Nam cùng các ngành liên quan đã phối hợp trả lời, gửi kèm gần 1000 trang tài liệu về chính sách của Chính phủ, vai trò của cơ quan quản lý với hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp… Ngày 9/9/2002, CCRA ra quyết định sơ bộ cho rằng giày xuất xứ từ Việt Nam được bán phá giá vào Canada, và ngay lập tức áp dụng biện pháp tạm thời, cộng thêm mức thuế chống phá giá rất cao (72 và 187%) vào hàng nhập khẩu từ Việt Nam. 16 Cùng thời gian, lần lượt hai đoàn công tác của CCRA tới Việt Nam làm việc với các doanh nghệp bị kiện, và cơ quan quản lý liên quan. Sau quá trình điều tra trực tiếp, ngày 9/12/2002, CCRA kết luận và gửi tới CITT bộ hồ sơ thừa nhận Chính phủ Việt Nam không độc quyền ngoại thương, không trợ cấp trong lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu giày. Tuy nhiên, họ vẫn cho rằng Việt Nam bán phá giá, nên chỉ giảm mứ thuế áp dụng từ 72% xuống trung bình 25,7%. Tại CITT, đại diện Hiệp hội Da giày Việt Nam cùng các bộ, ngành và Thương vụ Việt Nam đã tham gia phiên điều trần, trả lời các câu hỏi của CITT và luật sư biện hộ cho SMAC. Phía Việt Nam đã được những người tham dự, đại diện người tiêu dùng và các nhà nhập khẩu Canada ủng hộ. CITT đã ra phán quyết cuối cùng ngày 7/1/2003 khẳng định mặt hàng giày và đế giày không thấm nước có nguồn gốc hoặc được xuất khẩu từ Việt Nam không gây thiệt hại và cũng không đe dọa ngành sản xuất giày Canada, và bác bỏ đơn kiện của SMAC. (Nghĩa Nhân , vnexpress.net/vietnam/kinhdoanh, ngày 9/1/2003) 17 CHƯƠNG II. NỘI DUNG VỤ KIỆN CÁ TRA, CÁ BASA GIỮA VIỆT NAM VÀ MỸ Đối với một số doanh nghiệp Việt Nam, Hiệp định Thương mại ViệtMỹ đã trở thành một cơ hội tiềm năng cho việc xuất khẩu hàng hoá Việt Nam vào thị trường Mỹ. Cơ hội này, nếu căn cứ trên cơ sở thuế suất được giảm thì sẽ mở ra một kênh thị trường thường xuyên lên đến hàng tỷ USD mỗi năm cho các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, mọi việc không đơn giản như chúng ta nghĩ cho dù chúng ta có lợi thế so sánh đi chăng nữa. Mặt hàng cá basa, cá tra đã thu được những thắng lợi ban đầu trên thị trường Mỹ nhưng người Mỹ không chấp nhận điêù đó và họ phản công theo cách mà họ vẫn làm: kiện bán phá giá. Thời gian qua, sự kiện Hiệp hội chủ trại cá nheo Mỹ (CFA) chính thức đệ đơn dày hơn 200 trang khởi kiện 53 doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá cá tra và cá basa vào thị trường Mỹ đã trở thành trung tâm điểm chú ý của dư luận trong và ngoài nước. Vậy sự thật xung quanh vấn đề này là như thế nào? Các doanh nghiệp Việt Nam có bán phá giá cá tra và cá basa không? Vụ kiện này sẽ kết thúc ra sao? Trước hết, chúng ta hãy cùng điểm lại toàn bộ quá trình này kể từ những ngày đầu khi sản phẩm cá tra, cá basa của Việt Nam mới xuất hiện trên thị trường Mỹ để từ đó có một cách nhìn khách quan về vấn đề này. I. THỊ TRƯỜNG MỸ TRƯỚC NGÀY CFA KHỞI KIỆN VASEP (28/6/2002) 1. Nguyên nhân của vụ kiện Thị trường hải sản của Mỹ có sức tiêu thụ rất lớn, các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm có chặt chẽ nhưng không khắt khe bằng EU nên được các doanh nghiệp Việt Nam rất chú ý để thâm nhập vào, đặc biệt là từ sau thời điểm Hiệp Định Thương Mại Việt-Mỹ (BTA) có hiệu lực. Trong 18 các mặt hàng hải sản Việt Nam nhập khẩu vào đây, mặt hàng có khối lượng lớn nhất là tôm sau đó là cá phi-lê đông lạnh, cụ thể hơn là cá tra và cá basa. Trước đây, từ năm 1995 tới năm 1999, khối lượng mặt hàng này xuất sang Mỹ không lớn (năm 1999 xuất khoảng 2000 pound). Chỉ khi Hiệp Định Thương Mại Việt-Mỹ được tiến hành đàm phán và ký kết thì khối lượng mặt hàng này tăng lên rõ rệt. Cuối năm 2000 đầu 2001, khi Mỹ khan hiếm cá nheo, một mặt hàng sản xuất trong nước của Mỹ thì khối lượng nhập khẩu cá tra và cá basa mới tăng vọt lên (năm 2001 lên tới hơn 17000 pound). Các nhà nuôi cá của Mỹ cảm thấy bất an cho tương lai của ngành và họ đã để ý đến con cá tra, cá basa của Việt Nam. Bắt đầu từ lúc này, “cuộc chiến catfish” nổ ra thật sự trên các trận tuyến khác nhau. 2. Định nghĩa “catfish” Thực ra thì catfish là gì vậy? Từ điển Oxford định nghĩa: catfish là cá nước ngọt có các sợi râu giống như ria ở quanh mồm. Về mặt khoa học, Catfish được dùng để chỉ tất cả các loài cá da trơn (không có vẩy) gồm cá trê, cá tra, basa, cá lăng, cá bông lau v.v... Theo hệ thống phân loại ngư học, tất cả các loại cá trên thuộc bộ cá Nheo (Silurifemes) gồm khoảng 2500 đến 3000 loài cá khác nhau, phân bố khắp các vùng nước ngọt, nước mặn và nước lợ trên toàn thế giới. Họ cá Nheo ở Mỹ là Ictaluridae, loại cá nuôi ở Mỹ là Ictalurus punctatus còn cá tra (Pangasius hypophthalmus) và cá basa (Pangasius bocourty) được nuôi phổ biến ở đồng bằng Sông Cửu Long và nhập khẩu vào Mỹ là thuộc họ cá Da trơn Châu á (Pangasidae). Theo thông lệ, cả cá nheo Mỹ và cá tra, cá basa đều có quyền mang tên catfish. Trên thực tế rất nhiều nhà hàng Mỹ đã dùng cái tên này cho món cá mà nguyên liệu là cá tra hay cá basa Việt Nam. Có điều là, khi mà cá Việt Nam nhập vào Mỹ nhiều lên, thay chỗ của cá nheo Mỹ thì các chủ trại nuôi cá của Mỹ không ngồi yên. Tổ chức của họ là Hiệp hội các chủ trại nuôi cá 19 nheo Mỹ (CFA) đã tiến hành nhiều biện pháp cả chính thức lẫn không chính thức nhằm phản đối và chống lại sự có mặt của cá Việt Nam ở Mỹ. 3. Những bước suy tính đầu tiên cho vụ kiện Được CFA tài trợ, Viện Cá Nheo Mỹ tiến hành một chiến dịch quảng cáo rầm rộ với nội dung bài xích cá Việt Nam và kêu gọi sử dụng cá nheo Mỹ, như là: “Đừng bao giờ tin vào sản phẩm catfish ngoại quốc”, rồi thì “Người Mỹ ăn cá nheo Mỹ” và “Catfish nuôi của Mỹ” v.v... tạo ra một không khí thù địch đối với các sản phẩm Việt Nam. Họ tung ra dư luận là cá catfish của Việt Nam rẻ là do nuôi không đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh, do nhân công rẻ mạt, thậm chí nghị sĩ Marion Barry còn tuyên bố trên báo Bưu điện Washington rằng cá nuôi trên sông Mekong có thể chứa cả dư lượng chất độc da cam mà Mỹ rải xuống đây thời kỳ chiến tranh, một lý luận thiếu chứng cớ và hết sức vô lý. Các chủ trại các giàu có của các bang miền Nam nuôi nhiều cá nheo như là Mississipi, Arkansas... tiến hành gây áp lực, lôi kéo các nghị sĩ của bang mình tạo sức ép pháp lý chống lại việc nhập khẩu cá Việt Nam. Một mặt, các chủ trại lợi dụng một quy định của Luật pháp Mỹ, họ đệ đơn xin xem xét lại việc giảm thuế đối với mặt hàng cá Việt Nam nhập khẩu, thậm chí Chủ tịch CFA đệ đơn lên Tổng Thống Mỹ G.Bush yêu cầu ký kết một hiệp định riêng với Việt Nam về mặt hàng này. Hành động này tuy rất cực đoan nhưng nó dựa trên một cơ sở pháp lý là Luật Thương mại Mỹ, cho phép các ngành công nghiệp bị tổn thương đệ đơn lên Uỷ Ban Mậu Dịch Quốc Tế của Mỹ đề nghị Tổng thống loại bỏ một số loại thuế đã được cắt giảm đối với hàng hoá nhập khẩu, nếu cần có thể đàm phán lại một hiệp định riêng cho mặt hàng đó. Rất may yêu cầu ký kết hiệp định riêng bị bác bỏ. Bên cạnh đó họ thuê công ty luật Nathan Associates thu thập thông tin mở chiến dịch tuyên truyền hạ thấp uy tín cá Việt Nam, nhấn 20 mạnh rằng do cá Việt Nam nhập khẩu mà giá cá nheo ở Mỹ giảm 10%, tạo chứng cứ pháp lý để kiện chống bán phá giá. Mặt khác, các nghị sĩ thuộc các bang nuôi nhiều cá nheo cũng tiến hành nhiều hoạt động cản trở đối với các doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu cá vào Mỹ. Ngày 9/2/2001, 12 nghị sĩ Mỹ gồm có 8 thượng nghị sĩ và 4 hạ nghị sĩ đại biểu cho các bang nói trên đã cùng gửi thư cho ông Robert Zoellick, đại diện thương mại Mỹ, kêu ca về việc cá tra và cá basa nhập khẩu từ Việt Nam gây thiệt hại cho nghề nuôi cá nheo Mỹ và kiến nghị Chính phủ Mỹ phải có biện pháp xử trí. Ngày 11/7/2001, các thượng nghị sĩ bang Mississipi Ronnie Shows và Bennie Thompson cùng với thượng nghị sĩ bang Arkansas Marion Barry-vâng, chính người tuyên bố về chất độc da cam trong cá của Việt Nam, đã kêu gọi Quốc hội thông qua dự luật H.R.2439 “Ghi nhãn về nguồn gốc xuất xứ” đối với cá nuôi nhập khẩu trong khâu bán lẻ, với những lập luận công khai bôi nhọ sản phẩm của nước ta. Tuy nhiên, dự luật này không được thông qua do Thượng viện Mỹ đã bác bỏ một dự luật tương tự đối với sản phẩm nông nghiệp nuôi trồng. Sau đó, ngày 15/8/2001, nghị sĩ Mỹ Mike Ross, một trong những người bảo trợ chính cho dự luật H.R.2439 đã gửi thư đề nghị cho biết các biện pháp mà Việt Nam đã thực hiện đối với việc kiểm soát ghi nhãn nhập khẩu các sản phẩm cá xuất khẩu vào Mỹ. Ngày 17/8/2001, Thứ trưởng Bộ Thuỷ sản Việt Nam Nguyễn Thị Hồng Minh đã có thư thông báo về các biện pháp mà Việt Nam đã và đang thực hiện về vấn đề này. Ngày 27/9/2001, Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm của Mỹ (FDA) đề nghị gửi mẫu nguyên con của các loại cá da trơn Việt Nam cho Mỹ và đã được đáp ứng ngay. Nhưng sự việc không chỉ dừng lại ở đó. Ngày 5/10/2001, Hạ viện Mỹ thông qua dự luật H.R.2964 chỉ cho phép sử dụng tên “catfish” cho các loài cá thuộc họ Ictaluriadae, thực chất là cho riêng loài cá nheo Mỹ Ictalurus punctatus. Catfish vốn là tên gọi 21 chung từ lâu của hơn 2500 loài cá khác nhau và được sử dụng trên toàn thế giới. Hành động này của Hạ viện Mỹ có thể nói là là một hành động hiếm thấy xưa nay, thế giới không thể chấp nhận được. Điều này cũng tạo nên tiền lệ nguy hiểm cho các nước khác trong việc đặt ra các rào cản thương mại tương tự. EU đã đặt ra một trường hợp tương tự khi yêu cầu chỉ có các loại cá sardine đánh bắt ở Châu Âu mới đúng là sardine. Không ngừng lại ở đó, nửa đêm 24 rạng ngày 25/10/2001 giờ Việt Nam, Thượng viện Mỹ bỏ phiếu thông qua 35 điều luật bổ sung cho dự luật H.R.2330 về phân bổ ngân sách nông nghiệp năm tài chính 2002, trong đó có điều luật SA2000, quy định FDA không được sử dụng ngân sách cấp để làm thủ tục nhập khẩu các loài cá da trơn mang tên “catfish” trừ phi chúng thuộc họ Ictaluridae. Thực chất là cấm nhập khẩu cá nước ngoài mang tên “catfish”. Và ngày 28/11/2001, điều luật này đã có hiệu lực trong Luật 10776 về Ngân sách Nông nghiệp năm tài chính 2001-2002 được Tổng thống G.Bush ký phê chuẩn. Những người chủ trương chống lại cá da trơn Việt Nam dựa vào lý lẽ rằng catfish ở Mỹ thuộc họ Ictaluridae, trong khi loài nuôi ở Việt Nam có tên Pangasiidae. Tuy nhiên, năm ngoái sau khi xem xét lại thuật ngữ của Hiệp hội Nuôi cá Mỹ, FDA đã cho phép sử dụng tên basa catfish đối với hàng Việt Nam. Dự luật mang tính chất bảo hộ mậu dịch của Quốc hội Mỹ sẽ có hiệu lực tới ngày 30/09/2002 nhưng nghị sĩ một số bang miền Nam nuôi cá catfish của Mỹ đang tìm mọi cách để cấm vĩnh viễn việc nhập catfish từ Việt Nam. Các nhà ngư học khẳng định cá da trơn của Việt Nam cũng là catfish. Trên thực tế, trong khi hô hào ủng hộ tự do thương mại, chính quyền của Tổng thống Bush lại đang cố bảo hộ cho các nhà sản xuất trong nước bằng cách áp dặt những điều lệ vô lý đối với hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài. Để hỗ trợ các nhà nuôi cá Mỹ, chính quyền Liên bang đã quyết 22 định chi 6 triệu USD để mua catfish cho chương trình ăn trưa của các trường học. Việt Nam bắt đầu xuất khẩu cá basa và cá tra sang Mỹ từ năm 1996. Năm 1998, lượng cá file catfish không xương đông lạnh của Việt Nam xuất sang đây mới chỉ vẻn vẹn 260 tấn. Sự thành công bất ngờ này đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho các nhà nuôi catfish Mỹ và họ kết tội rằng, cá Việt Nam thắng lớn chủ yếu nhờ sự thay đổi về chiến lược tiếp thị. Việt Nam thôi không gọi sản phẩm của mình bằng cái tên basa và tra nữa mà bắt đầu tiêu thụ sản phẩm trên thị trường Mỹ với nhãn hiệu basa catfish. Sự xuất hiện của sản phẩm cá da trơn giá rẻ từ Việt Nam đã khiến tổng giá trị catfish bán ra của các nhà nông nghiệp Mỹ giảm mạnh, từ 446 triệu USD năm 2000 xuống còn 385 triệu USD năm 2001. Các nhà nuôi catfish Mỹ càng thêm điêu đứng khi sản phẩm của Việt Nam thường có giá rẻ hơn từ 0,08 đến 1 USD/pound. Phó Chủ tịch điều hành CFA Hugh Warren quy chụp cho những lô cá xuất khẩu của Việt nam này là những sản phẩm rẻ tiền, kém chất lượng mà người ta không thể nào tìm thấy ở một xưởng sản xuất cỡ gia đình như các trại cá của Mỹ. Ông này cho rằng, mặc dù sản phẩm hấp dẫn các nhà hàng, khách sạn, nhưng "những nhà hàng, khách sạn này chỉ quan tâm tới giá cả chứ chẳng để ý tới chất lượng sản phẩm". Những người nuôi cá catfish Mỹ không thể nào chạy đua về giá với sản phẩm nhập khẩu của Việt Nam bởi chỉ chi phí đầu vào (đặc biệt là nhân công và thuế) quá cao. Trước sức ép của cá da trơn đến từ Việt Nam, giá catfish Mỹ đã rớt thê thảm từ 0,74 USD/pound năm 2000 xuống còn 0,58 USD, thậm chí có lúc chỉ khoảng 0,20 USD/pound. Theo Phó Chủ tịch Warren: "mức giá như vậy không đủ bù cho chi phí sản xuất. ít nhất phải bán được 65-70 cent/pound, may ra người nuôi cá mới có thể hoà vốn". Và hành động tối hậu, 3 giờ chiều ngày 28/6/2002 (tức 3 giờ sáng 29/6/2002 giờ Việt Nam), CFA đâm đơn kiện các doanh nghiệp thành viên 23
- Xem thêm -